•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hoạt động nghiên cứu luật quốc tế

20/10/2017
Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học về luật quốc tế luôn được xác định và tiến hành phù hợp với các giai đoạn phát triển của các thời kỳ cách mạng dân tộc, đấu tranh thống nhất, xây dựng và phát triển đất nước.

1. Quá trình hình thành và phát triển 

Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học về luật quốc tế luôn được xác định và tiến hành phù hợp với các giai đoạn phát triển của các thời kỳ cách mạng dân tộc, đấu tranh thống nhất, xây dựng và phát triển đất nước.

Nghiên cứu về luật quốc tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện Nhà nước và Pháp luật hiện nay và nhiệm vụ này được tiến hành ngay từ khi thành lập Viện luật học 1967. Trước khi Viện Luật học được thành lập, luật quốc tế đã được nghiên cứu trong khuôn khổ Tổ luật học thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước (mặc dù chưa có tên trong cơ cấu của Tổ luật học như những chuyên ngành khác).

Phòng Luật quốc tế được chính thức thành lập vào những năm 80 của thế kỷ XX. Cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Luật quốc tế thời kỳ đầu đều được đào tạo tại Liên Xô (cũ). Đó là các đồng chí Nguyễn Văn Luật, Hoàng Ngọc Giao, Nguyễn Thiên Trinh, Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Thế Trường,… Năm 1988 đồng chí Nguyễn Trung Tín được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Luật quốc tế, từ năm 1991 đồng chí Đinh Ngọc Vượng đảm nhiệm vị trí trưởng phòng, từ năm 2009 đồng chí Lê Mai Thanh đảm nhiệm vị trí trưởng phòng. 

Hiện nay Phòng Luật Quốc tế bao gồm các cán bộ nghiên cứu sau: TS. Lê Mai Thanh (Trưởng phòng), Ths. Nguyễn Thu Hương, Ths. Nguyễn Tiến Đức, Ths. Phạm Hồng Nhật

2. Thành tựu nghiên cứu và đào tạo của chuyên ngành luật quốc tế

Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 60, các “Tập nghiên cứu Nhà nước và pháp quyền” do Tổ Luật học soạn thảo đã công bố các bài nghiên cứu về luật quốc tế của các tác giả Phạm Văn Bạch, Phạm Thành Vĩnh, Nguyễn Văn Lưu. Các bài viết đã nghiên cứu những vấn đề pháp lý quốc tế phục vụ công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, về sự đóng góp của cách mạng dân tộc Việt Nam vào quá trình phát triển của Luật quốc tế như: “Cách mạng tháng Tám và quá trình hình thành, phát triển của khái niệm quyền dân tộc cơ bản”, “Kỷ niệm 10 năm ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ”, “Nhắc lại vụ Lliên hợp quốc cử đoàn thanh sát đến miền Nam Việt Nam để phê phán một số luận điểm pháp lý xét lại gây ảo tưởng về Liên hợp quốc trong việc bảo vệ hòa bình thế giới”, “Về bức giác thư pháp lý” của Hội Luật gia Mỹ đối với Việt Nam…

Cuối những năm 60, đầu những năm 70 các công trình nghiên cứu về luật quốc tế do các nhà khoa học của Viện Luật học thực hiện chủ yếu bàn tới những vấn đề pháp lý quốc tế như: Hội nghị Paris về Việt Nam, về việc thực hiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Giới nghiên cứu Luật quốc tế ở Việt Nam thường nhắc tới sự đóng góp của cách mạng nước ta vào quá trình phát triển của pháp luật quốc tế thông qua một số vấn đề được ghi nhận trong nội dung Hiệp định Giơ ne vơ và Hiệp định Paris về Việt Nam: Các quyền dân tộc cơ bản, quyền dân tộc tự quyết, về trách nhiệm pháp lý quốc tế của nước gây chiến tranh xâm lược, về nghĩa vụ của các quốc gia tuân thủ nguyên tắc Pacta Sunt Servanda, các khía cạnh của Luật quốc tế hiện đại. Các bài viết của tác giả trong và ngoài viện về những chủ đề này được đăng tải tại Tạp chí Luật học - nay là Tạp chí Nhà nước và pháp luật…

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Việt Nam đã bước sang một giai đoạn phát triển mới. Các công trình nghiên cứu về Luật quốc tế tập trung vào những vấn đề quan trọng của Luật quốc tế, vào việc Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc, pháp luật nội khối giữa các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Hàng loạt bài viết của cán bộ Viện đã nghiên cứu về cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, hợp tác kinh tế giữa các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế các nước XHCN (khối SEV hay CMEA - Council of Mutual Economic Assistance), về hiệp định tương trợ tư pháp cũng như các Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước XHCN.

Năm 1984 Viện đã xuất bản cuốn “Liên hợp quốc: những vấn đề pháp lý cơ bản” gần 400 trang - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Cuốn sách đã trình bày quá trình hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức, hoạt động của Liên hợp quốc. Đây là công trình giới thiệu đầy đủ nhất về Liên hợp quốc trong các tư liệu pháp lý quốc tế của Việt Nam xuất bản thời kỳ này. Cho đến nay, cuốn sách vẫn là “cẩm nang” cho độc giả quan tâm tìm hiểu về Liên hợp quốc. Trong giai đoạn này, cán bộ nghiên cứu của Viện cũng đã chú trọng đến nghiên cứu những vấn đề chủ quyền quốc gia, biên giới, lãnh thổ và luật biển quốc tế; vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, các khía cạnh pháp lý của việc bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế.

Các tác giả Nguyễn Ngọc Minh, Phạm Giảng, Vũ Phi Hoàng đã nghiên cứu sâu về luật biển quốc tế. Năm 1982, Hội nghị quốc tế lần thứ III của Liên hợp quốc đã kết thúc bằng việc thông qua Công ước quốc tế về luật biển. Trong quá trình xây dựng công ước này, cùng với các tranh luận của giới luật học quốc tế các nước, các nhà khoa học của Viện cũng đã nêu quan điểm khoa học về các vấn đề luật biển quốc tế, về các vùng biển thuộc chủ quyền và các vùng biển thuộc đặc quyền của quốc gia ven biển, về các hải đảo, eo biển... Những quan điểm khoa học đó đã đóng góp phần không nhỏ vào quan điểm của đại diện của Việt Nam tham gia Hội nghị Luật biển lần thứ III. Sau khi Công ước Luật biển được thông qua, GS. Nguyễn Ngọc Minh đã công bố cuốn sách “Luật biển” trong đó phân tích những nội dung quan trọng của Luật biển quốc tế hiện đại. Cuốn sách này đã đuợc dịch sang tiếng Nga và Nhà xuất bản Khoa học Matx-cơ-va phát hành năm 1984. Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực luật quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam được công bố ở Liên Xô (cũ).

Những vấn đề thời sự khác của khoa học luật quốc tế luôn được phản ánh trên các số Tạp chí Luật học (Tạp chí Nhà nước và pháp luật) như: Trật tự kinh tế thế giới mới, luật quốc tế nhân đạo, luật ngoại giao, luật lãnh sự, luật thương mại quốc tế.

Cho đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX hướng nghiên cứu luật quốc tế vẫn bám sát những chính sách đối ngoại được xác định dựa trên cơ sở của Hiến pháp và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, cũng đã xuất hiện những công trình nghiên cứu các vấn đề nổi cộm trong đời sống sinh hoạt quốc tế và trong giai đoạn đổi mới của Việt Nam như: Nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữa các quốc gia có chế độ chính trị xã hội khác nhau, liên kết kinh tế xã hội chủ nghĩa, các nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản…

Trong quá trình xây dựng Hiến pháp 1992, những vấn đề lý luận về pháp luật quốc tế cũng được bàn thảo rộng rãi tại các hội thảo khoa học, trên các tạp chí chuyên ngành, trên các tờ báo lớn như Nhân Dân, Quân đội nhân dân.

Tiếp đến giai đoạn hợp tác, hội nhập quốc tế 1995 yêu cầu nghiên cứu pháp luật quốc tế tập trung vào các vấn đề của Công pháp quốc tế bao gồm hợp tác song phương qua việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, hợp tác khu vực trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Các vấn đề thuộc lĩnh vực tư pháp quốc tế (như vấn đề địa vị pháp lý của người Việt Nam, vấn đề xung đột pháp luật và các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật điều chỉnh mối quan hệ kinh doanh có yếu tố nước ngoài…) cũng được chú trọng nghiên cứu.  Cuốn sách “Những vấn đề lý luận cơ bản của Luật quốc tế” do cán bộ nghiên cứu của Viện biên soạn (NXB. Chính trị quốc gia 1995) là kết quả nghiên cứu cơ bản, góp phần vào sự phát triển của khoa học luật quốc tế ở Việt Nam. Tài liệu này cũng được dùng làm tài liệu giảng dạy sau đại học của Viện Nhà nước và pháp luật.

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, các nhà khoa học chuyên ngành luật quốc tế của Viện như Đinh Ngọc Vượng, Nguyễn Trung Tín, Lê Mai Thanh đã công bố nhiều bài viết tại Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí chuyên ngành khác cũng như các ấn phẩm chuyên khảo của Viện và các tài liệu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo. Chủ đề tập trung vào phân tích chính sách đối ngoại của Nhà nước ta và vai trò của pháp luật quốc tế; những vấn đề cấp bách của pháp luật quốc tế; vấn đề cải tổ Liên hợp quốc; bảo đảm lợi ích, chủ quyền quốc gia trong quá trình hội nhập toàn cầu thông qua WTO, hội nhập khu vực thông qua ASEAN; địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thị trường mở cửa; vấn đề giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế, vấn đề công nhận và cho thi hành phán quyết của tòa án, trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình hợp tác thương mại quốc tế…

Giai đoạn này, bên cạnh công tác nghiên cứu, đại diện của Viện (PGS.TS Đinh Ngọc Vượng) đã tích cực tham gia trong nhóm chuyên gia (theo sự phân công của Hội Luật gia Việt Nam) cùng với luật sư Hoa Kỳ chuẩn bị hồ sơ vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam/dioxin chống lại 37 công ty hóa chất Hoa Kỳ - nhà thầu chính phủ Mỹ trong thời kỳ chiến tranh tại Việt Nam.

Giai đoạn Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ngoài các đề tài cấp cơ sở do các cá nhân thực hiện theo định hướng trên, đề tài cấp Bộ nổi bật có sự tham gia của các cán bộ nghiên cứu phòng Luật Quốc tế (Đinh Ngọc Vượng, Lê Mai Thanh, Nguyễn Linh Giang, Nguyễn Thu Hương) bao gồm: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản của việc điều chỉnh pháp luật Việt Nam phù hợp với pháp luật quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” do PGS.TS Đinh Ngọc Vượng làm chủ nhiệm năm 2008; Đề tài: “Pháp luật các nước ASEAN” do PGS.TS Nguyễn Như Phát làm chủ nhiệm 2008, Đề tài: “Giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài- lý luận chung và kinh nghiệm một số nước” do PGS.TS Nguyễn Trung Tín làm chủ nhiệm năm 2009.

Trong bối cảnh Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế quốc tế với tư cách thành viên WTO và các Hiệp định thương mại tự do, hoàn tất hầu hết công tác phân định cắm mốc biên giới đất liền, đạt được thỏa thuận phân định một số vùng biển, nhiệm vụ nghiên cứu pháp luật quốc tế vẫn tiếp tục triển khai một số hướng nghiên cứu truyền thống của Viện. Bên cạnh đó, phòng Luật Quốc tế đặc biệt chú trọng nghiên cứu pháp luật hội nhập kinh tế quốc tế với việc đánh giá tác động cũng như yêu cầu của các Hiệp định thương mại đối với thể chế pháp luật Việt Nam, luật biển quốc tế, luật nhân quyền quốc tế và pháp luật kinh doanh quốc tế.

Trong những năm gần đây, các công bố của các nhà khoa học Luật quốc tế của Viện tại Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí chuyên ngành luật khác, sách chuyên khảo theo nhóm chủ đề: Các phương thức pháp lý giải quyết yêu sách tranh chấp trên Biển Đông; yêu cầu cơ bản của các Hiệp thương mại tự do và định hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam; các biện pháp phòng vệ thương mại trong tiến trình hội nhập; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thị trường mở cửa tự do; bảo đảm thực thi các quyền cơ bản của con người theo luật nhân quyền quốc tế…của các tác giả  Lê Mai Thanh, Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Tiến Đức, Phạm Hồng Nhật.

Đặc biệt thời điểm Trung Quốc tiến hành neo đậu giàn khoan HD 981tại thềm lục địa, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền chủ quyền của Việt Nam năm 2014 và khi Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển đưa ra phán quyết trong vụ Philippine kiện Trung Quốc tháng 7/2016, các bài báo “Phương thức pháp lý áp dụng đối với yêu sách/hành vi của Trung Quốc tại Biển Đông” công bố song ngữ, bài  “Tòa trọng tài và phán quyết về giải thích và áp dụng Công ước Luật Biển” của tác giả Lê Mai Thanh cũng như chùm bài  viết theo chủ đề luật biển quốc tế, an ninh và tự do hàng hải của tác giả Lê Mai Thanh, Nguyễn Tiến Đức đã đáp ứng yêu cầu nghiên cứu tình huống cấp bách. Ngoài ra, ý kiến tư vấn “Phương thức pháp lý áp dụng đối với yêu sách của Trung Quốc trong vụ HD 981” của phòng luật quốc tế trình lên Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội vào thời điểm xảy ra vụ việc đã được sử dụng trong quan điểm chung của Viện Hàn lâm.

Bên cạnh các đề tài cấp cơ sở của phòng Luật quốc tế theo hướng đã trình bày, đề tài cấp Bộ và đề tài hợp tác với các đối tác nước ngoài bao gồm: Đề tài hợp tác với Viện nghiên cứu lập pháp Hàn Quốc “Hiệp định thương mại tự do Việt Hàn – góc nhìn pháp lý” năm 2011, Đề tài hợp tác với Viện KAS (CHLB Đức) về “Ủy ban Liên chính phủ về quyền con người ASEAN” năm 2013, Đề tài cấp Bộ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thế giới về xây dựng Nhà nước pháp quyền” năm 2012, “Hoàn thiện Pháp luật Việt Nam thích ứng yêu cầu Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương” năm 2016  và “Quy chế pháp lý đảo và vùng biển thuộc các quần đảo của Việt Nam tại Biển Đông” năm 2017 do TS. Lê Mai Thanh làm chủ nhiệm.

Các sách chuyên khảo được xuất bản bao gồm: Pháp luật quốc tế về quyền con người; Cơ chế Quốc tế và khu vực về quyền con người do GS. Võ Khánh Vinh, TS. Lê Mai Thanh,  đồng chủ biên (Nhà xuất bản Khoa học  Xã hội, 2014). Ngoài ra,  các nhà khoa học chuyên ngành Luật quốc tế của Viện còn tham gia viết giáo trình Tư pháp quốc tế, Công pháp quốc tế được dùng làm tài liệu giảng dạy tại các cơ sở đào tạo đại học.   

Ngoài nhiệm vụ nghiên cứu, cán bộ Viện thuộc phòng Luật Quốc tế cũng đã  tích cực đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật Việt Nam có nội dung  liên quan luật quốc tế như Dự thảo Luật Quốc tịch, Luật điều ước quốc tế, Luật Ngoại thương…

Các nhà khoa học chuyên ngành Luật quốc tế cũng tích cực tham gia giảng dạy sau đại học (môn Luật quốc tế) cho các lớp cao học luật do Viện Nhà nước và Pháp luật (cơ sở đào tạo cho đến năm 2010) cũng như tham gia giảng dạy đại học (môn Công pháp và môn Tư pháp quốc tế) tại các cơ sở đào tạo Luật hàng đầu cả nước như Trường Luật Hà Nội, trường Luật thành phố Hồ Chí Minh, Khoa luật Đại học Quốc gia, Đại học an ninh nhân dân…

Từ năm 2010 đến nay, hoạt động đào tạo của Viện chấm dứt và các thành viên của phòng Luật Quốc tế tiếp tục giảng dạy tại các cơ sở đào tạo khác như Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và các trường đại học có chuyên ngành luật học.

3. Phương hướng nghiên cứu trong giai đoạn tiếp theo

 Phương hướng nghiên cứu trong lĩnh vực luật quốc tế vẫn là nghiên cứu lý luận về công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, các định hướng sẽ đươc xác định và điều chỉnh tuơng ứng với thực tế biến động trong đời sống sinh hoạt quốc tế, tiến trình hợp tác toàn cầu và khu vực, phù hợp với đường lối đối ngoại cũng như chính sách phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Cụ thể là:

  •  Những vấn đề pháp lý của quá trình hợp tác song phương với các đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu.
  •  Những vấn đề pháp lý quốc tế của việc bảo đảm hòa bình và an ninh con người;
  • Những phương thức pháp lý giải quyết các yêu sách tranh chấp tại Biển Đông;
  • Những vấn đề lý luận về tư pháp quốc tế;

Với nguồn nhân lực còn thiếu trong khi nhiệm vụ năng nề, Phòng Luật quốc tế sẽ tiến hành nghiên cứu trên cơ sở khai thác mạng lưới các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài Viện trong lĩnh vực luật quốc tế. Một trong những phương thức kết nối với nhân lực ngoài Viện  thông qua Hội Luật Quốc tế Việt Nam được thành lập từ cuối năm 2016 (tất cả cán bộ phòng Luật Quốc tế là thành viên của Hội và TS Lê Mai Thanh là ủy viên Ban chấp hành của Hội nghề nghiệp này).

Trong lĩnh vực Công pháp quốc tế, các công bố của Việt Nam còn ít và chưa đa dạng về chủ đề. Các chuyên gia luật quốc tế làm việc ở nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau. Khả năng tập hợp và giải quyết các vấn đề thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực công pháp quốc tế chưa cao. Cho đến nay, vấn đề Biển Đông, vấn đề biên giới đất liền phía nam cần nghiên cứu tìm kiếm giải pháp pháp lý phù hợp. Biên giới lãnh thổ, ngoại giao và lãnh sự gần như là lĩnh vực độc quyền thông tin của Bộ Ngoại giao; trong khi đó các Bộ ngành liên quan cũng có bộ phận chuyên trách. Sự thiếu cơ chế hữu hiệu phối hợp; sự thiếu kênh chia sẻ thông tin chính thức gây khó khăn lớn cho công tác nghiên cứu công pháp quốc tế của Viện. 

 

Các lĩnh vực khác của Công pháp quốc tế (ngoài mảng kinh tế quốc tế do các vụ chuyên ngành của các Bộ liên quan nghiên cứu nhằm phục vụ đàm phán) cũng chưa được chú trọng nghiên cứu. Trong giai đoạn tới, các vấn đề pháp luật quốc tế về xây dựng biển đông hòa bình, ngăn chặn tác động của biến đổi khí hậu, hợp tác quốc tế trong bảo hộ công dân ở nước ngoài, khuôn khổ pháp lý mới của hợp tác kinh tế khu vực… sẽ đòi hỏi nghiên cứu sâu và cụ thể.

Trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế, pháp luật kinh doanh quốc tế cũng có nhiều vấn đề cấp bách, cần có sự lỗ lực của các chuyên gia nghiên cứu về tư pháp quốc tế của Việt Nam. Hợp tác và hội nhập sâu rộng cùng với việc tăng cường ký kết các Hiệp định thương mại tự do, mở cửa thị trường dẫn tới khả năng gia tăng hiện diện thể nhân cũng như pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam kèm theo đó là sự đa dạng hóa các mối quan hệ dân sự, kinh doanh có yếu tố nước ngoài. Vậy xu hướng nghiên cứu giai đoạn tiếp theo cần nhận diện các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế mới đối với các giao dịch phổ biến cũng như các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đối với các giao dịch mới xuất hiện trong thời đại công nghệ số như hiện nay.

 

(Nguồn: Sách "Viện Nhà nước và Pháp luật - 50 năm xây dựng và phát triển")