•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hội thảo khoa học “Kinh nghiệm hạn chế quyền con người trong pháp luật một số nước trên thế giới và khă năng áp dụng ở Việt Nam”

09/10/2018
Ngày 26/9/2018, Đề tài cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn về hạn chế quyền con người ở Việt Nam hiện nay” đã tổ chức hội thảo khoa học tại Hội trường Viện Nhà nước và Pháp luật. Đề tài do TS. Nguyễn Linh Giang là chủ nhiệm. Các thành viên đề tài và các nhà khoa học của Viện đã tham gia hội thảo.

TS. Nguyễn Linh Giang, Chủ nhiệm đề tài, phát biểu mở đầu hội thảo

 

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Nguyễn Linh Giang cho biết, mục tiêu của đề tài là đưa ra những giải thích hợp lý nhất về 6 lý do này. Dựa trên việc phân tích các công ước quốc tế, hiến pháp và án lệ của một số nước trên thế giới cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam, hội thảo sẽ đánh giá, nhìn nhận về quy định trong Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 và khả năng áp dụng trong thời gian tới.

 

Tham luận đầu tiên do PGS.TS. Lê Mai Thanh (Viện Nhà nước và Pháp luật) trình bày, “Hạn chế quyền con người theo các công ước quốc tế về quyền con người”. Tham luận tập trung phân tích các nguyên tắc, điều kiện, quy trình của công ước quốc tế về hạn chế quyền con người cũng như tạm đình chỉ quyền con người. Có sự tương đồng giữa pháp luật quốc tế với pháp luật quốc gia đối với việc hạn chế quyền con người, đó là tính hợp pháp, hợp lý, chính đáng, cần thiết và tương xứng. Một vấn đề mà tham luận đề cập đến được hội thảo quan tâm là bảo lưu. Trên thực tế, một số quốc gia đã và đang sử dụng hình thức bảo lưu các công ước quốc tế để hạn chế quyền con người.

 

PGS.TS. Lê Mai Thanh trình bày tham luận

 

Tiếp theo, hội thảo lắng nghe tham luận của TS. Bùi Tiến Đạt (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội), “Những thách thức và xu hướng trong việc đánh giá tính hợp hiến của việc giới hạn quyền hiến định”. Theo đó, tác giả nêu ra 3 thách thức chính khi đánh giá tính hợp hiến của việc giới hạn quyền hiến định ở Việt Nam:

  • Chưa có cơ chế tài phán chuyên trách;
  • Để phân tích tính tương xứng, tính hợp hiến đòi hỏi thẩm phán phải có năng lực, kiến thức chuyên môn sâu;
  • Chưa có cách hiểu thống nhất về mặt khoa học và thực tiễn về Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

TS. Bùi Tiến Đạt cho rằng, trong bối cảnh nước ta hiện nay, việc nghiên cứu cơ chế đánh giá tính hợp hiến khi giới hạn quyền con người không nhất thiết do Tòa án Hiến pháp thực hiện mà có thể là Quốc hội. Quốc hội cần luận giải vì sao lại giới hạn quyền con người.

 

TS. Bùi Tiến Đạt

 

Tham luận của PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội), “Hạn chế quyền con người ở một số quốc gia trên thế giới và bài học tham khảo đối với Việt Nam” gây chú ý tại hội thảo. Tác giả đưa ra các ví dụ rất thú vị về hiến pháp, pháp luật của một số nước liên quan đến hạn chế quyền con người. Những thông tin này là kinh nghiệm để Việt Nam có thể luận giải các nguyên tắc giới hạn quyền con người quy định trong Hiến pháp năm 2013.

 

TS. Nguyễn Linh Giang nhìn nhận, trong 6 nguyên tắc này, nguyên tắc nào ưu tiên hơn nguyên tắc nào? Việc liệt kê các nguyên tắc theo thứ tự như trong Khoản 2 Điều 14 đã logic chưa hay chỉ là sự ngẫu nhiên? Bởi lẽ khi có sự xung đột giữa chính các nguyên tắc được coi là cơ bản này thì nguyên tắc nào được ưu tiên hơn nguyên tắc nào?

 

Hội thảo tiếp tục lắng nghe một tham luận nữa cũng chia sẻ kinh nghiệm quốc tế do TS. Nguyễn Văn Quân (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) trình bày có tên gọi “Tiêu chí hạn chế quyền con người vì lý do trật tự công cộng theo pháp luật một số nước trên thế giới”. Tác giả đã giới thiệu các quy định của pháp luật các nước Đức, Pháp, Italia, Canada, Nam Phi trong báo cáo của mình. TS. Quân cho rằng, lý do trật tự công cộng là một trong những tiêu chí quan trọng để hạn chế quyền con người, tuy nhiên ở mỗi quốc gia có cách giải thích khác nhau tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Tham luận đã nhắc đến một cơ chế cũng có ở Việt Nam, đó là Tòa án hành chính. Trong khi chưa có cơ chế tài phán hiến pháp thì chúng ta có thể xem xét trao cho cơ quan này chức năng giám sát việc hạn chế quyền con người.

 

Tham luận cuối tại hội thảo là của ThS. Nguyễn Tiến Đức (Viện Nhà nước và Pháp luật), “Giới hạn quyền con người trong Công ước Nhân quyền Châu Âu (ECHR) và gợi mở cho Việt Nam”. Dựa trên các điều luật của ECHR, khi xem xét các vụ kiện giữa cá nhân và quốc gia, Tòa án Nhân quyền Châu Âu thường thực hiện quy trình đánh giá dựa trên 3 nguyên tắc: hợp pháp, mục tiêu chính đáng và yêu cầu cần thiết.

 

Tác giả đã phân tích cụ thể về chế định giới hạn quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam, có sự liên hệ tới 3 nguyên tắc trên, từ đó đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về giới hạn quyền con người, cụ thể là: (i) Nghiên cứu để làm rõ bản chất của các quyền con người, từ đó mới có thể xác định giới hạn của từng quyền, đi kèm với đó là những mục tiêu chính đáng; (ii) Nghiên cứu về vai trò của cơ quan tư pháp trong việc giải thích pháp luật cũng như yêu cầu để giới hạn quyền con người.

 

PGS.TS. Phạm Hữu Nghị (phải) và PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn

 

Thảo luận tại hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương cho rằng, khi phân tích cụ thể về nguyên tắc hạn chế quyền, đề tài nên chia theo các nhóm quyền có sắp xếp theo cấp độ. PGS.TS. Phạm Hữu Nghị nhìn nhận, đề tài cần làm rõ có hay không căn cứ hạn chế quyền cụ thể. Nếu có thì hạn chế bằng gì?

 

Bình luận về khái niệm hạn chế quyền con người, theo TS. Bùi Tiến Đạt, nói đến hạn chế quyền con người là nói đến các quy phạm pháp luật chứ không phải là một hành vi cụ thể. Việc hạn chế quyền không thể chỉ bằng luật của Quốc hội mà còn có thể từ các văn bản do các cơ quan khác ban hành.

 

Hội thảo cũng nhận được những trao đổi, bình luận của PGS.TS. Vũ Thư, PGS.TS. Lê Mai Thanh và các nhà khoa học khác.

 

Phát biểu kết thúc hội thảo, TS. Nguyễn Linh Giang cám ơn các thành viên đề tài, các nhà khoa học đã tham gia và có nhiều ý kiến thảo luận. TS. Giang mong muốn các thành viên đề tài sớm hoàn thiện chuyên đề để đề tài bảo vệ cơ sở đúng thời hạn.