•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hoạt động nghiên cứu Nhà nước pháp quyền

20/10/2017
Nghiên cứu về Nhà nước, chính trị học, pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như trong quản lý xã hội là một hướng nghiên cứu quan trọng, chủ yếu của Viện Nhà nước và Pháp luật trong suốt 50 năm qua. Đặc biệt, nhu cầu nghiên cứu được đẩy mạnh, gắn liền với sự phát triển của đất nước ta trong giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến nay.

1. Quá trình hình thành và phát triển

Trong thời kỳ 1959-1967, trong Tổ Luật học thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước có Phân tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp quyền do luật sư Trần Công Tường phụ trách. Từ sau khi Viện Luật học được thành lập vào năm 1967, Phân tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp quyền trên được đổi gọi là Tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp quyền.

Thời kỳ 1967-1990, nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề nói trên được tập trung về một đầu mối là Tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Những năm sau đó đơn vị này lần lượt được đổi gọi là Ban Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, Phòng Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật và Phòng nghiên cứu hệ thống chính trị.

Từ năm 1991, thực hiện việc nghiên cứu chuyên sâu nên cơ cấu của Phòng Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật và Phòng nghiên cứu hệ thống chính trị được tách ra: bộ phận nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật được tách thành Phòng nghiên cứu Lịch sử Nhà nước và pháp luật; bộ phận nghiên cứu lý luận pháp luật chuyển sang Phòng Lý luận và xã hội học pháp luật; các bộ phận nghiên cứu lý luận về nhà nước, bộ máy nhà nước, quản lý hành chính và hệ thống chính trị được thực hiện bởi hai đơn vị: Phòng nghiên cứu bộ máy và quản lý nhà nước và Trung tâm Khoa học chính trị.

Vào những năm nửa đầu thập kỷ 90 do yêu cầu đẩy mạnh nghiên cứu vấn đề cải cách hành chính nên Phòng nghiên cứu bộ máy và quản lý nhà nước được đổi tên thành Phòng học nghiên cứu khoa hành chính. Sau đó, năm 2004 Phòng học nghiên cứu khoa hành chính được chuẩn hoá tên gọi thành Phòng Lý luận về Nhà nước và quản lý hành chính.

Gắn với quá trình đổi mới mạnh mẽ tư duy chính trị của Đảng ta, nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, năm 2013 Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã quyết định đổi tên Phòng Lý luận về Nhà nước và quản lý hành chính thành Phòng Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền.Từ đây, nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm của Phòng hướng tới việc giải mã những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản nảy sinh trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và quản lý nhà nước ở nước ta. Phúc đáp các yêu cầu nghiên cứu được giao, lực lượng nghiên cứu đó không ngừng được quan tâm củng cố. Thời kỳ đầu không thể không nhắc đến các nhà nghiên cứu có uy tín như Phan Anh, Phạm Văn Bạch, Phạm Giảng, Vũ Bội Tấn, Vũ Đình Hòe, Tạ Như Khuê, Đàm Văn Hiếu. Trong những năm 60-70 có thêm các cán bộ mới như: Nguyễn Niên, Trần Trọng Hựu, Đào Trí Úc, Trần Thị Tuyết, Phạm Văn Điềm. Từ những năm 80, Phòng được bổ sung một thế hệ cán bộ mới, được đào tạo cơ bản ở trong và ngoài nước như Bùi Xuân Đức, Đinh Thiện Sơn, Dương Đức Dũng, Lê Minh Thông, Nguyễn Thị Việt Hương, Nguyễn Văn Động, Trương Đắc Linh, Phạm Tuấn Khải, Vũ Thư, Lê Hồng Sơn, Lê Quang Thưởng, Mai Thị Minh Ngọc… Những năm gần đây, một số cán bộ của Phòng nghỉ hưu, chuyển công tác sang cơ quan khác hoặc được điều động sang bộ phận khác của Viện, Phòng Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền được tăng cường một số nghiên cứu viên trẻ như Nguyễn Thị Kim Anh, Lê Thương Huyền, Vũ Hoàng Dương.

2. Thành tựu nghiên cứu

Một số công trình nghiên cứu có quy mô lớn đầu tiên về nhà nước pháp quyền đã được triển khai với sự tham gia tích cực, hiệu quả của nhóm nghiên cứu lý luận của Viện Nhà nước và pháp luật. Có thể kể đến Đề tài cấp Nhà nước “Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”, do TSKH Đào Trí Úc làm chủ nhiệm, thực hiện trong thời gian 1998-2000; Đề tài KX 04.02 “Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do GS.TSKH Đào Trí Úc làm chủ nhiệm thực hiện trong năm 2002 đến 2005; Đề tài cấp Nhà nước “ Cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đáp ứng yêu cần của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” Mã số KX.04.08 do PGS.TS. Lê Minh Thông làm chủ nhiệm, thời gian thực hiện năm 2002-2005.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khung lý thuyết về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đó từng bước được nhận diện. Đó chính là tiền đề tạo ra niềm hứng khởi cho đội ngũ cán bộ Viện Nhà nước và pháp luật nói chung, cán bộ Phòng Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền nói riêng thúc đẩy nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh cụ thể của Nhà nước pháp quyền. Nhiều đề tài nghiên cứu đã được thiết kế và triển khai ở các quy mô khác nhau. Đáng lưu ý nhất là 02 Chương trình nghiên cứu cấp Bộ do Viện Nhà nước và pháp luật chủ trì với một hệ thống các đề tài tập trung nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền; lực lượng tham gia chủ chốt các đề tài đó là cán bộ của Phòng Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền, gồm: Đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân và với Đảng Cộng sản trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 do PGS. TS Nguyễn Thị Việt Hương làm chủ nhiệm; Đề tài “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020” do PGS.TS. Nguyễn Như Phát chủ nhiệm năm 2009-2010; Đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền lập pháp của Nhà nước pháp quyền xó hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020” do PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên làm chủ nhiệmnăm 2009-2010; Đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền hành pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011-2020” do PGS.TS. Vũ Thư chủ nhiệm năm 2009-2010; Đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tư pháp của Nhà nước pháp quyền xó hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020” do PGS.TS. Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm năm 2009-2010; Đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tổ chức và kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước trong quỏ trỡnh xõy dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do PGS.TS. Phạm Hữu Nghị chủ nhiệm (năm nào); Đề tài “Đánh giá tổng kết 10 năm xây dựng, phát triển Nhà nước pháp quyền” do PGS.TS Vũ Thư chủ nhiệm năm 2011-2012; Đề tài: “Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với kinh tế thị trường và xó hội dân sự” do TS.Bùi Nguyên Khánh làm chủ nhiệm vào năm 2011-2012; Đề tài: “Tổ chức quyền lực nhà nước ở địa phương trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” do PGS.TS. Vũ Thư làm chủ nhiệm năm 2015-2016...

Bên cạnh đó, nhiều cán bộ của Viện đó dành sự chú ý thích đáng cho việc nghiên cứu các phương diện tổ chức nhà nước và quản lý xã hội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có sự gắn kết với lý luận về Nhà nước pháp quyền. Nhiều bài báo khoa học đó được công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Một số sách chuyên khảo liên quan trực tiếp tới Nhà nước pháp quyền, phản ánh các mức độ tìm hiểu khác nhau về Nhà nước pháp quyền đó được xuất bản. Tiêu biểu là: Chuyên khảo ”Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS. Bùi Xuân Đức do Nxb.Tư pháp xuất bản năm 2004, tái bản có sửa chữa và bổ sung vào năm 2007; Chuyên khảo “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tập thể tác giả dưới sự chủ biên của GS.TSKH. Đào Trí Úc, được Nxb..Chính trị quốc gia ấn hành năm 2005; Chuyên khảo “Mụ hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do GS.TSKH. Đào Trí Úc chủ biên, xuất bản năm 2006 tại Nxb.Tư pháp; Sách chuyên khảo “Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” do đồng chủ biên là PGS.TS. Nguyễn Như Phát và PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương, được Nxb..Khoa học xã hội ấn hành năm 2010…

Kết quả nghiên cứu lý luận về Nhà nước pháp quyền và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xó hội chủ nghĩa Việt Nam khó có thể thấy hết qua các số liệu thống kê đơn thuần. Cũng cần nhiều thời gian hơn nữa để có thể đánh giá hết giá trị của những đóng góp trên phương diện nghiên cứu này.

Tuy nhiên, nhìn nhận tổng thể có thể thấy những thành tựu nghiên cứu là rất đáng kể. Các công trình nghiên cứu đó giúp xác định những đặc trưng mang tính chất “nhất thiết phải có” của Nhà nước pháp quyền và  tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố đặc thù của “Việt Nam” trong mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như những nguyên tắc, yêu cầu, bảo đảm của nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trên các phương diện cụ thể, kết quả nghiên cứu đó chỉ rõ các mối quan hệ chủ đạo trong Nhà nước pháp quyền mà quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần phải giải mã một cách hợp lý. Đó là mối quan hệ “kiềng ba chân”, một “tam giác động lực” giữa Nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự - kinh tế thị trường.

Ở một khía cạnh khác, kết quả nghiên cứu đã đưa ra các kết luận quan trọng về vai trò và vị trí chi phối, có tính chất tối thượng của pháp luật trong phát triển và quản lý xã hội, về sự ràng buộc của pháp luật đối với Nhà nước. Pháp quyền đồng nghĩa với sự kết hợp giữa tổ chức quyền lực nhà nước với hệ thống các quy tắc ứng xử trong xã hội, thể hiện sự kết hợp đúng đắn ý chí của giai cấp cầm quyền với công lý và công bằng. Nhà nước ban hành pháp luật không chỉ để tổ chức và quản lý xã hội mà còn để tổ chức và quản lý chính mình. Pháp luật trở thành công cụ để chế ước, quy định, kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của Nhà nước, để duy trì sự tồn tại của Nhà nước.

Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền cũng đã giúp đưa ra những khuyến nghị cụ thể về mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam .v.v.

Cùng với những kết quả đó đạt được, việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả hoạt động của  bộ máy nhà nước, tiếp tục cải cách nền hành chính nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước và công dân, đảm bảo các quyền con người, quyền công dân…. đang là tâm điểm của lĩnh vực nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền, bộ máy nhà nước và quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Nhiệm vụ này đang đặt ra cho đội ngũ cán bộ Viện Nhà nước và pháp luật nói chung, các cán bộ nghiên cứu của Phòng nghiên cứu Nhà nước pháp quyền nói riêng những định hướng nghiên cứu mới với sự tự tin và những thách thức mới.

Bên cạnh những kết quả nghiên cứu đáng tự hào kể trên, một trong những thành tựu khoa học nổi bật của đội ngũ nghiên cứu viên Viện Nhà nước và pháp luật mà lực lượng chủ chốt là Phòng nghiên cứu Nhà nước pháp quyền trong suốt 50 năm qua là hoạt động tư vấn chính sách pháp luật, thể hiện tập trung ở những đóng góp xây dựng các bản Hiến pháp của đất nước.

Ngay sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (năm 1975) và tổng tuyển cử, thống nhất nhà nước (năm 1976), Viện Luật học đó tổ chức nghiên cứu những vấn đề cơ bản về Hiến pháp nhằm phúc đáp cho nhiệm vụ ban hành bản Hiến pháp mới cho thời kỳ cả nước đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội (Hiến phỏp năm 1980). Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong cuốn: “Hiến pháp xã hội chủ nghĩa (một số vấn đề lý luận cơ bản)” do Nxb.Khoa học xã hội ấn hành năm 1977, với các chương do các nhà nghiên cứu của Viện trực tiếp thực hiện như: “Những nguyên tắc hiến pháp về chế độ chính trị” (Nguyễn Ngọc Minh), “Những nguyên tắc tổ chức nhà nước chuyên chính vô sản: nguyên tắc quyền lực tập trung trong tay nhân dân và nguyên tắc tập trung dân chủ” (Tạ Như Khuê), v.v.. Bên cạnh đó, có nhiều bài nghiên cứu đơn lẻ được đăng trên Tạp chí Luật học và các Tạp chí chuyên ngành như: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và vấn đề xây dựng Hiến pháp” của Quang Như; “Việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Hội đồng Bộ trưởng và mối quan hệ giữa hai cơ quan đó với nhau trong dự thảo Hiến pháp mới” của Ngô Hướng Đàm…

Đặc biệt, từ sau khi bản Hiến pháp năm 1980 được ban hành, cùng với sự tăng cường lực lượng nghiên cứu cho Phòng Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, Viện đó chủ trì biên soạn Bộ sách “Bình luận Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” gồm hai tập, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1985. Từ góc độ của  khoa học pháp lý, bộ sách đó đi sâu phân tích ý nghĩa và nội dung của Hiến pháp, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của các chế định; đặc biệt là làm sáng tỏ những nội dung mới của các chế định Hiến pháp năm 1980. Công trình nghiên cứu này đã được giới nghiên cứu học thuật và các nhà quản lý thực tiễn đánh giá cao, góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến các nội dung của Hiến pháp năm 1980, đưa Hiến pháp đi vào cuộc sống.

Như đã phản ánh ở trên trong mục II Phần Thứ hai của cuốn Kỷ yếu này, Hiến pháp năm 2013 ra đời gắn liền với đóng góp nhất định của các chuyên gia của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nói chung, Viện Nhà nước và pháp luật nói riêng. Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, các cán bộ nghiên cứu của Viện Nhà nước và Pháp luật tiếp tục nghiên cứu phục vụ việc triển khai thực hiện Hiến pháp trên thực tế. Năm 2014, Viện đã thực hiện nhiệm vụ cấp Bộ: “Báo cáo thường niên: Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013” do PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương làm Chủ nhiệm. Viện Nhà nước và Pháp luật đã tổ chức Hội thảo khoa học “Kết quả và vấn đề triển khai thi hành Hiến pháp sửa đổi năm 2013”. Hội thảo đã nhằm tuyên truyền, phổ biến, thực hiện Hiến pháp sửa đổi năm 2013; thảo luận về mức độ thành công của Hiến pháp năm 2013 và tìm ra những vấn đề cần tiếp tục làm rõ trong Hiến pháp năm 2013.

Như vậy, từ phương diện tư vấn, nghiên cứu về Hiến pháp, những đóng góp của Viện và Phòng Nghiên cứu Nhà nước pháp quyền là rất đáng trân trọng. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về Hiến pháp đã được làm sáng tỏ, cung cấp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trước hết cho Ban biên tập và Ủy ban sửa đổi, bổ sung các bản Hiến pháp những thông tin hữu ích, góp phần làm nên giá trị của các bản Hiến pháp ở nước ta.

3. Định hướng nghiên cứu nhà nước pháp quyền trong thời gian tới

- Nghiên cứu triết lý (hay chủ thuyết) về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền: Học thuyết Nhà nước pháp quyền; các mô hình hiện thực về Nhà nước pháp quyền; kinh nghiệm quốc tế về xây dựng Nhà nước pháp quyền; đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; mô hình tổng thể của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các mối quan hệ trong chế độ Nhà nước pháp quyền; vai trò và chức năng của Nhà nước và xã hội trong Nhà nước pháp quyền; giá trị pháp quyền trong tương quan với các giá trị xã hội khác….

- Nghiên cứu xây dựng các luận cứ khoa học tiếp tục đổi mới bộ máy nhà nước và quản lý nhà nước, trong đó dành điểm nhấn cho các nội dung: làm sáng tỏ tính phổ biến và đặc thù trong nội hàm nguyên tắc “Quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; làm sáng tỏ nội dung nguyên tắc pháp quyền trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo; làm sáng tỏ mô hình tự quản địa phương và khuyến nghị mô hình tổ chức chính quyền địa phương hợp lý ở Việt Nam;

- Tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ thống chính trị và các mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong hệ thống chính trị; xây dựng nhận thức tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị trong bối cảnh Nhà nước pháp quyền….

- Nghiên cứu làm sáng tỏ khía cạnh lý luận và khả năng ứng dụng các giá trị nhân loại về quyền con người, tự do, dân chủ vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp pháp lý cụ thể để hiện thực hóa tư duy chính trị của Đảng ta và triển khai thực hiện các quy định cụ thể của Hiến pháp năm 2013 về vấn đề nói trên.