Tin tức hoạt động khoa học

Sinh hoạt khoa học Chi đoàn “Những điểm mới trong Dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động năm 2012”

11/07/2017

Ngày 5/7/2017, tại Hội trường 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội, Chi đoàn Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức buổi sinh hoạt khoa học với chủ đề “Những điểm mới trong Dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động năm 2012”. Báo cáo viên là ThS. Hoàng Kim Khuyên, nghiên cứu viên Phòng Pháp luật Lao động và An sinh xã hội. Đông đảo cán bộ nghiên cứu và các đồng chí đoàn viên đã tham gia vào buổi sinh hoạt này.

ThS. Hoàng Kim Khuyên, báo cáo viên tại buổi sinh hoạt

 

Hai nội dung chính mà ThS. Hoàng Kim Khuyên trình bày trong báo cáo là:

-        Lý do sửa đổi Bộ luật Lao động năm 2012

-        Những thay đổi chính trong Dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động năm 2012

 

Nhìn chung, Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm  2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2013, đã khắc phục được nhiều điểm hạn chế của luật cũ. Tuy nhiên, dù đã qua 04 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 và 2012, sau nhiều năm áp dụng trên thực tế, trước áp lực của hội nhập thương mại và phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, trong những năm gần gây đã xuất hiện các đòi hỏi lớn đặt ra cho BLLĐ và yêu cầu cần phải được tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển chung của xã hội.

 

Đầu tiên, theo ThS. Hoàng Kim Khuyên, Dự thảo BLLĐ cần phải xây dựng các điều luật mới về tiêu chuẩn lao động trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương thế hệ mới. Theo đó, các hiệp định này đều có các điều khoản quy định về các tiêu chuẩn lao động. Thứ hai, một số quy định trong BLLĐ năm 2012 không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động (NLĐ): quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; mức lương tối thiểu; tuổi nghỉ hưu;… Ngoài ra, BLLĐ năm 2012 cũng cần được sửa đổi để phù hợp với các đạo luật chuyên ngành khác được Quốc hội ban hành trong thời gian qua.

 

Từ những bất cập nêu trên, ThS. Hoàng Kim Khuyên giới thiệu và phân tích những điểm mới trong Dự thảo sửa đổi BLLĐ năm 2012 do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội soạn thảo. Về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ, Điều 37 BLLĐ hiện hành quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ phải gồm hai điều kiện: 1 - Có lý do được quy định bởi luật; 2- Tuân thủ thời hạn báo trước. Riêng đối với NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì chỉ cần báo trước 45 ngày mà không cần lý do. Dự thảo đề xuất hai phương án: (i) Giữ như quy định hiện hành; (ii) Bỏ lý do, chỉ cần yêu cầu về thời hạn báo trước. Quy định này để đảm bảo quyền được lựa chọn việc làm tốt hơn cho NLĐ và phòng chống cưỡng bức lao động. Bất cứ khi nào mà NLĐ cảm thấy không hài lòng với việc làm hiện tại hoặc tìm kiếm được việc làm tốt hơn ở doanh nghiệp khác thì họ có thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần có lý do, chỉ cần báo trước. Đồng thời, quy định báo trước một thời hạn nhất định để doanh nghiệp biết, chủ động trong việc tìm kiếm lao động thay thế.

 

Về mức lương tối thiểu, Khoản 1 Điều 91 BLLĐ hiện hành quy định, mức lương tối thiểu phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Thực tiễn thực hiện quy định này trong thời gian vừa qua cho thấy việc xác định nhu cầu sống tối thiểu là rất khó định lượng vì nhu cầu sống gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần. Trong khi, nhiều ý kiến chuyên gia đánh giá rằng mức lương tối thiểu vùng hiện nay chưa đáp ứng được đầy đủ mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Các ý kiến đề xuất sửa đổi quy định mức lương tối thiểu theo hướng đảm bảo “mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ” và đề nghị bổ sung thêm các yếu tố xác định mức lương tối thiểu vùng để làm căn cứ cho Hội đồng tiền lương quốc gia nghiên cứu đề xuất.

 

Về tuổi nghỉ hưu, BLLĐ quy định tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường là 60 đối với nam và 55 đối với nữ. Tăng tuổi nghỉ hưu là một nội dung lớn đã từng được đặt ra nhiều lần trong quá trình soạn thảo luật nhưng chưa được Quốc hội thông qua: Luật Bình đẳng giới năm 2007, Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Lần sửa đổi này, tiếp tục có nhiều ý kiến đề nghị tăng tuổi nghỉ hưu vì những lý do sau: 1- Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam những năm gần đây đã tăng nhiều so với giai đoạn trước đây và khoảng cách giữa tuổi thọ bình quân với tuổi nghỉ hưu bình quân là rất dài nên thực tiễn nhiều người nghỉ hưu vẫn tiếp tục tham gia lao động, có nhu cầu làm việc thêm, và họ vẫn có đủ sức khỏe tham gia lao động tiếp; 2- Dân số nước ta đang chuyển từ thời kỳ dân số vàng sang giai đoạn già hóa dân số, trong tương lai lực lượng lao động trẻ sẽ thiếu hụt; 3- Nếu giữ tuổi nghỉ hưu như hiện tại thì quỹ hưu trí, tử tuất không đảm bảo trong dài hạn; 4- Bảo đảm sự không phân biệt đối xử về tuổi nghỉ hưu giữa lao động nam và lao động nữ để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế như Công ước Cedaw, Công ước của ILO và một số lý do khác.

 

TS. Trần Văn Biên trao đổi tại buổi sinh hoạt

 

Do còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này nên Dự thảo luật hiện đang thể hiện 2 phương án: (i) Giữ như hiện hành; (ii) Tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 và nữ lên 60, tăng theo lộ trình mỗi năm tăng 3 tháng để đảm bảo không gây xáo trộn mạnh đến việc bố trí và sử dụng lao động. Trao đổi tại buổi sinh hoạt, TS. Trần Văn Biên cho rằng vẫn nên giữ độ tuổi như hiện hành bởi lẽ hiện nay tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường cũng như lao động trẻ tìm được việc làm thấp hoặc có việc làm nhưng không ổn định hay chỉ làm theo thời vụ. Việc tăng tuổi hưu chỉ phù hợp khi nào dân số Việt Nam đạt đến giai đoạn già hóa. Bình luận thêm về vấn đề này, theo ThS. Phạm Thị Hiền, các cơ quan chức năng cần thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về mức sống và sức khỏe của NLĐ để từ đó xác định tuổi nghỉ hưu một cách hợp lý. 

 

PGS.TS. Nguyễn Như Phát (bìa trái) trao đổi tại buổi sinh hoạt

 

Những thay đổi quan trọng nữa được đề xuất đưa vào Dự thảo là nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động. Một trong số đó là tranh chấp giữa người sử dụng lao động và NLĐ. Thực tế cho thấy phần lớn là các tranh chấp lao động tập thể về quyền. Đây là tranh chấp có sự vi phạm của NSDLĐ và hiện không được coi là đình công. Dự thảo lần này quy định tranh chấp dạng này là đình công. Bình luận về khái niệm đình công, PGS.TS. Nguyễn Như Phát dẫn chứng hoạt động này ở CHLB Đức. Ông cho biết, trong doanh nghiệp, khi NSDLĐ và NLĐ không thống nhất và thông qua thỏa ước lao động tập thể thì NLĐ có quyền đình công để bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, đình công chỉ được coi là hợp pháp khi tập thể lao động đã đăng ký với chính quyền. Ngoài ra, Nhà nước phải có chính sách để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và NLĐ. Nội dung các quy định trong Dự thảo BLLĐ cần theo hướng giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp, ví dụ quy định mức đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp cần thấp hơn mức 21,5% như hiện nay.

 

Tại buổi sinh hoạt này, các nhà khoa học cũng trao đổi về các chủ đề khác: xác định chủ thể ký hợp đồng lao động với NLĐ; cách thức xử lý doanh nghiệp trốn hoặc nợ đóng tiền bảo hiểm xã hội;…  

Các tin đã đưa ngày:
Album ảnh
Liên kết Web