Tin tức hoạt động khoa học

Sinh hoạt khoa học Đề tài cơ sở “Bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông ở Việt Nam hiện nay”

16/08/2017

Ngày 31/7/2017, tại Hội trường Viện Nhà nước và Pháp luật, Đề tài cơ sở do ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga là chủ nhiệm có chủ đề “Bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông ở Việt Nam hiện nay” đã tổ chức buổi sinh hoạt khoa học. Thành viên còn lại của Đề tài là TS. Bùi Đức Hiển.

Đề tài gồm 2 chuyên đề:

-        Những vấn đề lý luận về  pháp luật bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông ở Việt Nam hiện nay;

-        Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông ở Việt Nam hiện nay.

 

TS. Bùi Đức Hiển báo cáo nội dung chuyên đề 

 

Trong chuyên đề đầu tiên, TS. Bùi Đức Hiển đã phân tích và làm sáng tỏ những nội dung sau: (i) Các khái niệm về sông, lưu vực sông, môi trường nước lưu vực sông, bảo vệ môi trường nước lưu vực sông; (ii) Mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa với bảo vệ môi trường nước lưu vực sông và mục tiêu của hoạt động bảo vệ môi trường; (iii) Nhu cầu bảo vệ môi trường nước lưu vực sông và bảo vệ môi trường nước bằng pháp luật; (iv) Điều chỉnh pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông; (v) Các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông và kinh nghiệm một số nước trên thế giới.

 

Theo Luật Tài nguyên nước năm 2012, lưu vực sông là vùng đất mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và thoát ra một cửa chung hoặc thoát ra biển. Xuất phát từ quan niệm về bảo vệ môi trường và đặc thù của môi trường nước lưu vực sông, TS. Bùi Đức Hiển cho rằng, môi trường nước lưu vực sông là nước mặt và nước ngầm trên một vùng lãnh thổ xung quanh sông và nước sông nơi những cá thể (con người và sinh vật) tồn tại, sinh sống và tương tác qua lại đều bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào môi trường nước lưu vực sông.

 

Trên cơ sở quan niệm về môi trường, về môi trường nước lưu vực sông, theo TS. Bùi Đức Hiển, bảo vệ môi trường nước lưu vực sông là tổng thể các hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, các chủ thể có trách nhiệm, các chủ nguồn thải và các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong phòng ngừa, ngăn chặn những tác động tiêu cực đến lưu vực sông; khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, hợp lý tài nguyên nước lưu vực sông; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi, cải thiện môi trường nước lưu vực sông và bảo tồn đa dạng sinh học lưu vực sông. Còn pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong kiểm soát ô nhiễm môi trường nước; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước, bảo tồn đa dạng sinh học môi trường nước theo lưu vực sông, lấy các nguyên tắc bảo vệ tài nguyên, môi trường nước làm cơ sở, định hướng.

 

Việc điều chỉnh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông nhằm hoàn chỉnh cơ chế quản lý và khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước lưu vực sông- một cơ chế không cản trở sự phát triển của các địa phương nhưng lại hỗ trợ đắc lực cho việc bảo vệ dòng sông chung của các tỉnh. Theo đó phải xây dựng được thiết chế bảo vệ tài nguyên môi trường nước lưu vực sông được hiệu quả, đồng thời phải xây dựng được cơ chế thích hợp để vận hành thiết chế này. Bên cạnh đó, phải phát huy được vai trò to lớn của các chủ thể từ nhà nước, cho đến các chủ nguồn thải, đặc biệt là cộng đồng trong bảo vệ môi trường nước lưu vực sông. 

 

Để đạt được mục tiêu trên, điều chỉnh pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông cần xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau:

-        Tiếp cận bảo vệ môi trường nước lưu vực sông, bao gồm tiếp cận tổng hợp, liên ngành; tiếp cận sinh thái hệ thống; tiếp cận từ dưới lên và tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng;

-        Quản lý thống nhất trên toàn lưu vực sông;

-        Tôn trọng quy luật của tự nhiên;

-        Bảo đảm sự công bằng, hợp lý và bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi giữa các tổ chức, cá nhân, cộng đồng và giữa các quốc gia trong khai thác, sử dụng, quản lý môi trường nước lưu vực sông;

-        Đảm bảo tính dự báo, tính cảnh báo, đặc biệt là bảo đảm tính nhanh chóng, tính kịp thời trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn xử lý lô nhiễm môi trường nước;

-        Người hưởng lợi từ môi trường nước lưu vực sông phải chi trả, người gây thiệt hại cho môi trường nước lưu vực sông phải bồi thường;

-        Xã hội hoá hoạt động bảo vệ tài nguyên nước trong lưu vực sông;

-        Bảo vệ quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng của con người, đây là các quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

 

ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga và PGS.TS. Phạm Hữu Nghị (bìa trái)

 

Trong chuyên đề thứ hai, ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga nêu lên thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực sông. Quản lý tổng hợp lưu vực sông là nội dung chủ yếu trong công tác quản lý tài nguyên nước, nhưng hiện vẫn chưa hoàn thiện cả về thể chế, tổ chức bộ máy lẫn biện pháp thực hiện dẫn tới tình trạng sử dụng tài nguyên nước còn tuỳ tiện, hiệu quả thấp và gây ô nhiễm nguồn nước. Các ngành, các địa phương đều khai thác tài nguyên nước phục vụ phát triển ngành, địa phương và đạt được nhiều thành tựu, nhưng do thiếu quy hoạch tổng hợp lưu vực sông làm cơ sở gắn kết bảo vệ, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước thành một thể thống nhất nên đã phát sinh những vấn đề liên ngành, liên địa phương cần phối hợp giải quyết. Quản lý tổng hợp lưu vực sông không chỉ quản lý về mặt số lượng, chất lượng mà còn bao gồm cả vấn đề môi trường, sinh thái, không thể tách rời quản lý tài nguyên nước với bảo vệ môi trường và các tài nguyên liên quan khác. Việc quản lý tổng hợp lưu vực sông phải bảo đảm quyền tự chủ, tự quyết định cũng như trách nhiệm của các địa phương trong lưu vực sông trong việc giải quyết lợi ích có liên quan đến tài nguyên nước giữa thượng lưu và hạ lưu, giữa các tổ chức, cá nhân trong lưu vực sông theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

 

Vấn đề rất quan trọng liên quan đến quản lý thống nhất tài nguyên nước theo lưu vực sông là thành lập tổ chức quản lý lưu vực sông, tuy nhiên tiếng nói và thực quyền của tổ chức này lại không được đề cập cụ thể trong Luật Tài nguyên nước dẫn đến việc quy định chỉ mang tính hình thức, không có ý nghĩa trong quản lý và phát triển bền vững lưu vực sông.

 

Trên khía cạnh pháp lý thì theo Luật Tài nguyên nước 1998 vai trò của tổ chức quản lý lưu vực sông còn rõ và có tiếng nói quan trọng trong quá trình phát triển, nó không bị mờ nhạt và chỉ mang tính hình thức như quy định của Luật Tài nguyên nước sửa đổi bổ sung năm 2012. Mặc dù trên thực tế, cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương chưa quan tâm và coi trọng đúng mức về tổ chức này.

 

Sau khi nghe các thành viên đề tài trình bày báo cáo, các nhà khoa học đã trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan đến đề tài. Về mặt lý luận, PGS.TS. Phạm Hữu Nghị cho rằng, đề tài cần phân tích kỹ hơn về môi trường nước lưu vực sông qua đặc điểm về sự không giới hạn bởi đơn vị hành chính lãnh thổ, tính liên vùng cao và tính khuếch tán, lan tỏa rất nhanh. Đề tài cần đánh giá các thiết chế hiện nay như Ủy ban Quy hoạch Thủy lợi sông Cầu, sông Đáy để chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quản lý môi trường nước lưu vực sông. Về nguyên tắc, các thiết chế này cần có sự độc lập tương đối với chính quyền địa phương.

 

TS. Lê Mai Thanh (giữa)

 

Bình luận về chuyên đề của TS. Bùi Đức Hiển, TS. Lê Mai Thanh cho rằng, tác giả cần chú ý đến hai yếu tố quan trọng khi nói đến môi trường nước lưu vực sông là kinh tế và chủ quyền khi dòng sông chảy qua nhiều nước. Để bảo vệ môi trường nước lưu vực sông thì pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn những tác động tiêu cực đến lưu vực sông đóng vai trò rất quan trọng. Vì thế, Nhà nước cần xây dựng thiết chế để phán ứng nhanh, kịp thời những tác động xấu gây hại đến môi trường. Việc xây dựng pháp luật phải có các chế tài rõ ràng, minh bạch và được thực hiện nghiêm túc thì mới thay đổi được hành vi của các chủ thể xả thải ra môi trường lưu vực sông.

Các tin đã đưa ngày:
Album ảnh
Liên kết Web