Tin tức hoạt động khoa học

Sinh hoạt khoa học Đề tài cơ sở “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật bảo trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay”

22/08/2017

Ngày 16/8/2017, tại Hội trường, Viện Nhà nước và Pháp luật đã tổ chức tọa đàm của Đề tài cơ sở “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật bảo trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay” do ThS. Hoàng Kim Khuyên, phòng Pháp luật Lao động và An sinh xã hội, là chủ nhiệm. Các thành viên của Đề tài là ThS. Phạm Thị Hương Giang và NCV. Đinh Đức Thiện.

Chủ nhiệm đề tài ThS. Hoàng Kim Khuyên (bìa phải) và thành viên NCV. Đinh Đức Thiện

 

Cơ cấu của đề tài gồm 3 chuyên đề:

-        Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay;

-        Thực trạng quy định pháp luật về bảo trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay;

-        Thực tiễn thi hành pháp luật bảo trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay.

 

Gần đây, bảo trợ xã hội là một thuật ngữ được nhắc đến thường xuyên trong các diễn đàn, chương trình nghị sự của Tổ chức Lao động quốc tế ILO, là một trong những vấn đề được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm thông qua việc ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho hoạt động này. Bảo trợ xã hội được tiếp cận dưới nhiều tên gọi khác nhau như cứu trợ xã hội, trợ giúp xã hội, cứu tế xã hội, lưới an toàn xã hội… Tuy nhiên, thuật ngữ “bảo trợ xã hội” chưa được ghi nhận và định nghĩa chính thức trong hệ thống các văn bản pháp luật của nước ta, hình thức và nội dung của chế độ bảo trợ xã hội ở nước ta không đồng bộ, thiếu tập trung, mang tính chắp vá đối tượng.

 

Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” vốn là những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Là một bộ phận của hệ thống chính sách an sinh xã hội, bảo trợ xã hội hướng tới những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như người già, người khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/AIDS, hoặc người gặp rủi ro do thiên tai nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng.

 

Chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội được đặt ra từ khá lâu, được thể hiện trong các Nghị quyết, Chiến lược của Đảng. Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận quyền bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người nói chung và quyền bảo trợ xã hội nói riêng.

 

Toàn cảnh buổi tọa đàm

 

Nhận định về khái niệm bảo trợ xã hội ở Việt Nam, ThS. Hoàng Kim Khuyên phân tích từ các góc độ kinh tế, xã hội học, tâm lý học, quyền con người và pháp lý. Theo đó, ThS. Khuyên cho rằng, bảo trợ xã hội là tập hợp các cơ chế, chính sách, biện pháp, chương trình kiềm chế nguy cơ, cải thiện và bảo vệ sinh kế từ phía Nhà nước, các tổ chức, cá nhân tự nguyện trong xã hội để hỗ trợ, bảo vệ cho các hộ gia đình, cá nhân trước những rủi ro đe dọa lên sinh kế và nâng cao vị thế xã hội, đảm bảo một tiêu chuẩn tối thiểu về điều kiện sống cho các đối tượng đó với mục tiêu là giảm thiểu sự tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội của nhóm đối tượng yếu thế trên bờ vực khó khăn. Các thành phần cấu thành của bảo trợ xã hội bao gồm các hỗ trợ xã hội cho các cá nhân và hộ gia đình đặc biệt nghèo; các dịch vụ xã hội cho các nhóm cần được quan tâm đặc biệt hoặc không thể có được những dịch vụ căn bản; công bằng xã hội nhằm bảo trợ con người trước những rủi ro xã hội như bị xã hội kì thị hay bị hại.

 

Từ đó, theo ThS. Hoàng Kim Khuyên, pháp luật bảo trợ xã hội, theo nghĩa hẹp, là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, xác định quyền, nghĩa vụ của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ (về vật chất, tinh thần), bảo vệ nhằm cải thiện địa vị xã hội cho các đối tượng yếu thế và nâng cao năng lực của họ để đối phó với những rủi ro làm suy giảm hoặc mất thu nhập trong sinh kế.

 

Các biện pháp kiềm chế nguy cơ, cải thiện và bảo vệ sinh kế cho đối tượng yếu thế trong xã hội bao gồm hỗ trợ, ngăn chặn, phòng ngừa, thúc đẩy và chuyển hóa. Trong đó, các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa là cách thức có tác dụng giúp đối tượng yếu thế tránh khỏi những thiếu hụt trong cuộc sống. Thông thường, các biện pháp này bao gồm các dịch vụ bảo hiểm xã hội và các dịch vụ khác giúp cho đối tượng yếu thế không bị rơi vào khủng hoảng và cần đến sự bảo vệ.

 

Nhân xét tại buổi tọa đàm, TS. Lê Mai Thanh cho rằng, Chủ nhiệm đề tài có thể đưa ra khái niệm bảo trợ xã hội, pháp luật bảo trợ xã hội cho riêng mình trên cơ sở nghiên cứu các công trình, các quan điểm về bảo trợ xã hội. Ví dụ, như tiếp cận gần nhất là khái niệm của Viện Nghiên cứu Liên hợp quốc đối với phát triển xã hội... Ngoài ra, theo TS. Phan Thanh Hà, đề tài cần phân biệt khái niệm bảo trợ xã hội với các khái niệm lân cận khác như an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, cứu trợ xã hội.

 

TS. Phạm Thị Thúy Nga

 

Theo TS. Phạm Thị Thúy Nga, hiện nay, bản chất của bảo trợ xã hội ở Việt Nam là trợ giúp xã hội theo các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, ngoài việc trợ giúp ra còn có sự bảo đảm các quyền của các đối tượng hưởng bảo trợ xã hội.

 

PGS.TS. Nguyễn Đức Minh, TS. Bùi Đức Hiển, ThS. Nguyễn Tiến Đức cũng đã thảo luận, góp ý cho đề tài về cách tiếp cận của đề tài và các vấn đề như: làm rõ mối quan hệ giữa bảo trợ xã hội và an sinh xã hội; nội dung điều chỉnh của pháp luật về bảo trợ xã hội; mục đích của bảo trợ xã hội;…

 

Sao đó, NCV. Đinh Đức Thiện đã trình bày về thực tiễn thi hành pháp luật bảo trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay và nhận được các góp ý của các nhà khoa học tại buổi tọa đàm.

Các tin đã đưa ngày:
Album ảnh
Liên kết Web