•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hoạt động nghiên cứu pháp luật lao động và an sinh xã hội

20/10/2017
Lao động và An sinh xã hội là hai những lĩnh vực lớn, được Đảng và Nhà nước thể chế thành các chính sách, pháp luật nhằm hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Chính vì vị trí, vai trò quan trọng đó đã đặt ra cho khối các cơ quan nghiên cứu khoa học phải xây dựng được luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật về lao động và an sinh xã hội.

1. Quá trình hình thành và phát triển

Lao động và An sinh xã hội là hai những lĩnh vực lớn, được Đảng và Nhà nước thể chế thành các chính sách, pháp luật nhằm hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Chính vì vị trí, vai trò quan trọng đó đã đặt ra cho khối các cơ quan nghiên cứu khoa học phải xây dựng được luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật về lao động và an sinh xã hội.

Ngày 01/2/2010, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật ra Quyết định về việc thành lập Phòng pháp luật Lao động và An sinh xã hội. Với chức năng là nghiên cứu những vấn đề cơ bản về pháp luật lao động và an sinh xã hội; cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối chiến lược, quy hoạch, chính sách xây dựng và phát triển pháp luật lao động và an sinh xã hội nhằm mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia; tham gia đào tạo sau đại học; tổ chức đào tạo, tư vấn pháp luật và cung cấp thông tin pháp luật về lao động và an sinh xã hội cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Trải qua hơn 7 năm thành lập, Phòng Pháp luật Lao động và An sinh xã hội đã có những bước chuyển mình trong mọi hoạt động. Về nhân sự, từ chỗ chỉ có 02 cán bộ nghiên cứu, đến nay đã bao gồm 03 thành viên chính và 01 thành viên sinh hoạt khoa học tại phòng. Về trình độ chuyên môn: Phòng có 01 Tiến sỹ, 02 nghiên cứu sinh (hiện đang tham gia đào tạo tại Học viện Khoa học xã hội và Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội). Mỗi thành viên đều có định hướng nghiên cứu cụ thể theo từng năm và trong giai đến năm 2020 phù hợp với định hướng nghiên cứu chung của Phòng.

2. Thành tích nghiên cứu khoa học

2.1.  Các đề tài cấp bộ, cấp cơ sở, hội thảo quốc gia, quốc tế

Trước khi thành lập Phòng Pháp luật lao động và An sinh xã hội năm 2010, các nghiên cứu về pháp luật lao động và an sinh xã hội đã được thực hiện trong nhiều năm bởi một số thành viên thuộc Phòng Pháp luật Kinh tế, Phòng Pháp luật về các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, kể từ khi thành lập Phòng Pháp luật lao động và An sinh xã hội, số lượng các công trình nghiên cứu đề tài cấp cơ sở, cấp bộ tăng lên đáng kể. Các công trình này đề cập nhiều vấn đề có tính thời sự trong lĩnh vực pháp luật lao động và an sinh xã hội. Có đề tài được Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hoặc Viện Nhà nước và Pháp luật giao, có đề tài là do các thành viên tham gia đấu thầu ngoài Viện. Nhìn chung các đề tài đều được triển khai nghiên cứu đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng khá.

Các thành tựu nghiên cứu đạt được trong lĩnh vực pháp luật lao động và an sinh xã hội trong thời gian qua thể hiện qua những quan điểm khoa học, các đóng góp tương đối đa dạng, toàn diện về lý luận và thực tiễn thuộc lĩnh vực pháp luật lao động và an sinh xã hội. Cụ thể như sau:

 Thứ nhất, nhiều công trình nghiên cứu tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của hầu hết các chế định của pháp luật lao động và an sinh xã hội (việc làm, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, an tàn lao động, vệ sinh lao động, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, lao động nữ, lao động vị thành niên, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, tiền lương, giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, tập thể, đình công, thành tra lao động; bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội...). Nhiều vấn đề mang tính lý luận cơ bản đã được chú trọng và làm rõ trong các công trình nghiên cứu cấp cơ sở các năm từ năm 2000 đến năm 2013. Bên cạnh đó, những đánh giá và phân tích thực trạng đã chỉ ra những nguyên nhân bất cập, từ đó đưa ra nhiều kiến nghị có giá trị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động và an sinh xã hội.

Thứ hai, một số vấn đề nghiên cứu có tính cấp bách đã được nghiên cứu sâu hơn thông qua các đề tài cấp bộ, các Hội thảo quốc gia và quốc tế. Những nghiên cứu nói trên đã có những đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn. Đó là nghiên cứu về pháp luật việc làm; giải quyết tranh chấp lao động; cơ sở pháp lý của hệ thống an sinh xã hội; quyền có tổ chức đại diện của người lao động, quyền con người trong lĩnh vực lao động; thương lượng tập thể.

Về pháp luật việc làm, các nghiên cứu[1] đã làm sáng tỏ những vấn đề về việc làm, việc làm bền vững, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng hệ thống chính sách, pháp luật về việc làm ở Việt Nam hiện nay, qua đó đưa ra những đề xuất kiến nghị mô hình, nội dung của Luật việc làm. Nhiệm vụ đã được nghiệm thu và có những đóng góp có ý nghĩa, cung cấp một số luận cứ quan trọng cho sự ra đời của Luật Việc làm ngày 16/11/2013. 

Về quyền con người trong lĩnh vực lao động, các nghiên cứu[2] đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người trong lĩnh vực lao động (khái niệm quyền, nội dung quyền, bảo đảm quyền, thực trạng vi phạm quyền, bảo vệ quyền). Nghiên cứu đã chỉ rõ những quyền con người trong lĩnh vực lao động còn bị vi phạm ở Việt Nam, những quyền chưa có đủ điều kiện để đảm bảo thực hiện triệt để, thuận lợi trên thực tế; trên cơ sở đó, đề xuất các luận cứ khoa học và giải pháp cho việc đổi mới cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam hiện nay.

Về quyền có tổ chức đại diện của người lao động, các nghiên cứu[3] đã làm rõ nội hàm quyền tự do liên kết trong lao động, pháp luật quốc tế và kinh nghiệm các nước về tổ chức đại diện của tập thể người lao động, chỉ ra những dự báo tác động  khi Việt Nam cho phép thành lập tổ chức công đoàn bên cạnh hệ thống công đoàn thuộc Tổng LĐLĐ Việt nam hiện nay. Các nghiên cứu đã chỉ ra những vấn đề pháp lý mà Việt Nam cần quan tâm, điều chỉnh để đảm bảo quyền có tổ chức đại diện của người lao động trong bối cảnh hiện nay.

Về thương lượng tập thể, các nghiên cứu[4] làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thương lượng tập thể (khái niệm, bản chất, chủ thể, nội dung, quy trình, hình thức, các biện pháp pháp lý bảo đảm). Nghiên cứu đánh giá thực trạng hiệu quả thương lượng tập thể, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đảm bảo thực hiện hiệu quả thương lượng tập thể ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa ra các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật đảm bảo thực thi hiệu quả thương lượng tập thể ở Việt Nam hiện nay.

Về cơ sở pháp lý của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, các nghiên cứu[5] chỉ ra đường lối, chính sách về an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta, chỉ ra 3 tiêu chí mà hệ thống an sinh xã hội cần đáp ứng: mức độ bao phủ, mức độ tác động và mức độ bền vững về tài chính. Về các các căn cứ đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, đề tài đã nêu ra các căn cứ sau đây: 1. Nhận thức đúng vai trò của hệ thống an sinh xã hội ở nước ta hiện nay; 2. Sự phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội cụ thể ở Việt Nam của chính sách an sinh xã hội; 3. Xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách an sinh xã hội phải đáp ứng được đòi hỏi của quá trình hội nhập của nền kinh tế nước ta vào nền kinh tế thế giới; 4. Xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách an sinh  xã hội ở Việt Nam cần tính đến kinh nghiệm của các nước trong lĩnh vực này.

Những nghiên cứu trên đồng thời đã được công bố trên một số tạp chí chuyên ngành, công bố bằng Báo cáo tham luận tại nhiều cuộc Hội thảo được tổ chức tại Bộ Lao động Thương binh Xã hội , Văn phòng Chính Phủ, Văn phòng Quốc Hội, Sở Lao động Thương binh Xã hội Hà Nội, các Hội thảo quốc tế do ILO, KAS tài trợ...

Ngoài ra, các thành viên trong Phòng được tham gia vào các hệ đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ do các chuyên gia trong và ngoài Viện làm Chủ nhiệm đề tài.

2.2.  Các hoạt độnghợp tác đào tạo, giảng dạy trong lĩnh vực pháp luật lao động và an sinh xã hội 

100% các thành viên trong Phòng tích cực, thường xuyên tham gia giảng dạy đại học, sau đại học các môn học về pháp luật lao động, pháp luật an sinh xã hội tại các cơ sở đào tạo luật có uy tín trong nước: Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật Đại học Công đoàn, Đại học Thái Bình, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Kiểm sát, Đại học Trà Vinh, Đại học Vinh, Viện Đại học mở Hà Nội... Tính đến tháng 6/2017, các thành viên trong Phòng đã hướng dẫn thành công 01 nghiên cứu sinh, 24 học viên cao học luật và nhiều cử nhân luật.

Bên cạnh đó, Phòng Pháp luật Lao động và An sinh xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, hiệu quả với một số Vụ thuộc Bộ lao động và Thương binh xã hội, hiện đang trong quá trình xây dựng quan hệ hợp tác nghiên cứu với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Ủy ban các Vấn đề xã hội, Văn phòng Quốc hội... nhằm mở rộng phạm vi hoạt động của Phòng.

2.3. Các công trình công bố

Tính đến tháng 4/2017, các thành viên Phòng Pháp luật lao động và xã hội đã công bố được 20 bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành luật uy tín, tham gia viết 05 cuốn sách tham khảo, tham gia viết 01 giáo trình bậc đại học, công bố nhiều bài tham luận tại các cuộc Hội thảo cấp quốc gia và quốc tế về lĩnh vực pháp luật lao động, pháp luật an sinh xã hội. 01 thành viên trong Phòng tham gia viết 01 sách xuất bản quốc tế (có ISBN)

2.4. Thành tích thi đua, khen thưởng

Trên tinh thần  thi đua để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng viên chức, Phòng Pháp luật Lao động  luôn tích cực tham gia các phong trào thi đua do Viện Nhà nước và Pháp luật phát động. Trên tình thần đoàn kết, giúp đỡ, góp ý thẳng thắn, Phòng Pháp luật lao động đã đạt được một số thành tích đáng khích lệ. Từ năm 2013 đến nay, năm nào Phòng cũng được Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam khen thưởng và trao tặng danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc. Riêng năm 2016, Phòng còn được Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam tặng Bằng khen vì có nhiều thành tích trong hoạt động nghiên cứu khoa học.  Đặc biệt, viên chức Hoàng Kim Khuyên nhiều năm là chiến sĩ thi đua cơ sở. Riêng năm 2016, đồng chí được trao tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Viện Hàn lâm.

3. Định hướng hoạt động, nghiên cứu giai đoạn đến 2020, tầm nhìn 2030

- Định hướng nghiên cứu: Phòng tiếp tục nghiên cứu các vấn đề pháp luật lao động, an sinh xã hội có tính thời sự, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, hoạt động của Phòng duy trì  theo phương châm phân công nhiệm vụ, định hướng nghiên cứu cho các thành viên sao cho vừa có thể tiệm cận với việc bao phủ tất cả các vấn đề, lĩnh vực nghiên cứu của pháp luật lao động, an sinh xã hội vừa có trọng điểm phục vụ cho tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

- Định hướng hoạt động giảng dạy: Tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện để các thành viên tiếp tục tham gia giảng dạy đại học, sau đại học tại các cơ sở đào tạo luật có uy tín trong nước theo hướng đi sâu vào chuyên môn pháp luật lao động, pháp luật an sinh xã hội. Thông qua hoạt động giảng dạy để phát triển kỹ năng thuyết trình, diễn đạt, phát triển kiến thức thực tế, đưa kiến thức nghiên cứu lý luận vào bài giảng.

- Định hướng hoạt động hợp tác nghiên cứu: Trong giai đoạn tới, chú trọng xây dựng và mở rộng quan hợp tác với các cơ quan thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và chính quyền địa phương các tỉnh để mở rộng và tìm kiếm các hoạt động nghiên cứu có nguồn kinh phí ngoài Viện Hàn lâm, gắn hoạt động nghiên cứu lý luận với hoạt động thực tiễn.

 


[1] Nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ theo Quyết định số: 144/QĐ–VPQH ngày 02/02/2012 do Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đặt hàng: Thực trạng về pháp luật việc làm ở nước ta và những kiến nghị đối với việc xây dựng Dự án Luật việc làm„ Chủ nhiệm: PGS.TS. Nguyễn Như Phát, 2012

[2] Đề tài cấp Bộ:Đánh giá thực trạng vi phạm quyền con người và định hướng hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam hiện nayChủ nhiệm: TS. Phạm Thị Thúy Nga. 2013-2014

[3] Viện Nhà nước và Pháp luật (2016), Hội thảo quốc gia:“Việc hình thành các tổ chức công đoàn trong khuôn khổ TPP và các vấn đề pháp lý liên quan đến điều chỉnh hoạt động của các tổ chức đó

[4] Đề tài cấp Bộ: “Hoàn thiện pháp luật về thương lượng tập thể trong bối cảnh yêu cầu hội nhập ở Việt Nam hiện nay„, Chủ nhiệm TS. Phạm Thị Thúy Nga, ,

[5] Đề tài cấp Bộ: Cơ sở pháp lý của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam, Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. Phạm Hữu Nghị, Thời gian thực hiện: 12/2007 -06/2009; Đề tài cấp cơ sở năm 2014: “Thực trạng pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay„ Chủ nhiệm: Ths. Hoàng Kim Khuyên; Đề tài cấp cơ sở năm 2015: “Thực trạng pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay„ Chủ nhiệm: Ths. Hoàng Kim Khuyên; PGS.TS. Nguyen Đuc Minh, TS. Pham Thi Thuy Nga, “Social wealfare in Vietnam’s social development at present”, Current Legal Issues in Asian Countries II, Korea Legislation Research Institute, 2016, ISBN 978-89-6684-756-3.

 

(Nguồn: Sách "Viện Nhà nước và Pháp luật - 50 năm xây dựng và phát triển")