•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hoạt động nghiên cứu pháp luật môi trường

20/10/2017
Phòng Pháp luật Môi trường là một trong những phòng nghiên cứu chủ chốt của Viện Nhà nước và Pháp luật. Phòng được giao nhiệm vụ nghiên cứu lĩnh vực chính là pháp luật môi trường, pháp luật đất đai và các lĩnh vực pháp luật tài nguyên khác. Bên cạnh đó, các thành viên trong phòng tham gia hợp tác nghiên cứu các lĩnh vực khác như: lao động, an sinh xã hội, kinh tế, hành chính, lịch sử nhà nước và pháp luật, dân sự, nhà nước pháp quyền… liên quan đến lĩnh vực pháp luật môi trường và tài nguyên.

1. Quá trình hình thành và phát triển

Năm 2004, Viện Nhà nước và pháp luật có phân tổ nghiên cứu lĩnh vực pháp luật môi trường là tiền thân của Phòng pháp luật Môi trường ngày nay gồm  PGS. TS Trần Trọng Hựu, PGS. TS Phạm Hữu Nghị và những cộng tác viên khác. Từ năm 2006 đến nay Phòng pháp luật Môi trường ngày càng được củng cố cả về nhân sự với sự tham gia của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị chuyên gia cao cấp đầu ngành, TS. Phạm Thị Hương Lan, TS. Bùi Đức Hiển, Ths Vũ Đình Nam ( đã chuyển công tác năm 2009); Ths. Tiêu Thị Hà (đã chuyển công tác năm 2008) và  Ths. Nguyễn Thị Bảo Nga.

2. Thành tựu nghiên cứu

2.1. Thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật môi trường

Trước năm 2004, tổ nghiên cứu lĩnh vực pháp luật môi trường đã có một số cán bộ nghiên cứu quan tâm nghiên cứu lĩnh vực pháp luật này với các bài viết: “Cách mạng khoa học - kỹ thuật và vấn đề xây dựng pháp luật bảo vệ môi trường thiên nhiên ở nước ta” (đăng tạp chí Luật học số 4/1981), “Mấy vấn đề pháp luật bảo vệ môi trường bao quanh” (đăng tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 1/1982) của PGS. TS Trần Trọng Hựu; “Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường” (đăng tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 3/1983), “Vấn đề xây dựng một văn bản pháp luật tổng hợp về bảo vệ môi trường ở nước ta” (đăng tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 3/1987); “Bảo đảm bằng pháp luật việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên”  (đăng tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 1/1987) của 2 tác giả Trần Trọng Hựu và Phạm Hữu Nghị. Các công trình nghiên cứu của PGS. TS Trần Trọng Hựu và PGS. TS Phạm Hữu Nghị khi đó có thể được coi là những tiền đề gợi mở lý luận đầu tiên cho việc nghiên cứu và giảng dạy về luật môi trường ở Việt Nam. Trong các công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu của Viện đã phân tích rõ nhu cầu bảo vệ môi trường bằng pháp luật, chứng minh cho sự cấp bách phải ban hành một đạo luật về bảo vệ môi trường và nêu những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của đạo luật này. Nhờ có những kiến thức về pháp luật môi trường nên PGS. TS. Trần Trọng Hựu và PGS. TS. Phạm Hữu Nghị đã được Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cử vào Ban biên tập Dự thảo Luật bảo vệ môi trường đầu tiên của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 1993 (Luật này đã được quốc hội thông qua ngày 27/12/1993). Sau này những năm 2003- 2005 PGS. TS. Phạm Hữu Nghị và PGS. TS. Võ Khánh Vinh được mời tham gia Hội đồng cố vấn cho Ban Soạn thảo Luật Bảo vệ Môi trường mới thay thế Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 (Luật này đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005)[1].

Đây chính là những cán bộ nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực pháp luật môi trường đầy tâm huyết với những đóng góp qua các đề tài và nhiệm vụ cấp Bộ, cấp cơ sở về lĩnh vực pháp luật môi trường như: Nhiệm vụ khoa học cấp cấp Bộ: “Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường” năm 2001. Đề tài có giá trị vô cùng quan trọng và là một trong những đề tài vừa có tính ứng dụng trực tiếp, vừa có tính lý luận cơ bản nhằm định hướng cho việc hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Đề tài cũng chính là khởi nguồn để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các nội dung cụ thể trong ngành luật môi trường như các nhiệm vụ cấp Bộ: “Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật môi trường và pháp luật về các tội phạm môi trường” năm 2002; “Tăng cường khả năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước”; Dự án: “Điều tra, khảo sát phục vụ xây dựng cơ chế bồi thường thiệt hại về môi trường” năm 2004; Nhiệm vụ khoa học cấp cấp Bộ: “Kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” năm 2004;  “Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường đối với các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động, tập trung vào hơn 3.000 cơ sở thuộc danh mục của Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ (xây dựng quy định về nội dung và chế độ báo cáo)".... các công trình nghiên cứu đã mang lại tính thực tiễn và có khả năng áp dụng cao làm nền tảng cho khoa học nghiên cứu pháp luật môi trường.

 Từ năm 2006 đến nay Phòng pháp luật Môi trường ngày càng được củng cố cả về nhân sự và thành tựu đạt trong khoa học pháp. Với sự tham gia của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị chuyên gia cao cấp đầu ngành, TS. Phạm Thị Hương Lan, TS. Bùi Đức Hiển và Ths. Nguyễn Thị Bảo Nga Phòng pháp luật Môi trường có những thành tựu cả về lý luận và thực tiễn. Thực tiễn yêu cầu đòi hỏi về pháp luật môi trường ngày càng đi vào cuộc sống, các cơ sở pháp lý phải vững chắc và hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thóai, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học. Vì vậy, các đề tài nghiên cứu đã cụ thể hóa các yêu cầu đó qua các nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Xã  hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam” năm 2006; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Các nguyên tắc của luật Môi trường” năm 2008; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Khía cạnh pháp lý của việc xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay”, năm 2009; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành” năm 2014; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Pháp luật về quản lý chất thải thông thường ở Việt Nam hiện nay” năm 2015; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Pháp luật về quản lý nước thải ở Việt Nam hiện nay” năm 2016 do TS. Bùi Đức Hiển làm chủ nhiệm và đặc biệt đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về ứng phó biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay” năm 2015 – 2016 do PGS.TS. Phạm Hữu Nghị làm chủ nhiệm.....

Ngoài các đề tài cấp Bộ, cấp cơ sở trong thời gian qua đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu được công bố dưới dạng sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành khác nhau; các tư tưởng, quan điểm được trình bày tại các hội thảo, tọa đàm khoa học, các cuộc họp góp ý kiến về pháp luật môi trường. Với các công trình nghiên cứu như: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam[2]; Về quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện nay[3]; Mấy góp ý về quyền được sống trong môi trường trong lành trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi 2013[4]; Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành; Những vấn đề chính sách, pháp luật về chủ động ứng phó với thiên tai và giám sát khí hậu ở Việt Nam hiện nay[5]; Hoàn thiện pháp luật về môi trường để bảo đảm phát triển bền vững[6], Mấy vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí hiện nay[7]

Với những thành tựu về pháp luật môi trường trong thời gian qua khó có thể đánh giá được hết nhưng với mỗi giai đoạt và thời kỳ khác nhau chuyên ngành pháp luật môi trường của Viện luôn thể hiện bắt kịp với cuộc sống xác định hướng nghiên cứu phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Có thể kể đến một số đóng góp tiêu biểu từ các công trình nghiên cứu trong thời gian qua như sau:

 Một là, đưa ra cơ sở lý luận để làm rõ về các nguyên tắc của pháp luật môi trường như: Nguyên tắc coi trọng phòng ngừa trong hoạt động bảo vệ môi trường; Nguyên tắc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành; Nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững....các công trình nghiên cứu không những tập trung phân tích các vấn đề lý luận mà còn đưa ra các kiến nghị nhằm cụ thể hóa pháp luật môi trường.

Hai là, chính sách pháp luật bảo đảm phát triển bền vững được làm sáng tỏ trong khái niệm, đặc điểm, nội dung của phát triển bền vững, tiêu chí bảo đảm thực hiện phát triển bền vững; nội dung của phát triển bền vững, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về bảo đảm phát triển bền vững; thực trạng chính sách, pháp luật về bảo đảm phát triển bền vững từ đó đưa ra các giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam.

Ba là, về chính sách pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu được chú trọng nghiên cứu trên cơ sở phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện các tác động của biến đổi khí hậu đối với môi trường, kinh tế, xã hội, con người ở Việt Nam. Lập luận nhu cầu về giảm nhẹ biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam và yêu cầu đặt ra đối với chính sách pháp luật nhằm đáp ứng các nhu cầu về giảm nhẹ biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu đặt ra. Từ việc đánh giá sát, đúng về thực trạng chính sách pháp luật về giảm nhẹ biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu ở nước ta các công trình nghiên cứu đã đề xuất quan điểm và xây dựng các giải pháp đóng góp xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về ứng phó biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

Bốn là, nội dung trách nhiệm pháp lý áp dụng với hành vi làm ô nhiễm trường được các công trình nghiên cứu trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn trạng áp dụng các loại trách nhiệm pháp lý các công trình đã đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật với từng loại trách nhiệm pháp lý đóng góp cho luận cứ xây dựng trách nhiệm pháp lý hành chính, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm kỷ luật .

Năm là, các công trình nghiên cứu về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí đã chỉ ra khái niệm, đặc điểm của môi trường không khí, vai trò của môi trường không khí với cuộc sống của con người và sinh vật, đặc biệt là với sự sinh tồn của con người và sinh vật; xác định tiêu chí, các nguyên tắc xây dựng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; nội dung của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, phân biệt với bảo vệ môi trường; đánh giá thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập, hạn chế về vấn đề này và đưa ra quan điểm, định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Trong giải pháp hoàn thiện pháp luật công trình đã gợi mở các kịch bản, thời gian, nội dung xây dựng Luật Không khí sạch ở Việt Nam nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí hiệu quả hơn, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người.

Sáu là, các công trình nghiên cứu về nội dung xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường bằng lập luận và cả những minh chứng thực tiễn đã khẳng định tính tất yếu vai trò của các tổ chức xã hội dân sự, của cộng đồng dân cư và các cá nhân trong bảo vệ môi trường. Các quan điểm, tư tưởng của các công trình đã khẳng định bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà phần lớn là ý thức, trách nhiệm và đóng góp của các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư do đó cần thiết phải xã hội hóa hoạt động này. Những quan điểm này đã đóng góp trực tiếp cho việc xây dựng Luật Bảo vệ môi trường năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật. Qua đó, cho thấy các công trình nghiên cứu pháp luật môi trường còn nhiều quan điểm, tư tưởng đã được sử dụng ở mức độ khác nhau trong quá trình hoạch định xây dựng chính sách pháp luật môi trường qua các thời kỳ, là tài liệu giảng dạy và tham khảo trong các trường đào tạo có giá trị nghiêm cứu chuyên sâu đem lại hiệu quả thiết thực cho cuộc sống.

Trong thời gian quan các cán bộ nghiên cứu còn thực hiện các nhiệm vụ đi khảo sát thực tiễn, hợp tác nghiên cứu các đề tài, nhiệm vụ cấp Bộ với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp, trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội...với các nội dung đa dạng khác nhau như: Về cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường; về kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường đối với các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh; về tình hình thực hiện kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và giải pháp khắc phục; Đánh giá thực tế về triển khai các cơ chế khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ môi trường, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, xây dựng mô hình sản xuất, tiêu thụ bền vững; sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, xây dựng mô hình sản xuất, tiêu thụ bền vững. Tham gia vào việc thực hiện các đề tài này, các cán bộ của Viện đã có những chuyên đề, các báo cáo mang tính thực tiễn cao góp phần hoàn thành đề tài, nhiệm vụ của các Bộ, ngành. Qua việc tham gia nghiên cứu và khảo sát với các Bộ, ngành cũng là dịp để các cán bộ của Viện tiếp cận với thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp tại nhiều địa phương trong cả nước. 

Các cán bộ của Viện đã tích cực tham gia vào các hội nghị môi trường toàn quốc. Tại Hội nghị môi trường năm 1986 PGS.TS. Phạm Hữu Nghị   đã góp phần vào thành công của hội nghị với 3 báo cáo: Hiện trạng pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam và giải pháp xây dựng và hoàn thiện; Pháp luật bảo vệ môi trường của các nước phát triển; Pháp luật bảo vệ môi trường của các nước đang phát triển. Năm 2005 tại Hội nghị môi trường toàn quốc, các nhà khoa học của Viện đã tham gia chủ trì một phân ban (PGS. TS Võ Khánh Vinh) và có báo cáo khoa học về: Hiệu lực của pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam (PGS. TS Phạm Hữu Nghị).

 Trên cơ sở của các kết quả nghiên cứu, các cán bộ của Phòng đã xây dựng chương trình, đề cương và trực tiếp giảng môn Luật Môi trường - một môn học mới trong chương trình đào tạo cử nhân Luật, từ năm học 1990-1991 tại Khoa Luật thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Khoa Luật thuộc Đại học quốc gia Hà Nội) và tại Trường Đại học Luật Hà nội (cũng từ năm học 1990 - 1991). Các cán bộ của Viện đã trực tiếp hướng dẫn một số sinh viên khá, giỏi làm luận văn tốt nghiệp (nay gọi là khóa luận) về các đề tài thuộc lĩnh vực Luật Môi trường. Hiện nay, các nhà khoa học của Viện đang chịu trách nhiệm giảng môn Luật Môi trường trong chương trình đào tạo sau đại học tại Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội và tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và một số chuyên đề cao học tại Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Khoa học xã hội. Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học của Viện đã tham gia hướng dẫn các nghiên cứu sinh và học viên cao học thực hiện các đề tài nghiên cứu về pháp luật đánh giá tác động môi trường; pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường; pháp luật bảo vệ nguồn nước; pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí; pháp luật bảo vệ môi trường biển, pháp luật về bảo tồn nguồn gen; pháp luật về bảo vệ rừng; pháp luật về quản lý chất thải; pháp luật về bảo vệ môi truờng trong hoạt động du lịch; pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học...mang lại kết quả cao khi các em bảo vệ tốt nghiệp. Nhiều các tiến sĩ, thạc sĩ và các cử nhân luật do các nhà khoa học của Viện đào tạo hiện nay đã trưởng thành là cán bộ nòng cốt tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu hoặc là các cán bộ quản lý trong lĩnh vực pháp luật môi trường.

2.2. Thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật đất đai

Lĩnh vực pháp luật đất đai là một trong những lĩnh vực pháp luật tài nguyên của Viện trong thời gian qua các công trình nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn có những thành tựu nhất định.

- Một trong những thành tựu đáng ghi nhận là nội dung về sở hữu đất đai đã được các nhà khoa học lập luận trên cơ sở khoa học và thực tiễn áp dụng trong thời gian qua. Đề tài cấp Bộ “Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước đối với đất đai trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” năm 2013 - 2014 do PGS.TS Phạm Hữu Nghị làm chủ nhiệm đã cho thấy trong chế  độ sở hữu toàn dân hiện hành đối với đất đai, quan hệ thị trường đóng vai trò yếu ớt và bị phụ thuộc nặng nề bởi các quyết định mang tính chủ quan của bộ máy quản lý nhà nước; cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước đối với đất đai chưa bảo đảm tính công khai, minh bạch thực sự trong hoạt động quản lý đất đai. Trên cơ sở đó, đề tài nêu yêu cầu cấp thiết về tính công khai, tính minh bạch trong công việc quản lý nhà nước là điều kiện để đảm bảo cho nhân dân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, giám sát thực thi chính sách. Điều này cũng giúp cho hệ thống quản lý nhà nước nhận biết được nhu cầu của nhân dân và kịp thời cải thiện công tác phục vụ nhân dân. Đây cũng là yếu tố trọng yếu ngăn ngừa tham nhũng. Không thể để người dân- người sử dụng đất luôn ở vào vị thế  bị động, không được cung cấp đầy đủ thông tin, không có quyền can dự vào các quyết định liên quan tới lợi ích của chính bản thân họ. Việc quy định và thực thi những chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt, chặt chẽ đối với các cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai sẽ là một trong những yếu tố làm cho quan hệ đất đai giữa người dân và chính quyền trở nên hài hòa, làm giảm những thắc mắc, khiếu kiện, xung đột trong quá trình giải quyết những vấn đề liên quan tới đất đai.

 Đề tài có giá trị thiết thực khi đưa ra quan điểm nghiên cứu khoa học về sở hữu đất đai đã được thực tiễn kiểm chứng. Với những lập luận khách quan công trình đã góp phần định hướng xây dựng các văn bản, những quy định pháp luật trong thời gian tới một cách có hiệu quả trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của đất nước ta.

- Luật Đất đai năm 2013 ra đời đánh dấu nhiều bước thay đổi về nội dung và cơ chế vận hành. Trước yêu cầu của thực tiễn đặt ra cần thiết phải có đánh giá quá trình thực hiện Luật Đất đai sau 1 năm ban hành và thực hiện, Phòng pháp luật Môi trường đã tiến hành nghiên cứu nhiệm vụ cấp Bộ về “Triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013” được thực hiện năm 2015 do TS. Phạm Thị Hương Lan là chủ nhiệm.  Đề tài được thực hiện với sự tham gia chủ yếu là các thành viên trong Phòng và một số chuyên gia trong lĩnh vực đất đai. Một trong những đóng góp của đề tài là đã tổng quan được một cách sinh động các hoạt động triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013. Đề tài đã bao quát khá toàn diện kết quả hoạt động thi hành Luật Đất đai của các tỉnh, thành phố trong cả nước cụ thể: hoạt động xây dựng, sửa đổi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013; về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai....Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã chỉ ra được các bất cập thực tiễn triển khai thi hành sau 1 năm Luật có hiệu lực thi hành. Đặc biệt, công trình đã chỉ ra những hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực pháp luật đất đai trong thời gian tới và đây chính là nguồn tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành luật đất đai trong thời gian tới.

- Các qua điểm khoa học về pháp luật đất đai được được cán bộ Viện Nhà nước và pháp luật thể hiện qua rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhằm đóng góp cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới dạng tạp chí, sách chuyên khảo, luận án và kỷ yếu hội thảo như: Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay[8]; Bàn về giá trị pháp lý của biên bản hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn[9]; Bất cập trong các quy định về đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay[10]; Về trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hiện nay[11]; Các quy định về thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai: thực trạng và kiến nghị[12]; “Một số vấn đề cấp bách trong thi hành pháp luật đất đai ở Việt Nam hiện nay”[13] năm 2013; “Giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính ở nước ta hiện nay”, năm 2015[14].....

- Việc sử dụng hiệu quả phương pháp điều tra xã hội học từ một số các công trình tiêu biểu như dự án  “Điều tra thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất” [15], năm 2013 đã cho thấy những vấn đề lý luận về pháp luật đất đai phải phù hợp với thực tiễn, phải là kết quả tổng kết một cách đầy đủ, cụ thể và khách quan thực tiễn. Dự án chính là cơ sở để nghiên cứu xây dựng các luận cứ về thủ tục hành chính cũng như các vấn đề liên quan về quản lí đất đai. Dự án điều tra thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất tại các địa phương đã đánh giá khá khách quan và toàn diện các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục thực hiện, thời hạn thực hiện, chi phí thực hiện các thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất; đánh giá những khó khăn, bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện các thủ tục này và tổng hợp đánh giá đưa ra các giải pháp xây dựng hoàn thiện pháp luật.

Cũng như lĩnh vực pháp luật môi trường, thời gian các cán bộ nghiên cứu còn thực hiện nhiệm vụ đào tạo, giảng dạy lĩnh vực pháp luật đất đai tại các cơ sở đào tạo nói trên. Các cán bộ luôn xem lĩnh vực đào tạo là nhiệm vụ và chức năng quan trọng nhằm trao dồi kiến thức, kiểm nghiệm các kết quả nghiên cứu, truyền bá các vấn đề lý luận về pháp luật môi trường và tài nguyên. Hiệu quả công tác đào tạo đã có những thành công nhất định thể hiện qua các kết quả đào tại mà học viên, sinh viên trưởng thành trong thời gian qua. Đây là một niềm tự hào của Viện Nhà nước và pháp luật nói chung và của Phòng pháp luật Môi trường nói riêng và là động lực để Phòng tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của mình trong thời gian tới.

3. Định hướng nghiên cứu đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030

Trên cơ sở định hướng nghiên cứu lý luận, gắn nghiên cứu lý luận với phục vụ thực tiễn Phòng tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật đất đai, pháp luật môi trường và pháp luật lĩnh vực tài nguyên khác như pháp luật về bảo vệ rừng, pháp luật về biển, pháp luật về bảo tồn và đa dạng sinh học....

Nghiên cứu chính sách pháp luật về đất đai, môi trường và tài nguyên khác cũng là định hướng trọng tâm của Phòng đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030.

 


[1] Chi tiết xem PGS.TS. Phạm Hữu Nghị, thành tựu trong hoạt động nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật qua 40 năm xây dựng và phát triển, trong sách Viện Nhà nước và Pháp luật, GS.TSKH.Đào Trí Úc, PGS.TS.Phạm Hữu Nghị (Đồng chủ biên), Viện Nhà nước và Pháp luật 40 năm xây dựng và phát triển, tài liệu đã dẫn, trang 103.

[2] Luận án của tiến sĩ Bùi Đức Hiển

[3] Xem: Tạp chí Luật học, số 11 năm 2011.

[4] Xem: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 9 năm 2013.

[5] Xem: Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 10/02/2017.

[6] Xem: Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 29/1/2016.

[7] Xem: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 4 năm 2015.

[8] Luận án của Tiến sĩ Phạm Thị Hương Lan, năm 2014.

[9]  Xem: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 (310), năm 2014.

[10] Xem:Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2, năm 2017.

[11] Xem:Tạp chí Nhân lực, số 2, năm 2014.

[12] Xem:Tạp chí Nhân lực, số 12, năm 2014.

[13] Chủ nhiệm đề tài:TS. Phạm Thị Hương Lan,Chủ nhiệm Đề tài cấp Viện, 2013.

[14]Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Thị Bảo Nga,Chủ nhiệm Đề tài cấp Viện, 2015.

[15] Dự án này do PGS.TS. Phạm Hữu Nghị làm chủ nhiệm, đã thực hiện điều tra việc thực hiện các quy định về thủ tục quản lý và sử dụng đất tại 5 tỉnh Sơn La, Ninh Bình, Đà Nẵng, Gia Lai và Đồng Nai.

 

(Nguồn: Sách "Viện Nhà nước và Pháp luật - 50 năm xây dựng và phát triển")