•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hoạt động nghiên cứu lý luận về nhà nước, pháp luật và lịch sử nhà nước và pháp luật

20/10/2017
Phân tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp quyền ra đời từ khi Tổ Luật học (tiền thân Viện Nhà nước và Pháp luật) được thành lập năm 1959. Cùng với quá trình xây dựng và trưởng thành của Viện Nhà nước và pháp luật, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật cũng đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau.

1.Quá trình hình thành và phát triển

Phân tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp quyền ra đời từ khi Tổ Luật học (tiền thân Viện Nhà nước và Pháp luật) được thành lập năm 1959. Cùng với quá trình xây dựng và trưởng thành của Viện Nhà nước và pháp luật, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật cũng đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau. Mỗi giai đoạn đó đều đánh dấu những thay đổi quan trọng về nhiệm vụ nghiên cứu, lực lượng nghiên cứu và cách thức tổ chức nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ nghiên cứu. Đồng thời, mỗi giai đoạn cũng để lại những dấu ấn quan trọng trong thành tựu nghiên cứu của Viện Nhà nước và pháp luật và của khoa học lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

Năm 1967, với việc thành lập Viện Luật học, Phân tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp quyền được nâng lên thành Tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật và sau đó là Ban Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật.

Ngày 13/05/1986 Viện Luật học được đổi tên là Viện Nhà nước và pháp luật. Trong cơ cấu của Viện Nhà nước và pháp luật lúc đó có Phòng Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Năm 1990 được đổi tên là Phòng nghiên cứu Hệ thống chính trị, trong đó có một bộ phận chuyên gia nghiên cứu Lịch sử nhà nước và pháp luật. Năm 1991, bộ phận nghiên cứu Lịch sử nhà nước và pháp luật được tách riêng, tổ chức thành Phòng nghiên cứu Lịch sử nhà nước và pháp luật. Đến năm 2005 theo Quyết định số 989/QĐKHXH, ngày 14/6/2005 của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã quyết định thành lập Phòng Lịch sử nhà nước và pháp luật và Phòng Lý luận và Xã hội học pháp luật.

Đến năm 2009 theo Quyết định số 929/QĐ-KHXH, ngày 8/7/2009 của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Phòng Lý luận và Xã hội học pháp luật đã sáp nhập với Phòng Lịch sử nhà nước và pháp luật thành Phòng Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật. Tên gọi đó được suy trì cho đến nay.

Tham gia nghiên cứu lĩnh vực này ban đầu là các nhà các nhà nghiên cứu có uy tín lúc bấy giờ như  Trần Công Tường, Vũ Đình Hòe, Đinh Gia Trinh, Vũ Bội Tấn, Vũ văn Hoàn, Nguyễn Ngọc Minh, Phan Anh, Phạm Văn Bạch, Phạm Giảng, Vũ Bội Tấn, Tạ Như Khuê, Đàm Văn Hiếu. Thời kỳ những năm 60-70 có thêm các cán bộ mới như: Nguyễn Niên, Trần Trọng Hựu, Đào Trí Úc, Trần Thị Tuyết, Phạm Văn Điềm. Những năm 80 được bổ sung một thế hệ cán bộ được đào tạo ở trong và ngoài nước như Võ Khánh Vinh, Bùi Xuân Đức, Đinh Thiện Sơn, Dương Đức Dũng, Lê Minh Thông, Nguyễn Thị Việt Hương, Nguyễn Văn Động, Trương Đắc Linh, Phạm Tuấn Khải, Vũ Thư, Lê Hồng Sơn. Đa số các cán bộ giai đoạn này là những người tốt nghiệp ngành luật chính quy chuyên ngành luật Hiến pháp - Hành chính ở các nước XHCN như Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức được tăng cường về Viện và được bố trí về phòng chuyên môn – Phòng Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Có thể nói, về mặt tổ chức cán bộ, đây là giai đoạn mà lực lượng cán bộ nghiên cứu về lĩnh vực này được tăng cường mạnh mẽ nhất. Lực lượng này sau này đều trưởng thành và trở thành đội ngũ nghiên cứu chủ lực về lĩnh vực luật hiến pháp, luật hành chính của Viện. Đến giai đoạn những năm 2000 lực lượng nghiên cứu được tiếp tục bổ sung với những cán bộ nghiên cứu trẻ như: Cao Việt Thăng, Trương Vĩnh Khang, Phan Thanh Hà.

2. Thành tựu nghiên cứu của chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật

Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu đã đặt ra phạm vi nghiên cứu của lĩnh vực lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật hết sức rộng lớn, bao gồm những bộ phận như: nghiên cứu lý luận về nhà nước, nghiên cứu lý luận về pháp luật, nghiên cứu về xã hội học pháp luật, nghiên cứu về lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, nghiên cứu về lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới…

2.1. Những thành tựu nghiên cứu lý luận về nhà nước

2.1.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học

Thời kỳ những năm sáu mươi - bảy mươi của thế kỷ trước, tuy Viện Nhà nước và Pháp luật mới được tổ chức và còn non trẻ nhưng các cán bộ của Viện đã quan tâm nghiên cứu về lý luận nhà nước, về Hiến pháp phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Các vấn đề như: về bản chất nhà nước, chế độ chính trị, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc pháp chế XHCN trong tổ chức quyền lực nhà nước của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; tính bất hợp pháp của chính quyền Sài Gòn, khẳng định Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam, v.v.., đã được tập trung nghiên cứu. Trong đó kết quả nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước trong quá trình sửa đổi và ban hành Hiến pháp năm 1959 và tiếp sau đó là nghiên cứu làm rõ nội dung các chế định của Hiến pháp, việc triển khai thi hành Hiến pháp đã được công bố trong tập “Nghiên cứu Nhà nước và pháp quyền” ra đều đặn hàng năm do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành.

Từ năm 1967, với việc thành lập Viện Luật học, công tác nghiên cứu lý luận về Nhà nước và pháp luật, pháp luật về tổ chức bộ máy chính quyền được đẩy mạnh. Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật và việc vận dụng trong điều kiện đặc thù Việt Nam như về bản chất chế độ Nhà nước XHCN ở miền Bắc, bản chất của Nhà nước kiểu mới ở nước ta, khẳng định tính ưu việt của chế độ Nhà nước XHCN, phê phán các quan điểm tư sản về Nhà nước và pháp luật. Do hoàn cảnh chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc lan rộng, Viện phải đi sơ tán (về Hà Tây) nên hoạt động nghiên cứu cũng gặp nhiều khó khăn. Tập “Nghiên cứu Nhà nước và pháp quyền” không còn được xuất bản nữa, vì vậy các công trình nghiên cứu của các cán bộ của Viện được chuyển sang công bố trên tập sách “Nhà nước và Pháp luật” của Hội Luật gia Việt Nam do Nhà xuất bản Lao Động ấn hành.

Từ sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, hoạt động nghiên cứu của Viện nói chung, hoạt động nghiên cứu về nhà nước, về Hiến pháp, về quản lý nhà nước càng được tăng cường. Viện cũng đã có một tờ tạp chí làm nơi công bố các công trình nghiên cứu là tạp chí “Luật học” (từ năm 1972).

Năm 1978 Viện cho xuất bản cuốn sách “Những vấn đề pháp lý qua Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng” phân tích những vấn đề pháp lý đặt ra qua những đường lối, quan điểm mà đại hội đề ra như vấn đề bản chất, đặc điểm của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đi lên CNXH trên phạm vi cả nước, về chế độ làm chủ XHCN, cơ chế tổ chức bộ máy nhà nước, về tăng cường pháp chế XHCN.

Trong thời gian này, một nội dung nghiên cứu lớn về nhà nước và Hiến pháp là nghiên cứu xây dựng chế độ Nhà nước và cách thức tổ chức bộ máy nhà nước của nước Việt Nam thống nhất đi lên CNXH. Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong cuốn: “Hiến pháp xã hội chủ nghĩa (một số vấn đề lý luận cơ bản)” do NXB. Khoa học xã hội án hành năm 1977. Đáng chú ý là các chương “Những nguyên tắc Hiến pháp về chế độ chính trị” (Nguyễn Ngọc Minh), “Những nguyên tắc tổ chức Nhà nước chuyên chính vô sản: nguyên tắc quyền lực tập trung trong tay nhân dân và nguyên tắc tập trung dân chủ” (Tạ Như Khuê), v.v.. Đây là công trình góp phần vào việc chuẩn bị cho việc ban hành Hiến pháp mới sau khi đất nước được thống nhất – Hiến pháp 1980.

 Các bài viết như: “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và vấn đề xây dựng Hiến pháp” của Quang Như, “Việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Hội đồng Bộ trưởng  và mối quan hệ giữa hai cơ quan đó với nhau trong dự thảo Hiến pháp mới” của Ngô Hướng Đàm... đã có những ý kiến đóng góp nhất định vào quá trình xây dựng dự thảo Hiến pháp năm 1980. Từ sau khi ban hành Hiến pháp năm 1980, việc tổ chức nghiên cứu lý luận về  nhà nước được đẩy mạnh một bước đáng kể. Giai đoạn này Viện đã chủ trì hai đề tài nghiên cứu lớn cấp Nhà nước mà Viện được giao chủ trì là “Nhà nước quản lý trong cơ chế đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”, ký hiệu A5 (thời gian thực hiện 1984-1986) và “Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trong thời kỳ quá độ”, ký hiệu A8, (thời gian thực hiện 1987-1988 và 1989-1990).

Từ khi đất nước ta tiến hành đổi mới mạnh mẽ (được tiến hành từ năm 1986), sự nghiệp nghiên cứu về lý luận nhà nước có một bước phát triển nhảy vọt.

Tiếp theo các nghiên cứu bước đầu về tăng cường hiệu lực của nhà nước, đẩy mạnh vai trò  quản lý nhà nước, đến lúc này nhiệm vụ nghiên cứu được tập trung trực diện vào việc đổi mới hệ thống chính trị trong đó đặc biệt là đổi mới nhà nước và quản lý nhà nước. Đề tài “Đổi mới hệ thống chính trị” là đề tài khoa học lớn cấp Nhà nước được Nhà nước giao cho Viện nghiên cứu chính là biểu hiện của hướng nghiên cứu đó. Đề tài do TSKH. Đào Trí Úc làm chủ nhiệm. Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần luận giải về mặt lý luận cũng như thực tiễn các như cầu phải đổi mới cũng như nội dung đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị rtường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

Chủ trương xây dựng bản Hiến pháp mới đã tạo ra niềm hứng khởi cho các hoạt động nghiên cứu góp ý cho bản Dự thảo Hiến pháp 1992 và đề xuất các giải pháp triển khai thi hành Hiến pháp 1992. Kết quả nghiên cứu đã tạo ra tiếng vang lớn. Lãnh đạo của của Viện được tín nhiệm mời  tham gia trực tiếp vào các Ban biên tập sửa đổi Dự thảo  Hiến pháp. Các cán bộ khác của Viện đã tích cực viết bài công bố trên các ấn phẩm khoa học cũng như các phương tiện thông tin đại chúng về nội dung cần quy định trong Hiến pháp, đóng góp vào dự thảo Hiến pháp khi được công bố lấy ý kiến nhân dân.

Bên cạnh đó, nhiều đề tài nghiên cứu khác đã được triển khai. Đáng chú ý là:

+ Đề tài cấp Nhà nước “Vấn đề xây dựng nền chính trị và hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ”, mã số KX.01.14 do TS. Trịnh Hồng Dương làm chủ nhiệm, TS. Bùi Xuân Đức làm thư ký, thời gian thực hiện 1993-1996). Đề tài đã trình bày một hệ thống quan điểm lý luận và thực tiễn xây dựng nền chính trị và hệ thống chính trị nước ta cũng như những quan điểm, giải pháp xây dựng, đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, xây dựng mô hình lý luận một nền chính trị và hệ thống chính trị phù hợp bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền lực nhân dân, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước.

+  Đề tài cấp Nhà nước “Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”, mã số KHXH 05.05 do TSKH. Đào Trí Úc làm chủ nhiệm, TS. Đinh Ngọc Vượng làm thư ký, thời gian thực hiện 1998-2000. Đề tài đã làm rõ nội dung và phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, đề ra các yêu cầu bảo đảm trên con đường đó là phải bảo đảm quyền lực nhân dân (dân chủ), bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, xây dựng cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước có sự phân công, phối hợp rõ ràng trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

+ Công trình tập thể - cuốn chuyên khảo “Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật”, NXB. Chính trị quốc gia, H., 1995 do TSKH. Đào Trí Úc chủ biên đã đề cập những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước, hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước phục vụ hoạt động đào tạo sau đại học của Viện. Có thể nói, cuốn sách này đã trở thành cuốn sách gối đầu giường cho nhiều thế hệ nghiên cứu sinh và học viên cao học của Viện.

+ Cuốn chuyên khảo “Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới”, của TSKH Đào Trí Úc NXB. Khoa học xã hội, H., 1997 là công trình nghiên cứu cá nhân, đem lại những nhận thức mới về Nhà nước và pháp luật cũng như  lập luận cho nhu cầu, phương hướng, giải pháp đổi mới Nhà nước và pháp luật ở Việt Nam.

Ngoài ra còn nhiều đề tài cấp viện khác cũng được triển khai.

- Phục vụ Đại hội lần thứ VIII của Đảng (năm 1996), Viện đã có những hoạt động nghiên cứu đóng góp vào Dự thảo Văn kiện Đại hội và triển khai nghiên cứu những vấn đề pháp lý đặt ra qua nghị quyết của Đại hội. Cuốn sách “Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về Nhà nước và pháp luật” do NXB. Khoa học xã hội xuất bản năm 1997, dưới sự chủ biên của TSKH. Đào Trí Úc thể hiện các kết quả nghiên cứu đó.

- Hội thảo khoa học lớn về vấn đề này được Viện tổ chức và tập hợp các báo cáo khoa học được xuất bản thành sách “Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”  do TS. Lê Minh Thông chủ biên, NXB. Khoa học xã hội, H., 2001:

Những ý kiến đề xuất khoa học của Viện về những nội dung trên đã được dư luận xã hội đánh giá cao và được các cơ quan hữu quan tiếp thu trong quá trình soạn thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992.

- Hiện tại, việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện nhà nước, hệ thống chính trị.., hiện đang là tâm điểm của lĩnh vực nghiên cứu lý luận về nhà nước. Hoạt động nghiên cứu theo hướng này được Phòng đặc biệt quan tâm, thể hiện ở những đề tài như:

+ Đề tài cấp Bộ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân và với Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam giai đoạn 2010-2020. Mã số CT 09-16-05. Do PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Hương làm chủ nhiệm. Đã nghiệm thu năm 2011.

+ Đề tài cấp Bộ: Mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng cộng sản trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Mã số CT 11-16- 03.Đã nghiệm thu năm 2013. Do PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Hương làm chủ nhiệm.

+ Đề tài cấp Bộ: Dân chủ trực tiếp và cơ chế pháp lý thực thi dân chủ trực tiếp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Đã nghiệm thu năm 2015. Do PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Hương làm chủ nhiệm.

+ Đề tài cấp Nhà nước: Hệ thống chính trị ở cơ sở phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên, Mã số: TN3/X03.

+ Đề tài cấp Nhà nước: Nghiên cứu cơ sở pháp lý và phương pháp đấu tranh yêu cầu Chính phủ và các công ty hóa chất Hoa Kỳ chịu trách nhiệm về hậu quả chất da cam/dioxin ở Việt Nam; Mã số: KHCN-33.08/11-15. PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Hương đã tham gia với tư cách là thư ký khoa học và đã nghiệm thu năm 2016. Phòng đã tham gia với tư cách thư ký khoa học hoặc thành viên chính thức của nhiều đề tài cấp nhà nước như: “Hệ thống chính trị cơ sở với yêu cầu phát triển bền vững Tây Nam bộ hiện nay”. Nhiều thành viên trong Phòng tham gia Đề tài cấp Nhà nước năm 2016: “Hệ thống chính trị cơ sở với yêu cầu phát triển bền vững Tây Nam bộ hiện nay”.

- Trong những năm gần đây, kết quả nghiên cứu lý luận về nhà nước còn được công bố trong nhiều cuốn sách chuyên khảo, trong đó các thành viên trong Phòng tham gia với tư cách là chủ biên, đồng chủ biên, đồng tác giả.

+ Chuyên khảo ”Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS. Bùi Xuân Đức, NXB. Tư pháp, H., 2004, tái bản có sửa chữa và bổ sung, 2007;

+ Chuyên khảo “Xây dựng Nhà nước  pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tập thể tác giả. Chủ biên: GS.TSKH. Đào Trí Úc, NXB. Chính trị quốc gia, H., 2005;

+ Chuyên khảo “Mô hình tổ chứcvà hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”. Chủ biên: GS.TSKH. Đào Trí Úc, Nxb.Tư pháp, H., 2006;

+ Nhiệm vụ khoa học cấp Bộ: “Đánh giá tình hình quan liêu, lãng phí và cuộc đấu tranh chống quan liêu, lãng phí ở nước ta trong thời kỳ đổi mới” do GS.TSKH Đào Trí Úc làm chủ nhiệm, thời gian thực hiện: 2005.

- Một loạt đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Viện về lĩnh vực này đã và đang được thực hiện như: “Giới hạn, trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý xã hội“, ”Vấn đề thể chế hóa chức năng của Nhà nước trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay” tập trung làm rõ sự chuyển đổi, và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp xác định lại về mặt pháp lý, vai trò, chức năng của Nhà nước ta trong điều kiện chuyển đổi xã hội hiện nay.

2.1.2. Hoạt động đào tạo trong lĩnh vực lý luận về nhà nước

Hoạt động khoa học trên lĩnh vực lý luận về nhà nước còn được triển khai thông qua đào tạo sau đại học. Trong những năm qua Viện đã định hướng cho NCS và các học viên cao học tham gia nghiên cứu và lựa chọn các đề tài luận văn, luận án phù hợp với hướng nghiên cứu chung của Viện. Nhiều luận án, luận văn về lĩnh vực chuyên ngành này đã được thực hiện và bảo vệ thành công góp phần lý giải khoa học các vấn đề về nhà nước đang đặt ra và đóng góp vào thành quả nghiên cứu chung của Viện. Đó là các luận án Tiến sỹ “Quyền giám sát tối cao của Quốc hội” của Phạm Ngọc Kỳ; “Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” của Trần Thái Dương, “Chức năng xã hội của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” của Lê Thị Hằng v.v... Đồng thời trên lĩnh vực này, các thành viên trong phòng đã tham gia giảng dạy đại học và sau đại học tại nhiều cơ sở đào tạo luật học (Học viện Khoa học xã hội; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Học viện Hành chính Quốc gia; Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Luật Hà Nội; Viện đại học mở Hà Nội; Đại học Huế; Khoa Luật Đại học Vinh…

Các cán bộ của Phòng Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật đã tích cực tham gia công tác này, vừa xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu học tập, vừa trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn luận văn, luận án. Qua hoạt động đào tạo, trình độ, năng lực của các cán bộ cũng được củng cố và nâng cao.

2.1.3. Hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu lý luận về nhà nước

Trong nghiên cứu lý luận về nhà nước, các thành viên trong Phòng đã tích cực tham gia các hội nghị khoa học quốc tế, các cuộc trao đổi khoa học với các nước trong khu vực và thế giới. Các nhà khoa học đã tham gia Hội thảo khoa học quốc tế, Đại hội “Chủ nghĩa lập hiến quốc tế” họp tại Tokyo (Nhật Bản) năm 1995, Hội thảo khoa học “Sự thay đổi Nhà nước, Xã hội và cải cách pháp luật” tổ chức tại Nagoya (Nhật Bản) năm 2006, thực hiện các cuộc trao đổi khoa học tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Mỹ, Đức. Tại các hội thảo khoa học, trao đổi khoa học nói trên, các nhà khoa học đã có báo cáo khoa học, tham luận trình bày tại hội thảo và có sự trao đổi thiết thực với các học giả nước ngoài và thu được nhiều kiến thức, kinh nghiệm mới bổ ích.

2.2. Những thành tựu nghiên cứu lý luận về pháp luật 

Ngay từ đầu, Tổ Luật học thuộc Ủy ban Khoa học nhà nước đã có nhiều bài viết đề cập các vấn đề lý luận, trong đó có lý luận về pháp luật. Các bài viết đã tập trung chủ yếu vào phân tích các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lý luận cách mạng về nhà nước và pháp luật, về pháp chế xã hội chủ nghĩa, vạch rõ bản chất phản cách mạng, phản dân chủ của pháp luật chế độ Sài Gòn do Mỹ dựng nên. Nhiệm vụ của hoạt động lý luận lúc này là góp phần vào việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của nhân dân ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam nhằm thống nhất đất nước.

Từ năm 1967 với việc thành lập Viện Luật học, hoạt động nghiên cứu lý luận về pháp luật được đặc biệt đẩy mạnh. Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về nhà nước và pháp luật tiếp tục được các nhà khoa học phân tích và làm sáng tỏ trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, các vấn đề về pháp luật kiểu mới được phân tích trong các bài viết và được công bố trong tạp chí của Viện và các công trình xuất bản khác đã góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng khẳng định tính ưu việt của Nhà nước và pháp luật XHCN, phê phán các quan điểm tư sản đối với các vấn đề Nhà nước và pháp luật. Đặc biệt sau năm 1975, khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu lý luận về pháp luật được nâng lên một bước mới. Lực lượng cán bộ khoa học trong và ngoài Viện tham gia nghiên cứu lý luận về pháp luật ngày càng đông đảo. Số lượng các bài viết về lý luận pháp luật luôn chiếm ưu thế trong các bài báo, các công trình khoa học pháp lý được công bố. Các vấn đề lý luận được tập trung nghiên cứu trong thời kỳ này gắn liền với nhu cầu của quá trình thống nhất về mặt nhà nước và pháp luật trong phạm vi cả nước. Các bài viết của nhiều tác giả như Nguyễn Ngọc Minh, Ngô Bá Thành, Ngô Khai Phong…, đã góp phần làm sáng tỏ nhiều khía cạnh pháp lý của việc thống nhất về nhà nước và pháp luật ở nước ta.

Hiến pháp năm 1980 ra đời đã đặt trước khoa học pháp lý và đặc biệt lý luận nhà nước và pháp luật nhiều vấn đề lý luận cần được nghiên cứu, nhất là các vấn đề về quyền làm chủ của nhân dân lao động; vai trò của pháp luật đối với việc thực hiện quyền làm của chủ nhân dân. Các vấn đề lý luận về pháp chế, về ý thức pháp luật và lối sống theo Hiến pháp và pháp luật đã được soi sáng trong nhiều bài tạp chí Luật học, chẳng hạn như các bài viết của Ngô Văn Thâu, trong luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn Đình Lộc, Vũ Đức Khiển. v.v... Công trình Bình luận Hiến pháp 1980 của tập thể tác giả trong và ngoài Viện đã nghiên cứu khá sâu sắc nhiều vấn đề về nhà nước và pháp luật trong các điều kiện xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, góp phần làm sáng tỏ các quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhà nước, xây dựng pháp luật, tăng cường pháp chế. Công trình “Tăng cường hiệu lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa của ta” của Viện Luật học do GS. Nguyễn Ngọc Minh chủ biên (1983) đã đề cập nhiều vấn đề lý luận về xây dựng, củng cố nhà nước và pháp luật ở thời kỳ quá độ lên CNXH theo các quan điểm được xác định tại các văn kiện Đại hội lần thứ V (tháng 3/1982) của Đảng.

Hiến pháp 1992 được thông qua, đất nước trong thời kỳ đổi mới, nghiên cứu lý luận về pháp luật được tiếp tục đẩy mạnh. Các công trình nghiên cứu được tập trung vào các vấn đề: sự thay đổi xã hội và pháp luật; pháp luật và thị trường; đổi mới hệ thống pháp luật nước ta; ý thức pháp luật, tăng cường pháp chế…

Nhiều cuộc hội thảo trong các lĩnh vực này đã được tổ chức, đặc biệt cuộc hội thảo khoa học quốc tế “Xã hội và pháp luật” đã góp phần lý giải nhiều vấn đề lý luận về pháp luật trong thời kỳ đổi mới ở nước ta. Các công trình khoa học cấp nhà nước KX.07.17 “Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật” do tập thể cán bộ Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thực hiện từ năm 1991 đến năm 1995 và đã được nghiệm thu với kết quả xuất sắc, đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận về pháp luật.

Bước vào thời kỳ đổi mới, trên tất cả các lĩnh vực đối nội và đối ngoại, vai trò của pháp luật ngày càng được khẳng định và đề cao; yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, thể chế hóa các hoạt động trong xã hội, xây dựng và thực hiện pháp luật, khẳng định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Những nhiệm vụ quan trọng và không đơn giản này đòi hỏi trước hết một sự tổng kết, đánh giá thực tiễn pháp lý ở nước ta trên tất cả ba mặt của nó là hoạt động xây dựng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật và hoạt động giáo dục pháp luật, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật và lối sống tuân theo pháp luật cho nhân dân. Phải thực hiện những yêu cầu đó trên những cơ sở khoa học và để rút ra  được những khái quát khoa học bổ sung cho vốn lý luận của khoa học pháp lý nước nhà. Khoa học pháp lý Việt Nam sau thời kỳ đổi mới, bắt đầu có những công trình nghiên cứu lý luận chuyên khảo với tầm khái quát cao hơn về pháp luật và ngày càng có nhiều những nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học pháp lý cụ thể.

Năm 1993, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho ra mắt một công trình nghiên cứu cơ bản về lý luận pháp luật của TS. Đào Trí Úc: “Những vấn đề cơ bản về pháp luật”. Lần đầu tiên lý luận về pháp luật được trình bày trong một chỉnh thể dựa trên phương pháp chính là xã hội học pháp luật và luật so sánh. Chỉnh thể đó bao gồm bản thân những quy định pháp luật, với bản chất, nhiệm vụ, khả năng của nó; thực tiễn áp dụng pháp luật và cuối cùng là ý thức pháp luật. Quan điểm khoa học đó đang càng ngày càng được khẳng định trong thực tế, trong nhu cầu của đất nước ta đưa pháp luật vào cuộc sống, biến pháp luật thành hành vi sinh động hàng ngày và lối sống của cá nhân, của tập thể.

Ở công trình này, lập luận của tác giả về tính khách quan của pháp luật có thể được coi là điểm sáng lý luận cơ bản nhất. Tác giả đã góp phần bàn kỹ để nhận thức một cách đầy đủ về quan điểm của C. Mác được trình bày trong bộ Tư bản rằng, “những quan hệ dân sự đòi hỏi những hình thức pháp lý tương ứng”, “những cách biểu thị văn minh”, rằng “đây sẽ không đơn thuần chỉ là các quan hệ giữa những cá nhân mà là những quan hệ phổ biến”.

Quan điểm khoa học đó đã được thực tiễn kiểm chứng. Khi nào những vấn đề của phát triển xã hội tìm được những câu trả lời xác đáng trong quá trình làm luật thì sẽ có được những văn bản, những quy định pháp luật tốt, điều chỉnh một cách có hiệu quả các lĩnh vực quan hệ xã hội. Sự chậm trễ trong việc thể chế hóa cũng như sự chủ quan, duy ý chí, xa rời thực tiễn đã làm giảm hiệu quả của pháp luật, thậm chí làm phát sinh các yếu tố tiêu cực.

Quan điểm của tác giả về pháp luật là quan điểm đặt pháp luật trong dòng chảy xã hội. Nghiên cứu lý luận chung về pháp luật từ đó đã có những bước phát triển quan trọng về chất. Nhờ xử lý tốt những vấn đề lý luận chung về pháp luật chúng ta đã tạo điều kiện rất quan trọng và cần thiết cho việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý chuyên ngành, góp phần tạo cơ sở lý luận cho hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta.

Đến giai đoạn hiện nay, nhằm đáp ứng những yêu cầu thực tiễn đất nước các nghiên cứu lý luận về pháp luật cũng đã có hướng tiếp cận cụ thể hơn như:

- Các vấn đề về xây dựng và hệ thống hóa các văn bản pháp luật gồm “Đổi mới công tác ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Pháp lệnh” (bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12/2005), “Tiêu chí hình thức của văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật” (bài viết đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8/2010), Những tiêu chí cơ bản của việc hệ thống hóa văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay (chủ nhiệm Đề tài cấp Viện năm 2008).

- Các vấn đề về hoàn thiện và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật tập trung vào một số nội dung:“Vai trò của xã hội dân sự đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách hệ thống tư pháp ở nước ta hiện nay” (tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Cơ sở pháp lý cho xã hội dân sự” do Viện Nhà nước và Pháp luật và Viện KAS phối hợp tổ chức (6/2009 tại Hà Nội và Đà Lạt), “Vai trò của xã hội dân sự đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách hệ thống tư pháp ở nước ta hiện nay” của Hội thảo “Cơ sở pháp lý cho xã hội dân sự” do Viện Nhà nước và Pháp luật và Viện KAS phối hợp tổ chức (6/2009 tại Hà Nội và Đà Lạt), “Những tiêu chí cơ bản của việc hệ thống hóa pháp luật” (chủ nhiệm Đề tài cấp Viện năm 2009), “Xây dựng tiêu chí bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật” (chuyên đề thuộc Đề tài cấp Bộ “Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam” của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. HN. 2009 – 2010) và bài viết trong sách chuyên khảo “Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam” do Viện Nghiên cứu lập pháp chủ biên (Nxb. Công an nhân dân. Hà Nội. 2011).

Đặc biệt, trong lĩnh vực lý luận về pháp luật, hiện nay Phòng đang có 01 cán bộ lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nguồn luật và sử dụng nguồn luật ở Việt Nam hiện nay”, làm đề tài nghiên cứu sinh nhằm làm phong phú hơn lĩnh vực nghiên cứu lý luận về pháp luật.

Có thể thấy rõ kết quả nghiên cứu lý luận về pháp luật thể hiện ở một số khía cạnh sau:

- Góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận cơ bản về pháp luật: phân tích các điều kiện, nhu cầu khách quan và chủ quan của việc nhận thức các giá trị, vai trò, ý nghĩa thực tiễn của pháp luật trong đời sống xã hội; làm rõ bản chất, các đặc điểm, những hình thức, các lĩnh vực quan hệ và phương thức thể hiện của pháp luật; cơ cấu của hệ thống pháp luật; mức độ điều chỉnh và hiệu lực pháp lý của pháp luật, thứ tự ưu tiên của việc điều chỉnh pháp luật; yếu tố khách quan và chủ quan chi phối hành vi pháp luật và những biện pháp đưa pháp luật vào cuộc sống.

- Đưa ra những đặc điểm về mặt xã hội, về nhận thức của quá trình hình thành ý thức pháp luật của con người Việt Nam và trên cơ sở làm sáng tỏ cơ cấu, nội dung ý thức pháp luật của các tầng lớp dân cư, các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức và lối sống theo pháp luật, đề xuất mô hình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật và hệ thống các biện pháp xây dựng lối sống theo pháp luật ở nước ta hiện nay.

- Phân tích rõ vị trí của việc áp dụng pháp luật trong hệ thống pháp luật, những tiêu chí, điều kiện, các hình thức, cơ chế áp dụng pháp luật, các yếu tố tác động đến việc áp dụng pháp luật; đưa ra những chỉ số để đánh giá hiệu quả của pháp luật, các điều kiện bảo đảm và mức độ các điều kiện bảo đảm hiệu quả của pháp luật.

- Trên cơ sở đánh giá khái quát, toàn diện hệ thống pháp luật nước ta, phân tích những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hệ thống pháp luật, các xu hướng phát triển, các quan hệ xã hội trong thời gian tới, để đưa ra những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng khung pháp lý tạo mặt bằng cần thiết cho quá trình hợp tác quốc tế và khu vực trong những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.

- Phân tích nội dung các học thuyết chính trị – pháp lý cơ bản ở Việt Nam trong mối quan hệ với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ lịch sử, tạo cơ sở cho việc kế thừa và phát triển tư tưởng chính trị – pháp lý trong giai đoạn hiện nay;

- Trong lĩnh vực hợp tác và hội nhập quốc tế, các công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ vị trí vai trò quan trọng của pháp luật với tính cách là công cụ quản lý, tổ chức thực hiện chức năng mới của Nhà nước trong việc thực thi các cam kết quốc tế; đã góp phần làm rõ mức độ tương thích giữa pháp luật nước ta với toàn bộ không gian pháp lý ngoài phạm vi quốc gia; xác định rõ những khác biệt trong các hệ thống pháp luật, đặc biệt sự đa dạng về nguồn của luật, nội dung của các nguyên lý, khái niệm, chế định pháp luật khác nhau; Đã tìm hiểu những xu hướng phát triển của pháp luật các quốc gia, các khu vực, các cộng đồng quốc tế, đặc biệt là xu hướng hội nhập của các hệ thống pháp luật, những khả năng và phương thức thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau giữa các hệ thống pháp luật; phương thức “nội hóa” các cam kết quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra hiện nay. Đã có những đề tài đi sâu nghiên cứu về các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc tế, của các tổ chức và định chế quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tìm hiểu sự tương thích giữa pháp luật nước ta với các cam kết quốc tế song phương (chẳng hạn Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ). Kết quả của hướng nghiên cứu này đã góp phần vào quá trình của Nhà nước ta nhằm rà soát các văn bản pháp luật để có những sửa đổi, bổ sung phù hợp với các cam kết quốc tế và của cộng đồng quốc tế.

Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động nghiên cứu lý luận về pháp luật ở Viện Nhà nước và pháp luật đã được đặt trên một “đường ray” mới nhằm khắc phục lối nghiên cứu tư biện coi pháp luật như một sản phẩm thuần tuý của ý chí chủ quan tách rời đời sống thực của nó, thoát ly những quy luật hình thành, tồn tại và phát triển của nó.

Điều chú ý đầu tiên được các công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây tập trung vào thuộc tính khách quan của pháp luật để qua đó tìm thấy những cái chung, và đồng thời cho phép phân biệt pháp luật với những hiện tượng của xã hội khác như đạo đức, tập quán, tôn giáo, tư tưởng quy phạm kỹ thuật, v.v.. Nhờ làm rõ các thuộc tính của pháp luật mà chúng ta mới có thể chỉ ra được mặt mạnh, mặt yếu của nó trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, hành vi của con người, từ đó biết sử dụng pháp luật đúng nơi, đúng lúc, đúng mức độ cần thiết với những hình thức diễn đạt pháp lý chặt chẽ, kết hợp đúng đắn và hài hoà pháp luật với các quy chuẩn xã hội khác trong quá trình quản lý đất nước. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định thuộc tính quan trọng của pháp luật là tính được bảo đảm thực hiện bằng toàn bộ hoạt động và sức mạnh của nhà nước. Quan điểm phiến diện trước đây về nhà nước đã thay đổi, nhà nước không chỉ cưỡng chế thực thi pháp luật mà phải có trách nhiệm tạo ra những bảo đảm về kinh tế, về tổ chức, về tư tưởng, giáo dục, tuyên truyền, khuyến khích để đưa pháp luật vào cuộc sống. Quan điểm đó hoàn toàn phù hợp không chỉ với quan điểm về chức năng của Nhà nước mà còn phản ánh nhận thức mới về pháp luật không phải chủ yếu để trừng phạt mà là sắp đặt, dự liệu và điều chỉnh hành vi của con người. Ngoài ra những, kết luận quan trọng của hoạt động nghiên cứu đã góp phần lý giải vai trò của pháp luật trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý các mặt đời sống của xã hội. Đồng thời, các nghiên cứu đó cũng đã góp phần chỉ ra nhu cầu về tính tương thích cần thiết của hệ thống pháp luật, của các thiết chế và thủ tục pháp lý trước nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2.3. Những thành tựu nghiên cứu về lý luận và xã hội học pháp luật

Từ năm 2005, Viện Nhà nước và pháp luật đã đề nghị thành lập Phòng Lý luận và Xã hội học pháp luật do PGS.TS. Võ Khánh Vinh, Phó Viện trưởng kiêm trưởng phòng (Quyết định số: 989/QĐ-KHXH, ngày 14/6/2005). Với tinh thần coi xã hội học pháp luật là một “mũi giáp công” của khoa học pháp lý hiện đại và của hoạt động nghiên cứu của Viện Nhà nước và Pháp luật.

Hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực lý luận xã hội học đã được triển khai trên cả hai bình diện: xã hội học pháp luật lý luận và xã hội học pháp luật ứng dụng.

Xã hội học pháp luật lý luận đi sâu vào các vấn đề cơ bản, nền tảng của pháp luật như vấn đề về cơ chế hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả và hiệu lực của pháp luật; nội dung và cơ cấu của pháp luật, bản chất xã hội của pháp luật, mối liên hệ giữa pháp luật và xã hội.

Xã hội học pháp luật ứng dụng là hướng đi vào xác định các yếu tố xã hội, sự kiện xã hội tác động đến pháp luật, hiệu quả của các quy phạm, chế định pháp luật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Kết quả nghiên cứu trên cả hai bình diện đó đã tập trung giải quyết được những vấn đề sau:

Thứ nhất, đã khẳng định: cơ sở xã hội, tính được quy định về mặt xã hội của pháp luật, làm rõ khả năng phản ánh hiện thực của pháp luật, mức độ phù hợp với nhu cầu của thực tiễn. Đồng thời, các công trình nghiên cứu xã hội học pháp luật đã cố gắng tìm ra quy luật của các hành vi xã hội cần điều chỉnh và dự báo về các hành vi đó trong tương lai. Hành vi pháp luật đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các công trình nghiên cứu của Viện, chẳng hạn, như Đề tài KX 17 - 07 "Xây dựng ý thức và lối sống tuân theo pháp luật", "Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật".

Thứ hai, đã làm sáng tỏ khía cạnh hiệu lực và hiệu quả xã hội của pháp luật, của các quy định cụ thể của pháp luật.

Trên cơ sở nhận thức về hai loại đối tượng nghiên cứu đó, xã hội học pháp luật là cơ sở khách quan cho các hoạt động: xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, xây dựng ý thức và hành vi pháp luật đúng đắn. Tương ứng với ba phạm vi đó, các nhà nghiên cứu xã hội học pháp luật ở Viện Nhà nước và Pháp luật đã chỉ rõ ba nhánh quan trọng của xã hội học pháp luật là: i) Xã hội học xây dựng pháp luật; ii) Xã hội học áp dụng pháp luật; iii) Xã hội học về hành vi pháp luật.

Thứ ba, Xã hội học pháp luật có mối quan hệ với nhiều lĩnh vực khoa học pháp lý mà gần gũi nhất là các bộ môn như tội phạm học, luật hình sự, luật kinh tế - thương mại, bởi vì đây là lĩnh vực cần đến hiểu biết đầy đủ nhất về hành vi của con người, trách nhiệm của cá nhân và phản ứng của Nhà nước. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong thời gian qua các lĩnh vực này đã đi đầu trong việc nghiên cứu xã hội học, sử dụng các phương pháp điều tra, nghiên cứu xã hội học và nhiều lĩnh vực như xã hội học về tội phạm, xã hội học về nhân thân người phạm tội, xã hội học về hình phạt, xã hội học về kinh doanh v.v… Xuất phát từ quan điểm của xã hội học pháp luật, Viện đã chủ trương xây dựng cơ sở dữ liệu thông qua việc tiến hành thực hiện Dự án điều tra cơ bản về thực trạng thi hành pháp luật ở các ngành, các lĩnh vực, các địa phương (1998 - 2000).

Quan điểm tiếp cận xã hội học hoàn toàn phù hợp với đòi hỏi của quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đó là đòi hỏi phải "đưa đời sống xã hội vào trong pháp luật". Khi nói về cơ chế xây dựng pháp luật, Đề án nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ (Ban hành kèm theo Quyết định số 933/QĐ - TTG ngày 27/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ) đã chỉ ra nhiều vấn đề về cơ chế đó.

Hiện nay, tên Phòng không còn giữ tên gọi gắn với chức năng nghiên cứu về xã hội học pháp luật nhưng các nghiên cứu của Phòng vẫn luôn dựa trên những cơ sở của lý thuyết và thực tiễn của xã hội học pháp luật.

2.4. Những thành tựu nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật

2.4.1. Kết quả nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật

Nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật đã được chú trọng từ rất sớm, gắn liền với sự ra đời và nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản của Tổ luật học thuộc Ủy ban khoa học Nhà nước từ tháng 8 năm 1959. Trong 5 Phân tổ của Tổ luật học, bộ phận nghiên cứu Lịch sử nhà nước và pháp luật thuộc Phân tổ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp quyền. Trên thực tế, hầu hết số cán bộ thuộc Tổ Luật học lúc đó đều tham gia nghiên cứu Lịch sử Nhà nước và pháp luật ở các mức độ khác nhau. Có thể nói, việc nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật là mảng nghiên cứu nổi bật nhất trong hoạt động nghiên cứu của Tổ luật học lúc đó ( mặc dù cho đến thời điểm đó, ở nước ta lịch sử nhà nước và pháp luật chưa tồn tại với tư cách là một khoa học độc lập). Cũng do vậy, ngay từ đầu, thành quả nghiên cứu trong chuyên ngành Lịch sử nhà nước và pháp luật đã tương đối nhiều về số lượng, khá đa dạng về chủ đề và phong phú về nội dung. Trong đó, các hướng nghiên cứu nổi bật là: Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX; Thành tựu và kinh nghiệm xây dựng Nhà nước và pháp luật Cách mạng Việt Nam phục vụ cuộc đấu tranh thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, thực hiện thống nhất đất nước; Tổ chức, hoạt động và kinh nghiệm xây dựng Nhà nước Xô viết...Kết quả nghiên cứu được công bố dưới dạng các bài viết và được đăng tải chủ yếu ở các tập “Nghiên cứu Nhà nước và pháp quyền” do Tổ Luật học biên soạn và các tập sách “ Nhà nước và pháp luật” do Hội Luật gia chủ trì biên soạn.

Từ năm 1967, trong định hướng và nhiệm vụ nghiên cứu của Viện Luật học, chuyên ngành Lịch sử Nhà nước và pháp luật là một lĩnh vực độc lập song lại có vai trò hỗ trợ rất quan trọng đối với các lĩnh vực khác thông qua việc nghiên cứu làm sáng tỏ những khía cạnh lịch sử của các hiện tượng Nhà nước và pháp luật vốn là đối tượng nghiên cứu của các chuyên ngành khác. Vì vậy, đặc điểm dễ nhận thấy trong hoạt động nghiên cứu Lịch sử Nhà nước và pháp luật ở Viện Luật học là tính đa dạng về chủ đề nghiên cứu, tính hiệu quả của phương thức tổ chức nghiên cứu và tính phong phú của các sản phẩm nghiên cứu.    

Ngay đầu thập niên 70 của thế kỷ 20, sự thừa nhận của giới nghiên cứu về vị trí độc lập của khoa học Lịch sử Nhà nước và pháp luật đã tạo ra môi trường khoa học rộng lớn hơn cho sự phát triển của chuyên ngành lịch sử Nhà nước và pháp luật tại Viện Luật học. Lực lượng nghiên cứu được tăng cường. Nhóm chuyên gia nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật được hình thành, bao gồm các luật gia nổi tiếng như: Trần Công Tường, Vũ Đình Hòe, Đinh Gia Trinh, Vũ Bội Tấn, Vũ văn Hoàn, Nguyễn Ngọc Minh....Nhiều vấn đề về lịch sử tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam thời kỳ trước và sau Cách mạng tháng Tám đã được tập trung làm sáng tỏ. Nhiều bài viết đã được công bố. Đồng thời, dựa trên những kết quả nghiên cứu bước đầu, Viện đã cho xuất bản hai cuốn sách chuyên khảo:

- Cuốn “ Sơ thảo lịch sử Nhà nước và pháp quyền Việt Nam, từ nguồn gốc đến thời kỳ phong kiến” của Đinh Gia Trinh, Nxb. Khoa học xã hội, H.,1968. Đây là cuốn chuyên khảo đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước và pháp luật Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong điều kiện tư liệu hiện có, tác giả đã tiến hành phân tích các hiện tượng nhà nước và pháp luật dưới giác độ của khoa học pháp lý và bằng nhãn quan của luật gia. Mặc dù – như tên gọi của nó- công trình mới mang tính phác thảo và vẫn dựa căn bản trên cách tiếp cận truyền thống, có phần dè dặt về lịch sử, nhưng công trình đã thực sự lấp một khoảng trống đáng kể trong sự hiểu biết của giới nghiên cứu pháp lý về đời sống nhà nước và pháp luật trong tổng thể diện mạo lịch sử dân tộc, đồng thời lôi cuốn sự chú ý của giới nghiên cứu, khơi nguồn cho một trào lưu nghiên cứu mới về lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam.    

 - Cuốn “ Hiệp định Pari về Việt Nam”, Nxb. Khoa học xã hội, H.,1973. Đây là công trình tập thể của Viện Luật học được biên soạn để phục vụ yêu cầu đấu tranh thực hiện Hiệp định Pari về Việt Nam, chứa đựng trong đó những quan điểm nền tảng cho việc nhận diện truyền thống chính trị- pháp lý Việt Nam cũng như cho việc xác lập cơ sở chính trị- pháp lý của chế độ xã hội mới. Cuốn sách có sự đóng góp xứng đáng kết quả nghiên cứu của chuyên ngành lịch sử nhà nước và pháp luật.

Sau năm 1975, đối tượng nghiên cứu của Lịch sử nhà nước và pháp luật được tiếp tục mở rộng về phạm vi thời gian và không gian. Từ 1975- 1986, Viện triển khai nhiều mảng nghiên cứu mới như: nghiên cứu về sự hình thành Nhà nước đầu tiên ở Việt Nam; nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam mà trọng tâm là các bộ luật thời phong kiến; nghiên cứu lịch sử lập hiến Việt Nam; nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật cách mạng Việt Nam; nghiên cứu một số vấn đề về lịch sử nhà nước và pháp luật các nước ngoài ... Đồng thời, Viện tiếp tục tổ chức thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu trong các chủ đề truyền thống trước kia theo hướng đẩy sâu hơn nội dung nghiên cứu.

Sau năm 1975 cũng là thời kỳ “chuyển giao” thế hệ nghiên cứu chuyên ngành lịch sử nhà nước và pháp luật. Nhóm chuyên gia thuộc thế hệ nghiên cứu thứ nhất đã lần lượt được nghỉ hưu. Một số cán bộ trẻ, được đào tạo cơ bản và có nhiệt tình trong công tác nghiên cứu đã được bổ sung. Đó là các đồng chí: Trần Văn Vụ, Phạm Văn Điềm. Trần Thị Tuyết, Nguyễn Thị Việt Hương. Một phong cách tổ chức nghiên cứu mới cũng đã dần được hình thành. Việc tổ chức nghiên cứu được thực hiện chủ yếu dưới hình thức thực hiện đề tài các cấp và kết quả nghiên cứu được công bố chủ yếu dưới hình thức các bài báo khoa học.

Kết quả nghiên cứu lĩnh vực Lịch sử Nhà nước và pháp luật của Viện Luật học trong giai đoạn sau 1975 được phản ảnh tập trung nhất qua cuốn chuyên khảo: “Sơ thảo Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay” của Trần Thị Tuyết và Phạm Văn Điềm, Nxb. Khoa học xã hội, H.,1983. Với 356 trang viết, công trình này là sự tiếp nối một cách nghiêm túc công trình nghiên cứu của tác giả Đinh Gia Trinh, góp phần phác họa một cách có hệ thống toàn bộ diện mạo của lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam. Việc công bố hai công trình nói trên cho phép khẳng định Viện Luật học là tổ chức nghiên cứu đầu tiên đã khởi xướng và tiến hành nghiên cứu một cách có chủ đích, toàn diện và có hệ thống về diễn biến lịch sử của đời sống nhà nước và pháp luật Việt Nam suốt từ khi hình thành cho đến hiện nay.

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đặt ra những yêu cầu và nhiệm vụ mới cho khoa học pháp lý nói chung và khoa học lịch sử nhà nước và pháp luật nói riêng. Trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới, đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước, xây dựng và phát huy vai trò của pháp luật nói riêng được đặt ra như một yêu cầu khách quan và cấp bách nhưng đó lại là một công việc hệ trọng và vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có tri thức và một tinh thần trách nhiệm rất cao. Nó cần phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học vững chắc. Một trong những cơ sở đó là phải hiểu thấu đáo những đặc điểm truyền thống của dân tộc, phải nắm chắc những yếu tố thuộc về sức mạnh nội sinh, phải thấy được những điểm mạnh cũng như những mặt hạn chế do đời sống chính trị lịch sử để lại. Có như vậy mới nhận rõ được xuất phát điểm, mới có định hướng đúng để từ đó xây dựng được một mô hình chính trị phù hợp với đặc điểm dân tộc. Đồng thời để có thể vững vàng hội nhập vào thế giới trên cơ sở giữ gìn và phát huy được bản sắc dân tộc thì việc hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn về truyền thống và kinh nghiệm thành công, thất bại trong đời sống nhà nước và pháp luật các nước ngoài cũng là một yêu cầu không thể thiếu trong điều kiện đổi mới.

Như vậy, chính đường lối, chính sách đổi mới của Đảng, của Nhà nước và thực tiễn công cuộc đổi mới đã tạo ra một không khí khởi sắc cho khoa học Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Trong sự sôi động của các hoạt động nghiên cứu về lịch sử Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật vẫn tiếp tục giữ được vị trí vốn có của mình.

Kết quả là mỗi năm, thường có từ 3 đến 5 đề tài cấp viện được triển khai nghiên cứu về các chủ đề như: Lịch sử hình thành, bản chất, kiểu của Nhà nước và pháp luật đầu tiên trong lịch sử Việt Nam; Lịch sử tư tưởng chính trị- pháp lý Việt Nam; Lịch sử quan chế Việt Nam trong thời kỳ phong kiến; Lịch sử xây dựng và phát triển của chính quyền địa phương ở Việt Nam; Lịch sử pháp luật Việt Nam; Truyền thống dân chủ làng xã; Lịch sử hình thành và phát triển chính quyền Nhà nước vùng Nam Bộ; Lịch sử tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp từ Cách mạng tháng Tám đến nay... Đặc biệt, trong 02 năm (2003-2004) chuyên ngành Lịch sử Nhà nước và pháp luật đã tổ chức thực hiện thành công đề tài cấp Bộ: “Sự phát triển của khoa học pháp lý Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” do nghiên cứu viên chính Trần Thị Tuyết làm chủ nhiệm. Trong 2008-2009 Phòng đã nghiên cứu thành công đề tài khoa học cấp Bộ: Bước đầu nghiên cứu lịch sử nhà nước ở vùng đất Nam Bộ Việt Nam. Do PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương làm chủ nhiệm. Sự khởi sắc của chuyên ngành Lịch sử nhà nước và pháp luật còn thể hiện ở số lượng và chất lượng các ấn phẩm khoa học được công bố trong thời gian qua. Cụ thể trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007 đã có hơn 30 bài báo khoa học bàn về các khía cạnh khác nhau của lịch sử Nhà nước và pháp luật do đội ngũ chuyên gia của Viện Nhà nước và pháp luật công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Từ năm 2007 đến 2017 các thành viên trong Phòng cũng đã công bố gần 30 bài báo khoa học về các vấn đề liên quan đến các hiện tượng nhà nước và pháp luật trong lịch sử Việt Nam. Các bài báo đều được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành có uy tín.

Trong quá trình nghiên cứu lĩnh vực lịch sử nhà nước và pháp luật, các chuyên gia của Viện Nhà nước và pháp luật cũng đã biên soạn hàng chục cuốn chuyên khảo đề cập ở các mức độ khác nhau vấn đề lịch sử Nhà nước và pháp luật. Trong đó, tiêu biểu là các cuốn sau:

- “Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ XV- XVIII” của tập thể tác giả Viện Nhà nước và pháp luật (GS. TS Đào Trí Úc chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, H., 1994. Đây là công trình nghiên cứu sâu về một giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của pháp luật Việt Nam thời phong kiến mà đỉnh điểm là sự ra đời và tồn tại của Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật nhà Lê). Tình trạng và nội dung của pháp luật thời kỳ này đã được các tác giả phân tích một cách khá toàn diện và cụ thể thông qua các bài viết tập trung vào những chủ đề sau: Quan điểm và phương pháp tiếp cận chủ yếu khi nghiên cứu lịch sử pháp luật của nhà nước Việt Nam giai đoạn thế kỷ XV- XVIII; Pháp luật với xã hội Việt Nam từ thế kỷ XV – XVIII; Tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương  thời Lê Sơ (thế kỷ XV) qua các văn bản pháp luật; Tổ chức bộ máy Nhà nước ở trung ương thời vua Lê chúa Trịnh qua các văn bản pháp luật; Pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương triều Lê; Pháp luật về thuế; Pháp luật về chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất; Pháp luật tố tụng; pháp luật hôn nhân và gia đình... 

- “ Một số văn bản pháp luật Việt Nam  thế kỷ XV- thế kỷ XVIII, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1994. Cuốn sách là công trình dịch thuật một số văn bản pháp luật chủ yếu do Viện Nhà nước và pháp luật chủ trì. Các văn bản được chọn dịch và giới thiệu bao gồm: Lê triều hội điển, Thiên Nam dư hạ tập (trích dịch), Quốc triều thư khế thể thức, Quốc triều khám tụng điều lệ. Đây là lần đầu tiên các văn bản này được dịch, chú giải đầy đủ và chính thức công bố.

-  “Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật”của tập thể tác giả Viện Nhà nước và pháp luật (GS.TS. Đào Trí Úc chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, H., 1995. Cuốn sách gồm 18 chương đề cập nhiều vấn đề trong đó có chương IV “Lịch sử hình thành Nhà nước Việt Nam” và chương XVI “Khái quát về lịch sử pháp luật Việt Nam”. Hai chương này cung cấp những hiểu biết khái quát và cơ bản về lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, có giá trị như một sự tập hợp mang tính tổng kết các kết quả nghiên cứu trong những nội dung này.

- “Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới” của GS.TSKH. Đào Trí Úc, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1997. Trong cuốn sách này, vấn đề nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật đã được đề cập một cách hệ thống trong các chương IV và IX. Tác giả đã bàn sâu về các vấn đề như: tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân đối với quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước; tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò và trách nhiệm của Nhà nước phục vụ nhân dân; tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm tổ chức và hoạt động của nhà nước để thực hiện trách nhiệm và vai trò của mình; tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, tiêu chuẩn của những người lãnh đạo, của các cán bộ Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, tận tuỵ phục vụ nhân dân; tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò và tác dụng của pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh về cách thức để ban hành pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp chế và ý thức pháp luật. Những nội dung này đã góp phần quan trọng khởi xướng một hướng nghiên cứu mới về lịch sử tư tưởng chính trị- pháp lý Việt Nam - hướng nghiên cứu vốn được coi là lĩnh vực tế nhị nhất trong việc nghiên cứu đánh giá các yếu tố truyền thống và do vậy chưa được lưu tâm đúng mức trong các giai đoạn trước đây.  Ngoài ra, cuốn sách còn dành chương XIII nghiên cứu về hương ước và mối quan hệ giữa hương ước với pháp luật, chương XIV. Mục 1 nghiên cứu về phương pháp tiếp cận khi nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam.

- “Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay”  của tập thể tác giả do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2003. Từ góc độ tiếp cận của khoa học Lịch sử nhà nước và pháp luật, cuốn sách đã giải mã và kết luận về nhiều vấn đề gây tranh luận khoa học liên quan tới bản chất, vai trò, giá trị của hương ước, mối quan hệ giữa hương ước và pháp luật, mối quan hệ giữa hương ước với các loại quy phạm khác, vai trò và xu hướng tác động của hương ước ở nông thôn Việt Nam hiện nay.

- Cuốn chuyên khảo: “Thiết chế chính trị - pháp lý thời Lê sơ (1428 – 1527” (2017) do TS. Trương Vĩnh Khang làm chủ biên, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 2017. Từ góc độ khoa học, với việc phân tích và giải mã một cách thỏa đáng những vấn đề chính trị - pháp lý giai đoạn này cuốn sách góp phần khẳng định những ưu điểm và hạn chế của thiết chế chính trị - pháp lý truyền thống của dân tộc Việt Nam trong lịch sử, một mặt bổ sung cơ sở để lý giải thực trạng đời sống chính trị - pháp luật của Việt Nam trong quá khứ, mặt khác quan trọng hơn, tiếp thu những giá trị trong di sản chính trị - pháp lý của dân tộc nhằm củng cố những cơ sở khoa học để đề xuất những giải pháp hữu cho công cuộc xây dựng nhà nước và pháp luật ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới…

Nhìn chung, các ấn phẩm đều có hàm lượng khoa học cao, bao gồm nhiều nội dung nghiên cứu vừa mang tính chất cơ bản, toàn diện, vừa mang tính chất trọng điểm, phản ánh ba hướng nghiên cứu chủ đạo: 1/ nghiên cứu những đặc điểm và kinh nghiệm lịch sử của việc xây dựng và hoạt động Nhà nước, của việc xây dựng và thực thi pháp luật trong các thời kỳ lịch sử, tiêu điểm là thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay; 2/ nghiên cứu về hương ước, luật tục; 3/ bước đầu nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị- pháp lý và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống Nhà nước và pháp luật hiện nay. Thông qua các ấn phẩm đó, nhiều quan điểm, kết luận khoa học về những vấn đề tồn nghi của lịch sử đã được khẳng định và đạt được sự thừa nhận chung.

Trong đà phát triển của hoạt động nghiên cứu, Viện Nhà nước và pháp luật đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học nhằm thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề thuộc lĩnh vực Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Tiêu biểu là cuộc Hội thảo “Hương ước và quá trình dân chủ hóa nông thôn ở Việt Nam” (năm 2003) thu hút sự tham gia của nhiều nhà khoa học Nhật Bản và Hàn Quốc. Các cán bộ của Viện cũng tích cực tham gia và tham luận trong nhiều cuộc hội thảo trong nước về các chủ đề liên quan đến lĩnh vực Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Ngoài ra, các cán bộ của Viện cũng tham gia tích cực vào việc nghiên cứu các đề tài, các Hội đồng đánh giá đề cương và Hội đồng nghiệm thu các đề tài nghiên cứu về lịch sử Nhà nước và pháp luật do Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp),Trường Đại học Quốc gia, Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Hành chính quốc gia.. .chủ trì.

2.4.2. Kết quả về đào tạo về lịch sử nhà nước và pháp luật

Trên cơ sở của các kết quả nghiên cứu, Viện Nhà nước và pháp luật mà nòng cốt là phòng nghiên cứu Lịch sử Nhà nước và pháp luật thời kỳ trước đây đã biên soạn chương trình, đề cương và trực tiếp giảng các chuyên đề lịch sử Nhà nước và pháp luật thuộc chương trình đào tạo Cao học Luật tại Viện Nhà nước và pháp luật, khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Từ năm 1980 đến nay, các cán bộ của phòng nghiên cứu Lịch sử Nhà nước và pháp luật là lực lượng chủ đạo trong việc biên soạn giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam và giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, đồng thời tham gia giảng hai môn này cho trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Huế, các nhà khoa học đã tham gia giảng dạy đại học và sau đại học tại nhiều cơ sở đào tạo luật học (Học viện Khoa học xã hội; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Học viện Hành chính Quốc gia; Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Luật Hà Nội; Viện đại học mở Hà Nội; Đại học Huế; Khoa Luật Đại học Vinh… Đồng thời đã tham gia hướng dẫn thành công các nghiên cứu sinh và học viên cao học thực hiện một số đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành lịch sử nhà nước và pháp luật như: Tư tưởng chính trị – pháp lý ở làng xã cổ truyền Việt Nam; Tư tưởng lập hiến của một số phong trào đấu tranh giành độc lập trước Hiến pháp 1946; Vai trò của hương ước trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam; Các giá trị đương đại của bộ Luật Hồng Đức; Giá trị đương đại trong tư tưởng về nhà nước và pháp luật của Lê thánh Tông; Cải cách hành chính và mô hình tổ chức Nhà nước thời Lê Sơ. Các cán bộ của Viện cũng trực tiếp hướng dẫn một số sinh viên của các cơ sở đào tạo Luật làm luận văn tốt nghiệp về các đề tài thuộc lĩnh vực Lịch sử Nhà nước và pháp luật.

3. Định hướng nghiên cứu trong thời gian tới

3.1. Định hướng nghiên cứu lý luận về nhà nước

- Nghiên cứu chức năng của nhà nước trong bối cảnh mới, hướng nghiên cứu này cần tập trung vào chức năng kinh tế của nhà nước, đưa ra phương hướng và giải pháp xác định rõ phạm vi cũng như mức độ hoạt động của nhà nước, góp phần tăng cường hiệu lực và hiệu quả thực hiện chức năng của nhà nước. Nội dung nghiên cứu cụ thể gồm: Làm rõ vị trí, vai trò của nhà nước ta trong đời sống xã hội nói chung, trong nền kinh tế thị trường nói riêng; Phân tích những nhận thức và thực tiễn thực hiện chức năng của nhà nước ta qua các giai đoạn phát triển từ 1945 đến nay; Phân tích lý luận về sự chuyển đổi các chức năng của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Đánh giá toàn bộ quá trình tổ chức và thực hiện chức năng Nhà nước trong giai đoạn vừa qua và hiện tại, chỉ ra các thiếu sót và hạn chế; Làm rõ các mặt hoạt động cũng như mức độ và phạm vi của hoạt động đó của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay; Đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh hoạt động và tăng cường hiệu lực hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

- Nghiên cứu vấn đề đổi mới hệ thống chính trị, bao gồm các nội dung:  Xác định rõ hơn các thành tố trong hệ thống chính trị nước ta, vị trí vai trò của từng thành tố; xu hướng phát triển của hệ thống chính trị trong bối cảnh mới; Đổi mới cơ cấu, tổ chức, phương thức hoạt động của từng thành tố trong hệ thống chính trị; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực quản lý của nhà nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

- Nghiên cứu về nhà nước, pháp luật và dân chủ: bao gồm mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân; Pháp luật và dân chủ.

- Nghiên cứu vấn đề quản trị quốc gia: Quản trị quốc gia và phát triển xã hội; Chất lượng quản trị quốc gia; Tập trung và phi tập trung hóa; Phòng, chống tham nhũng, khắc phục tệ quan liêu…

3.2. Định hướng nghiên cứu lý luận về pháp luật

Toàn cầu hóa và những thách thức về phương diện pháp luật nảy sinh từ quá trình toàn cầu hóa đang đặt ra cho Việt Nam không ít bài toán cần phải giải trong mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương và giải pháp cải cách hệ thống pháp luật quốc gia. Với tinh thần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, Nhà nước ta đang tích cực cải cách pháp luật, cải cách các thể chế pháp lý để một mặt đáp ứng các yêu cầu cải cách kinh tế trong nước, mặt khác làm cho pháp luật nước ta nhanh chóng tương thích với các chuẩn mực pháp luật khu vực và quốc tế, tạo thế chủ động trong các quan hệ hợp tác quốc tế hiện nay. Để làm được việc này, đòi hỏi không chỉ ở quyết tâm chính trị trong các chủ trương cải cách pháp luật mà phải được tiến hành trên các cơ sở và luận cứ khoa học và thực tiễn đúng đắn, với một lộ trình xác định và nhất là của sự đổi mới tư duy pháp lý.

Trên tinh thần đó, hàng loạt vấn đề mới đang đặt ra trong hoạt động lập pháp ở nước ta cần được làm sáng tỏ và lý giải tường tận về mặt lý luận, cần phải tiến hành tổng kết thực tiễn để rút ra những kinh nghiệm khái quát góp phần hình thành mô hình pháp luật của nước ta.

Trước mắt, trong thời gian tới, hoạt động nghiên cứu lý luận pháp luật cần chú trọng những khía cạnh sau:

- Nghiên cứu vai trò, giá trị và chức năng của pháp luật, trong đó là rõ những vấn đề như: Vai trò của pháp luật; giá trị của pháp luật; Các chức năng của pháp luật;

- Nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật hiện nay, trong đó tập trung nghiên cứu những vấn đề: Phương pháp luận của nghiên cứu các xu hướng phát triển của pháp luật; Các xu hướng phát triển của pháp luật hiện nay trên phạm vi toàn cầu, khu vực và quốc gia;

- Nghiên cứu các nguồn của pháp luật và giá trị của các loại nguồn luật:  Đạo luật trong hệ thống pháp luật; Hợp đồng trong hệ thống các nguồn luật; Thực tiễn xét xử với tư cách là một nguồn luật; Án lệ trong hệ thống các nguồn luật; Tập quán pháp; Học thuyết pháp lý và các loại nguồn khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

3.3. Những định hướng nghiên cứu về xã hội học pháp luật

Thời gian tới, hoạt động nghiên cứu lĩnh vực này cần tập trung theo hướng sau:

- Chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay, trong đó làm rõ những vấn đề như: Những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật: quan niệm về chính sách pháp luật; các mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, các phương tiện (công cụ) của chính sách pháp luật; các hình thức thực hiện chính sách pháp luật; Thực trạng chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay; Chiến lược phát triển của chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay.

- Văn hóa pháp luật, tập trung vào những vấn đề: Lý luận về văn hóa pháp luật; Văn hóa pháp luật và xây dựng pháp luật; Văn hóa pháp luật và thực hiện pháp luật; Văn hóa pháp luật và lối sống, hành vi pháp luật.

3.4. Định hướng nghiên cứu về lịch sử nhà nước và pháp luật

Trong bối cảnh hiện nay, nội dung nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật phải hướng tới khắc phục những bất cập trong hoạt động nghiên cứu, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu hiểu biết về di sản nhà nước và pháp luật và phúc đáp kịp thời đòi hỏi của tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Theo đó, định hướng nghiên cứu của chuyên ngành lịch sử nhà nước và pháp luật tập trung vào một số trọng điểm sau:

- Nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị – pháp lý và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống Nhà nước và pháp luật hiện nay.

- Nghiên cứu giá trị đương đại của các thiết chế chính trị trong lịch sử và khả năng kế thừa trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay;

- Nghiên cứu các thiết chế chính trị- pháp lý cổ truyền vùng Nam Bộ;

- Nghiên cứu các khía cạnh của truyền thống pháp luật Việt Nam: vị trí, vai trò của pháp luật trong toàn bộ các chuẩn giá trị xã hội của xã hội truyền thống; văn hóa pháp luật truyền thống; đặc điểm về nguồn và hình thức pháp luật, cách thức xây dựng và ban hành, thực hiện pháp luật trong xã hội Việt Nam truyền thống; nội dung cơ bản của pháp luật trong các giai đoạn phát triển của lịch sử pháp luật; hương ước, luật tục...

- Nghiên cứu lịch sử tổ chức Nhà nước và pháp luật của các nước trong khu vực và sự tương tác với Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật của một số nước ở những thời kỳ tương đồng với trình độ phát triển của Việt Nam hiện nay.  

 

(Nguồn: Sách "Viện Nhà nước và Pháp luật - 50 năm xây dựng và phát triển")