•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hoạt động nghiên cứu pháp luật dân sự

20/10/2017
Tư pháp dân sự là một trong những định hướng nghiên cứu của Viện Nhà nước và pháp luật được quan tâm phát triển từ rất sớm, và dù có những bước thăng trầm nhưng vẫn in đậm dấu ấn lịch sử qua các công trình nghiên cứu của các bậc tiền bối, các cộng tác viên lão thành và tích cực của Viện Luật học. Có thể nói quá trình phát triển chuyên ngành tư pháp dân sự của Viện phần nào phản ánh sự phát triển khoa học pháp lý dân sự ở nước ta từ trước đến nay.

1. Quá trình hình thành và phát triển

Tư pháp dân sự là một trong những định hướng nghiên cứu của Viện Nhà nước và pháp luật được quan tâm phát triển từ rất sớm, và dù có những bước thăng trầm nhưng vẫn in đậm dấu ấn lịch sử qua các công trình nghiên cứu của các bậc tiền bối, các cộng tác viên lão thành và tích cực của Viện Luật học. Có thể nói quá trình phát triển chuyên ngành tư pháp dân sự của Viện phần nào phản ánh sự phát triển khoa học pháp lý dân sự ở nước ta từ trước đến nay.

Ngay từ năm 1959, trong Tổ Luật học trực thuộc Ủy ban khoa học Nhà nước đã có phân tổ Dân luật do Luật gia Vũ Đình Hòe làm phân tổ trưởng.

Năm 1967, Viện Luật học được thành lập, Tổ Dân luật là một trong những bộ phận nghiên cứu cơ bản của Viện. Trong những năm đầu mới thành lập, lực lượng chuyên gia của Viện nói chung, của Tổ Dân luật nói riêng còn rất ít. Vì vậy, sự cộng tác với các chuyên gia, các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở các nơi khác là phương thức tối ưu để triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu các đề tài khoa học Tư pháp dân sự.

Năm 1992, phòng nghiên cứu Tư pháp dân sự được thành lập, do đồng chí Hà Thị Mai Hiên làm trưởng phòng. Năm 2012, đồng chí Đinh Thị Duy Thanh được bổ nhiệm làm trưởng phòng. Từ năm 2016 đồng chí Dương Quỳnh Hoa đảm nhiệm vị trí trưởng phòng. Phòng nghiên cứu Tư pháp dân sự là một trong những phòng nghiên cứu chuyên môn, có nhiệm vụ triển khai định hướng nghiên cứu cơ bản về Tư pháp dân sự, bao gồm Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và các thiết chế Tư pháp dân sự. Sự ra đời của phòng nghiên cứu Tư pháp dân sự là một bước phát triển mới nhằm triển khai kế hoạch kiện toàn tổ chức và định hướng nghiên cứu của Viện Nhà nước và pháp luật, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản của Viện, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới và sự phát triển của khoa học pháp lý nói chung, khoa học tư pháp dân sự nói riêng.

2. Những thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực tư pháp dân sự

Trong khoảng thời gian đầu những năm 70 cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ 20, do tác động của nền kinh tế kế hoạch hóa với việc xác định chế độ công hữu và các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, Luật kinh tế ra đời và nhu cầu điều chỉnh pháp luật dân sự thu hẹp lại, việc nghiên cứu Tư pháp dân sự lại hạn chế. Do vậy, trong khoảng thời gian này, trong cơ cấu tổ chức của Viện Luật học không có phòng chuyên môn nghiên cứu về Luật Dân sự. Tư pháp dân sự không được xác định là một định hướng nghiên cứu độc lập nhưng việc nghiên cứu vẫn được tiến hành. Sự ảnh hưởng của các điều kiện khách quan và chủ quan đối với sự phát triển khoa học về Tư pháp Dân sự là rất rõ. Trong điều kiện của cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp, Luật dân sự và tố tụng dân sự có đối tượng, phạm vi điều chỉnh rất hạn hẹp.

Bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI (1986), sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo là bước ngoặt quan trọng cho một thời kỳ mới, thời kỳ đổi mới tư duy, cải cách kinh tế- xã hội, cải cách hệ thống chính trị theo hướng dân chủ hóa. Cùng với quá trình đổi mới đó là sự phát triển thích ứng hệ tư tưởng và quan điểm khoa học, đặc biệt là khoa học pháp lý. Xuất phát từ yêu cầu khách quan, khoa học pháp lý về dân sự và tố tụng dân sự trong thời kỳ này đã có sự thay đổi cơ bản tạo bước ngoặt mới cho sự phát triển của nó. Có thể nói định hướng sự nghiệp đổi mới đã làm sống dậy nền khoa học pháp lý nhà nước nói chung, khoa học luật dân sự và tố tụng dân sự nói riêng. Sự thay đổi căn bản về chế độ sở hữu và phát triển kinh tế đã làm thay đổi các quan điểm và nhu cầu về điều chỉnh pháp luật. Với sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường hội nhập và hợp tác quốc tế đã làm phát sinh nhu cầu tăng cường hiệu lực, phạm vi và đối tượng của Tư pháp dân sự. Với nhu cầu cải cách, phát triển hệ thống pháp luật, việc triển khai nghiên cứu khoa học pháp lý trong thời kỳ này đã tập trung nhiều hơn vào các lĩnh vực Tư pháp dân sự. Trong giai đoạn này, các cán bộ nghiên cứu của Viện đã có rất nhiều bài nghiên cứu về tư pháp dân sự và có nhiều đóng góp cho việc hình thành và thể hiện các quan điểm về vấn đề sở hữu, hợp đồng, đất đai, đầu tư, thủ tục tố tụng dân sự…Tuy nhiên, trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, các công trình khoa học chỉ tập trung lý giải sự cần thiết ghi nhận chế độ sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh, tăng cường các nguyên tắc tư pháp dân sự trong điều chỉnh pháp luật, các quan hệ tài sản, nghĩa vụ hợp đồng…trong năm 1989, cố PGS.TS.Trần Trọng Hựu đã có bài viết: “cơ cấu sở hữu và cơ chế kinh tế- Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/1989. Bài viết của cố GS. Nguyễn Ngọc Minh: “Một số ý kiến về xây dựng Bộ luật dân sự ở nước ta”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/1989.

Kể từ khi thành lập phòng nghiên cứu Tư pháp dân sự năm 1992, việc nghiên cứu Tư pháp dân sự của Viện đã được triển khai một cách có hệ thống hơn. Nhiều đề tài đã được triển khai nghiên cứu nhằm làm rõ mối quan hệ giữa thị trường và pháp luật, những cơ sở lý luận và thực tiễn của Bộ luật dân sự nói chung, của các chế định cụ thể như sở hữu, hợp đồng, thừa kế… nói riêng. Điển hình là công trình nghiên cứu: “thị trường và pháp luật” của GS. TSKH. Đào Trí Úc[1]; “Về quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất” của PGS. TS. Hoàng Thế Liên[2]; “Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu”, “Bàn về những hình thức thực hiện quyền sở hữu ở nước ta” của PGS. TS Hà Thị Mai Hiên[3]; “Một số vấn đề cơ bản về Bộ luật dân sự Việt Nam” của GS. TSKH. Đào Trí Úc[4]. Các đề tài và các công trình này đã góp phần đáng kể vào việc hoàn thiện hệ thống tư pháp dân sự trong thời kỳ đầu của sự nghiệp đổi mới. Các công trình này đã đưa ra được một số quan điểm lớn như sau: Dân sự hóa điều chỉnh pháp luật các quan hệ tài sản, hợp đồng trong đó có đất đai và quyền sử dụng đất; Đa dạng hóa các hình thức sở hữu và các hình thức thực hiện quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh; Tư pháp hóa các hình thức thủ tục tố tụng trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự trên cơ sở quyền bình đẳng và tự định đoạt của các đương sự; Hài hóa hóa các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Đặc biệt, sau khi Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành và bắt đầu có hiệu lực, nhiều công trình khoa học đã được thực hiện để công bố những kiến giải khoa học về các quy định của Bộ luật dân sự. Nhiều đề tài mang tính lý luận và thực tiễn cao trong đó không thể không nhắc đến đề tài cấp Bộ do Viện chủ trì thực hiện, đó là “Những vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự Việt Nam” do PGS. TS. Trần Đình Hảo làm chủ nhiệm (1995-1997). Đề tài đã nghiên cứu, làm rõ các quy định của Bộ luật dân sự về các quyền nhân thân của cá nhân, phân tích các phương thức bảo vệ quyền nhân thân và cơ chế bảo vệ quyền nhân thân, vai trò của toà án theo quy định của pháp luật, nêu kiến nghị hoàn thiện về thẩm quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêng. Những nghiên cứu trong khoa học pháp luật dân sự và tố tụng dân sự thời kỳ này đa dạng và gắn bó, cập nhật với thục tiễn xã hội, mở rộng theo hướng nghiên cứu liên ngành, đa ngành, có ý nghĩa ứng dụng nhiều hơn so với thời kỳ trước.

Vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều vấn đề xuất phát từ thực tiễn cuộc sống đặt ra đòi hỏi khoa học luật dân sự và tố tụng dân sự nước ta cần phải nghiên cứu làm sáng tỏ. Đặc biệt sau khi Việt Nam hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng với quốc tế và khu vực, khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ, điều đó đặt ra những cơ sở pháp lý cho sự phát triển bền vững. Những mâu thuẫn trong pháp luật thực định về tài sản, hợp đồng, thẩm quyền xét xử, cơ chế giải quyết tranh chấp…ngày càng bộc lộ găy gắt. Trong những năm này, các công trình nghiên cứu tập trung và luận chứng cho sự thống nhất hệ thống luật tư, đồng thời thống nhất thủ tục tố tụng tư pháp dân sự. Vì vậy, các công trình, các đề tài đã có những luận bàn, kiến nghị về một quá trình hệ thống hóa, pháp điển hóa pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự, cải cách tư pháp nói chung, tư pháp dân sự nói riêng.

Bắt đầu từ năm 2000, trước yêu cầu của cải cách hệ thống tư pháp dân sự, Viện Nhà nước và pháp luật đã tổ chức hội thảo khoa học ”Những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư pháp dân sự trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam”. Hội thảo được đánh giá là thành công khi bàn về những khái niệm cơ bản của tư pháp dân sự, những yêu cầu của cải cách hệ thống tư pháp dân sự trong thời kỳ đổi mới. Đa số các học giả tham dự hội thảo đã có sự thống nhất trong quan điểm nghiên cứu liên ngành về khái niệm tư pháp dân sự vừa mang tính học thuật, vừa mang những nội dung tổng quát, gắn bó mật thiết với nhau, đó là các yếu tố pháp luật về nội dung, pháp luật tố tụng và pháp luật về tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp dân sự. Định hướng nghiên cứu này tạo một cách nhìn tổng thể và có hệ thống đối với các bộ phận hợp thành trong cơ chế điều chỉnh pháp luật các quan hệ kinh tế- xã hội vốn đa dạng, phong phú, năng động và trong mối quan hệ đan xen, phổ biến.

Bước sang những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, sự phát triển của kinh tế xã hội nhanh chóng tạo khoảng cách, sự không thích ứng, không đồng bộ trong cơ chế quản lý, đặc biệt là không đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Các đối tác đầu tư kinh tế quan tâm nhiều đến một hệ thống pháp luật đồng bộ, ổn định, một cơ chế đảm bảo thực thi các quyền và nghĩa vụ chủ thể khi tham gia các hoạt động kinh tế- thương mại- dân sự. Có nhiều công trình khoa học quan tâm hơn đến thủ tục tố tụng, đặc biệt là tố tụng dân sự, và tổ chức tòa án nhân dân. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu cấp Viện của phòng Tư pháp dân sự như: Các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam, Chứng cứ và hoạt động chứng minh và vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự;…và một số công trình khác nữa.

Để chuẩn bị cho viêc cung cấp luận cứ khoa học làm cơ sở xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam, cuối năm 2000, đầu năm 2001, Viện Nhà nước và pháp luật đã chủ trì nghiên cứu đề tài cấp bộ “Những quan điểm cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam” do TS. Hà Thị Mai Hiên làm chủ nhiệm. Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam; nêu rõ sự cần thiết ban hành Bộ luật dân sự và coi đó là bước đột phá trong quá trình cải cách hệ thống tư pháp nói chung và tư pháp dân sự nói riêng. Đề tài đã giải mã cho câu hỏi làm thế nào để tư pháp dân sự có thể hỗ trợ được quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống, bảo đảm sự bình yên của nhân dân, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích chính đáng của con người. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định trong hệ thống tư pháp dân sự, vấn đề tổ chức và hoạt động xét xử của tòa án là rất quan trọng, nhưng tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án, bổ trợ tư pháp cũng có vị trí không kém. Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của đổi mới tư pháp và tư pháp dân sự là đảm bảo đổi mới đồng bộ với tất cả các khâu của hệ thống tư pháp. Điều quan trọng là, đề tài đã có một bản kiến nghị đề xuất về định hướng phát triển khoa học Tư pháp dân sự, về pháp điển hóa, về xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự nói chung, các chế định cơ bản của nó, các nguyên tắc của tố tụng dân sự, thẩm quyền của tòa án, vai trò của tòa án, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, Viện kiểm sát và kiểm sát viên, luật sư, giám định viên, người phiên dịch, đương sự …Đề tài đã nhấn mạnh đến nguyên tắc độc lập của tòa án, về hai cấp xét xử của tòa án và tổ chức hệ thống tòa án, về giai đoạn thi hành án trong tố tụng dân sự…Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã có những đóng góp đáng kể cho việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

Việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự trong bối cảnh Quốc hội thông qua Hiến pháp sửa đổi khẳng định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đã đặt ra nhiều vấn đề mang tính lý luận cần giải đáp, đó là nguyên tắc xét xử tập thể, nguyên tắc quyền tự định đoạt và nhiều nguyên tắc khác. Ngoài ra, việc xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật tố tụng dân sự cũng đang là một trong những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Đây cũng là một nội dung nghiên cứu của đề tài cấp Bộ của Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật trong năm 2003 “cải cách tư pháp và việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực dân sự” do PGS. TS. Hà Thị Mai Hiên làm chủ nhiệm.

Tiếp theo mạch nghiên cứu về tư pháp dân sự, đề tài ”Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tư pháp dân sự ở Việt Nam hiện nay” do PGS. TS. Hà Thị Mai Hiên làm chủ nhiệm được thực hiện năm 2007-2008. Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy đây là một hướng nghiên cứu liên ngành cho phép tiếp cận hệ thống tư pháp trong mối liên hệ hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn, giữa pháp luật thực định với đời sống pháp luật, giữa luật vật chất với luật về hình thức, thủ tục và thiết chế, tổ chức đảm bảo cho pháp luật đi vào đời sống. Tư pháp dân sự là một bộ phận của hệ thống tư pháp, là yếu tố thuộc kiểu cấu trúc thượng tầng tư tưởng, chính trị, pháp lý được xây dựng trên nền tảng và chịu sự chi phối của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với các chủ sở hữu độc lập, nó chỉ có thể phát triển khi trong xã hội có sự tôn trọng quyền tự do, bình đẳng, dân chủ của các cá nhân, sở hữu tư nhân và tự do hợp đồng, tự do kinh doanh. Mặt khác, tư pháp dân sự là phương thức bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền tự do, bình đẳng của cá nhân, quyền sở hữu tài sản và tự do kinh doanh của các chủ thể. Tư pháp dân sự là hệ thống các nguyên tắc, các định chế và thể chế nhà nước và pháp luật mà tổ chức và hoạt động của hệ thống đó tập trung ở việc xét xử nhằm đảm bảo công lý, quyền con người được thực hiện trên thực tế. Đề tài cũng rút ra kết luận rằng từ phương diện chức năng, tư pháp dân sự là một hệ thống của quá trình áp dụng pháp luật trong lĩnh vực dân sự, tập trung ở hoạt động xét xử của tòa án trong khuôn khổ của quy trình thủ tục do luật định trên cơ sở quyền tự định đoạt của đương sự, căn cứ vào tình tiết của các vụ việc cụ thể, vào quy định của pháp luật và niềm tin nội tâm của mình mà thẩm phán và hội đồng xét xử đánh giá những vấn đề pháp lý, đưa ra những quyết định có tính bắt buộc đối với mỗi chủ thể trong xã hội. Đề tài cũng đưa ra một số hướng nghiên cứu tiếp theo đó là chế độ pháp lý về tài sản và sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tố tụng tranh tụng và địa vị pháp lý của luật sư, tổng kết quá trình hệ thống hóa và thực hiện pháp luật về dân sự, mối quan hệ giữa pháp luật dân sự và luật đất đai... nhằm cung cấp những luận cứ khoa học cho quá trình thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

Đề tài ”Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn 2011- 2020” do PGS. TS. Nguyễn Đức Minh làm chủ nhiệm (2009-2010). Đề tài đã được hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt loại xuất sắc. Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền tư pháp, đề tài đánh giá thực trạng tổ chức và thực hiện quyền tư pháp và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền tư pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa giai đoạn 2011-2020. Thành công lớn nhất của đề tài là đã đưa ra được mô hình tổ chức và thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam bao gồm mô hình nhận thức, mô hình mối quan hệ giữa quyền tư pháp với quyền lập pháp, quyền hành pháp, giữa hệ thống tư pháp với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị, mô hình tổ chức bộ máy thực thi quyền tư pháp, mô hình quản lý hành chính cơ quan tư pháp. Đề tài cũng đã đưa ra được những giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quyền tư pháp.

Tiếp tục mạch nghiên cứu về quyền tư pháp nhưng ở lát cắt khác, Viện Nhà nước và pháp luật đã triển khai nghiên cứu đề tài ”Cơ sở pháp lý đảm bảo sự độc lập xét xử của tòa án trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” do PGS. TS. Bùi Nguyên Khánh làm chủ nhiệm (2013-2014). Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy để đảm bảo độc lập xét xử của toà án, cần mở rộng quyền tư pháp và thiết lập cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng cơ chế tài phán hiến pháp; tòa án phải có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật; Tòa án cần được mở rộng thẩm quyền tài phán đối với tất cả các quyết định hành chính, quyết định hành chính tư pháp của các cơ quan nhà nước, hành vi hành chính của công chức, viên chức; cần đổi mới nhận thức và phương thức tổ chức hệ thống tài phán ở nước ta hiện nay. Đổi mới nhận thức và phương thức giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân với hoạt động tư pháp; đổi mới cơ chế quản lý tòa án địa phương cũng như phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác xét xử. Đề tài cũng đã chỉ ra rằng để đảm bảo sự độc lập của quyền lực tư pháp thì cần phải có ít nhất hai yếu tố cơ bản: Một là ghi nhận và khẳng định vị thế pháp lý và thẩm quyền của quyền lực tư pháp cân bằng và kiểm soát đối với quyền lập pháp và quyền hành pháp. Hai là, việc thực thi quyền lực tư pháp không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các quyết định chính trị . 

Trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, BLDS 2005 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung. Trong quá trình sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2005, nhiều đề tài khoa học đã được triển khai, đặc biệt liên quan đến vấn đề tài sản, sở hữu, hợp đồng, sở hữu trí tuệ.

Để làm cơ sở cho việc sửa đổi bộ luật dân sự năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành BLDS năm 2005. Trên cơ sở đó, Viện Nhà nước và pháp luật đã thực hiện nhiệm vụ cấp Bộ “Tổng kết thi hành BLDS năm 2005” do TS. Dương Quỳnh Hoa làm chủ nhiệm (2013). Việc tổng kết này được coi là hoạt động quan trọng nhằm đánh giá tác động của BLDS tới sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; tác động của phát triển kinh tế – xã hội đến các quan hệ dân sự và quy định của BLDS; mối liên hệ giữa BLDS với các luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế có liên quan; những thành công, cũng như những hạn chế trong quy định và tổ chức thực hiện Bộ luật; xác định những vấn đề phát sinh trong thực tiễn và đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể để xử lý các vấn đề này một cách có hiệu quả.

Ngay sau khi Bộ luật dân sự năm 2015 được ban hành, để đáp ứng việc triển khai thi hành kịp thời, thống nhất và hiệu quả Bộ luật dân sự với rất nhiều quy định mới, đột phá, có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện. Đa số các công trình này trình bày những điểm mới cũng như những tiến bộ của Bộ luật dân sự năm 2015 so với Bộ luật dân sự năm 2005. Viện Nhà nước và pháp luật, nòng cốt là các cán bộ của phòng pháp luật dân sự đã thực hiện nhiệm vụ cấp Bộ “Triển khai thi hành Bộ luật dân sự năm 2015” do TS. Dương Quỳnh Hoa làm chủ nhiệm (2016). Nhiệm vụ đã đánh giá việc triển khai thực hiện Bộ luật dân sự sau một năm thi hành trên cơ sở tổng quan những quan điểm khoa học nhằm phục vụ việc triển khai thi hành BLDS, đến công tác thực tiễn như tuyên truyển, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm triển khai BLDS, tổng quan công tác rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan từ đó có những kiến nghị ban hành mới, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Điều đặc biệt là đề tài đã đưa ra được một số hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự. Đề tài được hội đồng nghiệm thu xếp loại khá.

Song song với việc thực hiện đề tài trên, Viện Nhà nước và pháp luật triển khai đề tài cấp Bộ ”Bảo đảm quyền tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” do TS. Trần Văn Biên làm chủ nhiệm (2015-2016).

Qua nhiều công trình khoa học, các cuộc hội thảo, các cán bộ nghiên cứu của phòng pháp luật dân sự đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình xây dựng Bộ luật dân sự năm 2005 và 2015, có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Một số ý kiến về chế định hợp đồng vay tài sản trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)[5]; Mấy ý kiến góp ý cho các quy định của dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) về hợp đồng vay tài sản[6];Về hụi, họ trong dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) [7]

Trong những năm gần đây, định hướng nghiên cứu Tư pháp dân sự ngày càng được tăng cường gắn liền với yêu cầu xây dựng thể chế thị trường nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự, bảo đảm quyền tự do của cá nhân và thực hiện chiến lược cải cách tư pháp. Trong lĩnh vực dân sự, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam[8]; Về chế định hợp đồng vay tài sản[9]; Hình thức của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005[10]; Những vấn đề pháp lý về giao kết hợp đồng điện tử; Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật dân sự Việt Nam[11]; Nhu cầu hoàn thiện pháp luật dân sự và tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay[12]; Hụi, họ, biêu, phường trong hệ thống pháp luật Việt Nam: quá khứ và hiện tại; Pháp luật và vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân trên môi trường Internet; Về khái niệm hợp đồng điện tử; Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử qua Internet; Quyền nhân thân trong pháp luật Việt Nam….

Trong lĩnh vực pháp luật tố tụng dân sự có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau: Thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan xét xử dân sự và giải pháp hoàn thiện[13]; Hoàn thiện tư pháp dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay[14]; Các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự Việt Nam[15]; Thi hành án dân sự- Những vấn đề lý luận và thực tiễn[16] ; Hoàn thiện một số chế định pháp luật dân sự và tố tụng dân sự ở Việt nam hiện nay[17]; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về pháp luật tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay[18]

Có thể nói, về mặt tổ chức cũng như trên bình diện khoa học, Viện Nhà nước pháp luật là cơ sở nghiên cứu đầu tiên đặt ra định hướng nghiên cứu về “Tư pháp dân sự”. Đây là một hướng nghiên cứu khoa học liên ngành, mang tính tổng hợp- một hướng nghiên cứu mới trong khoa học pháp lý, gắn kết pháp luật nội dung với pháp luật hình thức, giữa luật thực định với thực tiễn pháp luật. Với định hướng nghiên cứu mới này, Viện Nhà nước và pháp luật trở thành đầu mối trung tâm tập hợp, thu hút các nhà nghiên cứu trong và ngoài Viện cùng tham gia nghiên cứu.

Những kết quả của định hướng nghiên cứu Tư pháp dân sự trong thời gian qua đã trở thành các luận cứ khoa học góp phần đáng kể vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đồng thời, các kết quả nghiên cứu này là những tư liệu quan trọng trong việc giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo tại các cơ sở đào tạo.

Bên cạnh công việc nghiên cứu, cán bộ nghiên cứu còn thực hiện nhiệm vụ đào tạo, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật. Các cán bộ luôn xem lĩnh vực đào tạo là nhiệm vụ và chức năng quan trọng nhằm trao dồi kiến thức, đưa các kết quả nghiên cứu vào đào tạo. Hiệu quả công tác đào tạo đã có những thành công nhất định thể hiện qua các kết quả đào tại mà học viên, sinh viên trưởng thành trong thời gian qua.

3. Định hướng nghiên cứu đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030

Trong thời gian tới vẫn tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản trong lĩnh vực pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình, trong đó tập trung vào các vấn đề cụ thể như sau:

- Nghiên cứu xu hướng phát triển của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, hôn nhân và gia đình Việt Nam trong thời gian tới

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận thực trạng và xu hướng về chính sách pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, hôn nhân và gia đình, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

- Nghiên cứu về cơ chế thực hiện pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, hôn nhân và gia đình

- Nghiên cứu về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và hôn nhân gia đình

 


[1] Xem, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1/1993.

[2] Xem, Tạp chí Cộng sản số 7/1992

[3] Xem, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1/1994

[4] Xem, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/1995

[5] Xem, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9, 2014

[6] xem, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1, 2015

[7] Xem, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, 2005

[8] Đề tài cấp cơ sở năm 2014, Ths. Đinh Thị Duy Thanh làm chủ nhiệm

[9] Xem, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9, 2004

[10] Xem, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3, 2006

[11] Nguyễn Thị Hường (2014), chuyên đề thuộc đề tài cấp cơ sở năm 2014: Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam do Ths. làm chủ nhiệm.

[12] Nguyễn Thị Hường  (2015), Đề tài cấp cơ sở

[13] Dương Quỳnh Hoa (2002), Đề tài cấp Viện

[14] Hà Thị Mai Hiên ( 2008), Đề tài cấp Viện năm 2008,

[15] Dương Quỳnh Hoa (2006), Đề tài cấp Viện

[16] Dương Quỳnh Hoa ( 2007), Đề tài cấp Viện

[17] Hà Thị Mai Hiên (2012), nhiệm vụ cấp Bộ năm 2011-2012

[18] Dương Quỳnh Hoa (2013), Đề tài cơ sở

 

(Nguồn: Sách "Viện Nhà nước và Pháp luật - 50 năm xây dựng và phát triển)