•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hội thảo khoa học “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay: Lý luận và thực tiễn”

02/05/2019
Ngày 25/4/2019, tại Hội trường tầng 1, 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội, Viện Nhà nước và Pháp luật đã tổ chức hoạt động khoa học của Đề tài cấp Bộ “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay”. Đề tài này là Báo cáo thường niên của Viện thực hiện trong năm 2019. Chủ nhiệm đề tài là TS. Bùi Đức Hiển.

Tham gia hội thảo, về phía Viện Nhà nước và Pháp luật có TS. Phạm Thị Thúy Nga, Phó Viện trưởng; PGS.TS. Lê Mai Thanh, Tổng biên tập Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. Hội thảo có sự tham dự của các nhà khoa học nghiên cứu chính sách, pháp luật môi trường đến từ Viện Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Tài nguyên và Môi trường, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Nghiên cứu Quản lý đất đai, Viện Chiến lược Tài nguyên và Môi trường,...; các nhà quản lý đến từ các cơ quan thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường; đại diện một số báo, tạp chí và các nhà hoạt động thực tiễn về môi trường tại một số tổ chức xã hội như: Trung tâm Tư vấn và Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu, Trung tâm Bảo tồn và Phát triển tài nguyên nước, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam,...

 

PGS.TS. Phạm Hữu Nghị (bên trái) và TS. Bùi Đức Hiển đồng chủ trì hội thảo

 

PGS.TS. Phạm Hữu Nghị và TS. Bùi Đức Hiển đồng chủ trì hội thảo. Mục đích chính của hội thảo tập trung vào đánh giá thực trạng kiểm soát ô nhiễm môi trường  đất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường biển cũng như thực tiễn quản lý chất thải ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở các thông tin, kết quả trao đổi, thảo luận tại Hội thảo, các thành viên sẽ nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện các chuyên đề của đề tài.

 

Mở đầu phiên thứ nhất hội thảo là tham luận của TS. Bùi Đức Hiển, “Khái quát về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường”. Tham luận đã phân tích khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường (KSONMT); vai trò của pháp luật về KSONMT; nội dung, nguyên tắc, yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đối với điều chỉnh pháp luật về KSONMT. Theo TS Bùi Đức Hiển, KSONMT là tổng thể các hoạt động phòng ngừa, dự báo; theo dõi, kiểm tra, giám sát, phát hiện những tác động đến môi trường, hiện trạng môi trường, sự biến đổi của môi trường so với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường; ngăn chặn; xử lý các tác động tiêu cực đến môi trường của các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền, các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải cũng như các chủ thể khác nhằm đảm bảo cho môi trường được trong lành.

 

TS. Bùi Đức Hiển, Chủ nhiệm đề tài, trình bày tham luận

 

Trên cơ sở nội hàm của thuật ngữ KSONMT và những đặc thù của môi trường, TS. Bùi Đức Hiển cho rằng, pháp luật về KSONMT là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước, các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải và các chủ thể khác trong phòng ngừa, dự báo; theo dõi, kiểm tra, giám sát, phát hiện những tác động đến môi trường, hiện trạng môi trường, sự biến đổi của môi trường so với quy chuẩn kỹ thuật môi trường; ngăn chặn; xử lý ô nhiễm môi trường, đảm bảo cho môi trường được trong lành.

 

Trong tham luận, TS. Bùi Đức Hiển đã lập luận về 07 nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về KSONMT, đó là: (i) Bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành; (ii) Bảo đảm phát triển bền vững; (iii) Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ môi trường; (iv) Kiểm soát ô nhiễm môi trường tại nguồn; (v) Tác động tới chi phí và lợi ích để các chủ thể tự nguyện lựa chọn tuân thủ pháp luật; (vi) Người gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền, phải chịu trách nhiệm pháp lý; (vii) Hợp tác quốc tế và khu vực trong bảo vệ môi trường.

 

TS. Nguyễn Thị Thu Hà

 

Tiếp theo, TS. Nguyễn Thị Thu Hà (Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường) đã trình bày tham luận “Thực trạng KSONMT không khí và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay”. Trong những năm gần đây, ô nhiễm không khí ở nước ta đang trở thành vấn đề môi trường được nhiều người quan tâm, lo ngại. Trong bảng xếp hạng Chỉ số thành tích môi trường (EPI) được công bố vào năm 2014, chất lượng không khí ở Việt Nam chỉ được xếp thứ 170 trong số 178 quốc gia được liệt kê, điều này có nghĩa Việt Nam là một trong số 10 quốc gia có không khí ô nhiễm nhất thế giới. Đến năm 2018, chỉ số chất lượng không khí của Việt Nam đứng thứ 159 trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Như vậy, sau 4 năm dù vị trí xếp hạng có thay đổi theo chiều hướng tích cực nhưng vẫn thuộc nhóm 30 quốc gia có chất lượng không khí kém nhất trên thế giới.

 

Tác giả đã cung cấp số liệu về tỷ lệ phát thải các khí gây ô nhiễm môi trường theo ngành ở Việt Nam. Theo đó, nguồn gây ô nhiễm đến từ hoạt động giao thông chiếm 70%, hoạt động công nghiệp – xây dựng chiếm 20% và 10% còn lại đến từ các ngành khác. Việt Nam đã xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường từ luật cho đến nghị định và các văn bản hướng dẫn trong đó có các quy định về bảo vệ môi trường không khí. Năm 2016, Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến không khí cũng đang tiếp tục được rà soát, bổ sung và ban hành mới, gồm có: quy chuẩn kỹ thuật về môi trường không khí xung quanh, khí thải phương tiện giao thông và các quy chuẩn kỹ thuật về khí thải công nghiệp. Theo TS Nguyễn Thị Thu Hà, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong các hành động giảm thiểu khí ô nhiễm nhưng Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức về quản lý và kiểm soát khí thải. Trên thực tế, chất lượng không khí có tác động rất lớn đến sức khỏe người dân. Vì vậy, việc quản lý, nâng cao chất lượng không khí là hết sức quan trọng và cần xác định rõ các nguồn lực đầu tư cần thiết để kiểm soát chất lượng không khí, đảm bảo sức khỏe người dân.

 

TS. Đào Trọng Tứ

 

Trong tham luận “Thực trạng KSONMT nước ở Việt Nam hiện nay”, TS. Đào Trọng Tứ (Phó Chủ tịch Hội Tưới tiêu Việt Nam) chỉ ra những vấn đề chính trong quản lý tài nguyên nước hiện nay, đó là: sự bất cập trong thực thi pháp luật do nguồn nhân lực và vật lực còn yếu và thiếu; chưa thực sự theo phương pháp quản lý tổng hợp và bền vững theo lưu vực sông mà vẫn theo địa giới hành chính; chưa có quy hoạch phát triển tài nguyên nước toàn diện trên các hệ thống sông/lưu vực sông, mà thường là quy hoạch từng ngành riêng rẽ, như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch thủy điện… Hiện nay, Nhà nước cũng chưa có sự kết hợp quy hoạch các tài nguyên thiên nhiên khác, như quy hoạch đất, quy hoạch lâm nghiệp,... Trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, chưa xem xét đến yêu cầu sử dụng nước của các ngành trong toàn lưu vực sông mà chỉ chú ý đến từng ngành, địa phương riêng lẻ. Ngoài ra, vẫn tồn tại một số chồng chéo trong chức năng quản lý tài nguyên nước, đặc biệt ở cấp trung ương.

 

Trao đổi tại hội thảo, ThS. Nguyễn Thi (Vụ Pháp chế, Bộ Tài nguyên và Môi trường) nêu ra 03 công cụ chính để KSONMT, đó là:

- Quyền lực nhà nước: đánh giá tác động môi trường, cấp phép, thanh tra, kiểm tra,…;

- Công cụ xã hội: bảo hiểm xã hội, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,…;

- Yếu tố minh bạch: nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp,…

 

Khác với ThS. Nguyễn Thi, khi nhìn nhận về các công cụ để KSONMT, TS. Nguyễn Văn Phương (Đại học Luật Hà Nội) đưa ra 04 nhóm công cụ chính: (i) Hành chính; (ii) Kinh tế; (iii) Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng; (iv) Thông tin – truyền thông. Bình luận về các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về KSONMT, TS. Nguyễn Văn Phương  đặt câu hỏi, liệu có cần nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa giữa việc can thiệp của Nhà nước với sự tự quyết của doanh nghiệp hay không?

 

Phiên thứ hai của hội thảo diễn ra với các tham luận về thực trạng KSONMT đất, biển và thực trạng pháp luật về quản lý chất thải ở Việt Nam hiện nay.

 

TS. Phạm Thị Hương Lan

 

TS. Phạm Thị Hương Lan (Viện Nhà nước và pháp luật) trình bày về KSONMT đất ở Việt Nam. TS. Lan đã phản ánh thực trạng KSONMT đất tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh; thực trạng KSONMT đất đối với khu vực bị ô nhiễm hóa chất độc hại sử dụng trong chiến tranh, chất bảo vệ thực vật tồn lưu; đề cập trách nhiệm KSONMT đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nêu các vấn đề đặt ra cần giải quyết.

 

Về KSONMT biển, bà Phạm Thị Gấm (Tổng cụ Biển và Hải đảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, trong thời gian gần đây, một nguồn gây ô nhiễm môi trường biển được các nhà quản lý quan tâm là hoạt động nhận chìm ở biển. Đây là một trong những chế định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với các điều ước quốc tế về vấn đề này. Nhận chìm ở biển là sự đánh chìm hoặc trút bỏ có chủ định xuống biển các vật, chất được nhận chìm ở biển theo quy định của luật.  Tuy pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và quy định về vấn đề này trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Tài nguyên nước năm 2012 và Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo năm 2015 nhưng việc thực thi vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập.

 

Một trong những bất cập trong KSONMT biển mà tham luận nhắc đến là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, KSONMT biển chưa có sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả do nhiều nguồn gây ô nhiễm khác nhau và thuộc sự quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành. Việc quản lý các nguồn gây ô nhiễm biển thuộc nhiều cơ quan khác nhau như Bộ Tài nguyên và Môi trường (cơ quan chịu trách nhiệm thống nhất quản lý về bảo vệ môi trường), Bộ Giao thông vận tải (chất thải từ hoạt động giao thông vận tải), Bộ Y tế (rác thải y tế), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (chất thải trong nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản), Bộ Xây dựng (chất thải rắn, nước thải đô thị), Bộ Quốc Phòng (bảo vệ môi trường trong lĩnh vực quốc phòng), Bộ Công an,… và Ủy ban nhân dân tỉnh các cấp. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các cơ quan này chưa phân định một cách rõ ràng, cụ thể và xảy ra tình trạng chồng chéo thẩm quyền. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực thi công tác KSONMT biển trên thực tế.

 

TS. Nguyễn Văn Phương

 

Về thực trạng quản lý chất thải, TS. Nguyễn Văn Phương (Đại học Luật Hà Nội) đề cập 5 ưu điểm và 4 khuyết điểm của pháp luật KSONMT ở Việt Nam. Theo TS. Phương, pháp luật KSONMT của Việt Nam còn có 4 khuyết điểm: chưa có sự phân công rõ ràng, minh bạch, thống nhất về trách nhiệm quản lý nhà nước về chất thải; các quy định hiện hành về quản lý chất thải chưa đầy đủ và chưa phù hợp với quy trình quản lý chất thải; chưa phát huy đầy đủ vai trò của cộng đồng và các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp trong quản lý chất thải; chưa chú trọng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quản lý chất thải. 

 

Bình luận tại hội thảo, luật sư Trương Tiến Hùng (Đoàn Luật sư Tp. Hà Nội) cho rằng, vai trò của Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc KSONMT còn mờ nhạt. Nhà nước cần mở rộng và “xã hội hóa” thị trường xử lý ô nhiễm môi trường cũng như xây dựng cơ chế để đánh giá công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường.

 

Luật sư Trương Tiến Hùng

 

Hội thảo cũng thu nhận những ý kiễn, trao đổi, góp ý của ThS. Nguyễn Thu Dung (Viện Nhà nước và Pháp luật); TS. Trần Văn Duy (Viện Từ điển học và Bách khao thư); bà Nguyễn Thị Ngọc Lan (Trung tâm Bảo tồn, Phát triển tài nguyên nước);…

 

Phát biểu kết thúc hội thảo, thay mặt cho Ban chủ nhiệm đề tài, PGS.TS. Phạm Hữu Nghị cám ơn và xin tiếp thu các ý kiến của các báo cáo viên và các đại biểu dự hội thảo trong quá trình thực hiện đề tài. PGS.TS. Phạm Hữu Nghị nhấn mạnh: Về lý luận, cần xác định định rõ hơn nội dung điều chỉnh pháp luật về KSONMT theo các cách tiếp cận; làm rõ các nguyên tắc mang tính đặc thù trong điều chỉnh pháp luật về KSONMT; đặt pháp luật về KSONMT trong điều kiện kinh tế thị trường để xác định trách nhiệm của Nhà nước, của doanh nghiệp, của cộng đồng trong KSONMT. Về thực tiễn, cần vạch ra những bất cập, hạn chế, vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi pháp luật KSONMT, nên đưa ra những tình huống thực tiễn để phân tích; chỉ ra được nguyên nhân của những bất cập, hạn chế, vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi pháp luật KSONMT, từ đó mới có thể đề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật KSONMT một cách phù hợp.  

 

Ông nhìn nhận hội thảo đã thành công và kết quả thu được từ hội thảo đã đạt được mục đích đề ra.

 

Toàn cảnh hội thảo