•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hội thảo quốc tế “Bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp Việt Nam: Bài học từ kinh nghiệm quốc tế”

29/05/2019
Hội thảo này do Viện Nhà nước và Pháp luật phối hợp với Văn phòng Viện Konrad Adenauer Stiftung của CHLB Đức (Viện KAS) tại Việt Nam tổ chức ngày 21/05/2019 tại Khách sạn Sheraton, số 11 đường Xuân Diệu, Tây Hồ, Hà Nội.

Hội thảo trân trọng đón nhận sự tham gia của các đại biểu và nhà khoa học nước ngoài gồm có: ông Peter Girke (Trưởng đại diện Văn phòng Viện KAS tại Việt Nam); GS.TS. Anna Sobaczewska, ThS. Piotr Polak, ThS, Joanna Florecka (Viện Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan); GS.TS. Sangin Park (Đại học Quốc gia Seoul, Hàn Quốc).

 

Các nhà quản lý, các nhà khoa học đến từ Bộ Tư pháp, Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật (Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Luật Huế, Viện NC Đông Nam Á, Viện NC Châu Âu đã đến dự và tham gia trao đổi, thảo luận tại Hội thảo.

 

Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Đức Minh, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, khẳng định: Nghị quyết số 35/2016/NQ-CP của Chính phủ ghi nhận nguyên tắc Nhà nước bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp không phân biệt loại hình, thành phần kinh tế trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để bảo đảm quyền bình đẳng này. Hội thảo này là cơ hội để chúng ta cùng nhau trao đổi về những khó khăn, thách thức trong tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp ở Việt Nam cũng như chia sẻ kinh nghiệm về vấn đề này từ các nước Đức, Ba Lan, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Thái Lan.

 

Tiếp theo là phát biểu của ông Peter Girke. Ông nêu ra một số thách thức mà doanh nghiệp gặp phải khi tiếp cận các nguồn lực về đất đai, tài chính, chi phí tuyển dụng,… Một trong những biện pháp để giải quyết những thách thức này là cải thiện hệ thống pháp luật. Hội thảo là nơi để các nhà quản lý, các nhà khoa học trong nước và quốc tế đưa ra các khuyến nghị về thể chế để bảo đảm tiếp cận nguồn lực. Ông cám ơn Viện Nhà nước và Pháp luật đã hợp tác nhiệt tình và có hiệu quả với Viện KAS và chúc hội thảo thành công.

 

Phiên thứ nhất có chủ đề “Tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp: Phương thức mà quốc tế hướng tới” do GS.TS. Sangin Park và PGS.TS. Nguyễn Như Phát (Viện Nhà nước và Pháp luật) chủ trì. Tham luận đầu tiên do GS.TS. Anna Sobaczewska trình bày, “Kinh nghiệm của Ba Lan trong việc hoàn thiện chính sách thúc đẩy bình đẳng cho doanh nghiệp”. Tham luận gồm 03 phần chính:

  • Sự phát triển của nguyên tắc tự do và công bằng kinh tế, cụ thể trong bối cảnh thay đổi chính trị diễn ra ở Ba Lan kể từ thế kỷ XX;
  • Nguyên tắc kinh tế thị trường xã hội và tự do kinh tế đóng vai trò nền tảng trong đời sống kinh tế Ba Lan;
  • Pháp luật Liên minh Châu Âu và việc bảo đảm tự do và công bằng của doanh nghiệp.

 

Nguyên tắc kinh tế thị trường xã hội và tự do kinh tế là hai trong bốn nguyên tắc cơ bản xây dựng nên bộ khung cho hệ thống kinh tế được quy định tại Điều 20 Hiến pháp Ba Lan. Tòa án Hiến pháp Ba Lan nhấn mạnh rằng, tự do kinh tế bao gồm khả năng thiết lập và tiến hành hoạt động kinh doanh với mục đích chủ yếu là lợi nhuận. Đây không chỉ là hình thức pháp lý đơn thuần, là nguyên tắc hiến định mà còn là quyền chủ thể có giá trị hiến định. Một cá nhân có thể sử dụng quyền tương đương với nhà nước hoặc cơ quan công quyền và được bảo hộ thông qua Tòa án Hiến pháp.

 

Tiếp theo là tham luận của ThS. Chu Thị Thanh An (Viện Nhà nước và Pháp luật) với chủ đề “Sự bình đẳng của các doanh nghiệp trong tiếp cận và sử dụng nguồn lực phát triển: Kinh nghiệm của Hoa Kỳ”. Để đảm bảo về mặt pháp lý cho sự bình đẳng của các doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn lực, Hoa Kỳ đã ban hành những đạo luật về chống độc quyền và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cạnh tranh là xương sống của chính sách kinh tế Hoa Kỳ và pháp luật chống độc quyền là một trong những công cụ chủ yếu để duy trì và phát triển nền kinh tế thị trường. Ba đạo luật về chống độc quyền bao gồm: đạo luật Sherman, đạo luật Clayton và đạo luật Ủy ban Thương mại Liên bang. Trong đó, đạo luật Sherman thông qua năm 1890 cấm hai hành vi hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí độc quyền; đạo luật Clayton năm 1914 điều chỉnh các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và chống cạnh tranh mà đạo luật Sherman không điều chỉnh như hành vi phân biệt giá, mua bán và sáp nhập,… Còn đạo luật Ủy ban Thương mại Liên bang năm 1914 thiết lập Ủy ban Thương mại Liên bang là cơ quan ngăn chặn và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc các hành vi khác ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.

 

Nhà nước Hoa Kỳ cũng ban hành chính sách pháp luật để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thể là: (i) Cải cách khung pháp lý nhằm tạo điều kiện gia nhập thị trường; (ii) Hỗ trợ tài chính; (iii) Hỗ trợ quản lý và đào tạo lao động; (iv) Hỗ trợ công nghệ và xúc tiến xuất khẩu.

 

Hội thảo tiếp tục diễn ra với tham luận “Hệ thống khen thưởng dựa trên năng lực và sự bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực: Kinh nghiệm từ sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc” của GS.TS. Sangin Park. Ông cho biết, từ năm 1960 đến 1988, tốc độ tăng tưởng GDP trên đầu người hằng năm của Hàn Quốc là 6,2%. Đây được coi là sự phát triển kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc. Nguyên nhân của thành công này đến từ sự hiệu quả trong việc khắc phục các thể chế còn thiếu của thị trường tài chính và thị trường cho các linh kiện, phụ tùng. Chính phủ cũng có những chiến lược hiệu quả để bắt kịp xu thế phát triển của thế giới. Ngoài ra, hệ thống khen thưởng dựa trên năng lực bằng cách cung cấp các ưu đãi kinh doanh cho các công ty xuất khẩu, sự bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp là một điểm độc đáo trong sự phát triển của Hàn Quốc.

 

Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống các tập đoàn tài phiệt (các tập đoàn rất lớn nằm dưới sự điều khiển của một vài gia tộc, còn gọi là “chaebol”) đã gây ra những trở ngại cho sự tiến bộ của ngành công nghiệp sáng tạo. Các hoạt động giao dịch nội bộ quá mức của các chaebol đã không tạo ra cơ hội đổi mới cho các công ty khác. Sự thiếu hụt về cạnh tranh đổi mới sẽ làm mất đi động lực phát triển, đổi mới của các chaebol. Ngoài ra, ngành sản xuất đang gặp khủng hoảng với sự suy giảm mức độ cạnh tranh. Xếp hạng của Hàn Quốc về chỉ số năng lực cạnh tranh sản xuất toàn cầu và chỉ số thương mại đã giảm, đặc biệt là trong các ngành sản xuất phi công nghệ thông tin kể từ năm 2012. Tác giả nhìn nhận nền kinh tế Hàn Quốc hiện đang ở bước ngoặt. Chính phủ phải đưa ra các giải pháp mang tính chính sách để loại bỏ lợi ích nhóm của các chaebol. Việc đổi mới hệ thống chính trị - xã hội là cần thiết để thay đổi mối quan hệ giữa các chaebol với các quan chức nhà nước.

 

Trả lời câu hỏi của ông Peter Girke về tình trạng đánh cắp công nghệ và tham nhũng ở Hàn Quốc, GS.TS. Sangin Park cho biết, các doanh nghiệp nhỏ đều bị các chaebol đánh cắp công nghệ nhưng họ không dám đứng ra làm chứng vì sợ bị loại khỏi cuộc chơi do tầm ảnh hướng quá lớn của các chaebol. Về vấn đề tham nhũng, một số người nhận hối lộ (quan chức nhà nước) đã vào tù nhưng người đưa hối lộ (lãnh đạo các chaebol) thì chưa bị bắt. Điều này cho thấy tình trạng tham nhũng vẫn chưa có những thay đổi lớn.

 

Trả lời câu hỏi của TS. Đặng Vũ Huân (Bộ Tư pháp) về hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở Ba Lan, GS.TS Anna Sobaczewska cho biết, doanh nghiệp nhà nước ở Ba Lan vẫn tồn tại và đang hoạt động trong môi trường cạnh tranh rất tích cực. Hiện nay, không có sự phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, một số lĩnh vực Nhà nước vẫn độc quyền để bảo vệ nền kinh tế.

 

Trong phiên này, hội thảo cũng đã lắng nghe tham luận “Chính sách hỗ trợ tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thái Lan: Một số gợi mở cho Việt Nam” của ThS. Nguyễn Tuấn Anh (Viện NC Đông Nam Á) và “Chính sách pháp luật của Trung Quốc đối với nguồn lực đất đai” của GS.TS. Đỗ Tiến Sâm (Viện NC Trung Quốc).

 

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến (Đại học Luật Hà Nội), PGS.TS. Nguyễn Như Phát, PGS.TS. Phạm Hữu Nghị và các nhà khoa học khác cũng đã trao đổi, thảo luận về các vấn đề: chủ sở hữu tập thể về đất đai ở Trung Quốc; giải quyết xung đột lợi ích trong sử dụng đất đai; tiếp cận nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam và Trung Quốc;…

 

Phiên thứ hai “Cải thiện sự bình đẳng của doanh nghiệp Việt Nam trong tiếp cận nguồn lực phát triển” do PGS.TS. Nguyễn Đức Minh và TS. Phạm Thị Thúy Nga (Viện Nhà nước và Pháp luật) chủ trì. Mở đầu phiên là tham luận của ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương, “Tiếp cận nguồn lực của các doanh nghiệp để phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam”. Bài viết cung cấp thông tin và đánh giá về thực trạng đầu tư cho khoa học, công nghệ của doanh nghiệp:

  • Số lượng doanh nghiệp đầu tư cho khoa học, công nghệ còn thấp, với tỷ lệ 6,23% có đầu tư R&D;
  • Tổ chức khoa học công nghệ ngoài công lập dần tăng lên nhưng số doanh nghiệp khoa học công nghệ còn ít;
  • Vốn đầu tư cho khoa học, công nghệ từ ngân sách nhà nước giảm, vốn từ khối tư nhân đang tăng lên;
  • Việc đầu tư cho khoa học, công nghệ chủ yếu diễn ra ở các doanh nghiệp lớn;
  • Ít công nghệ đột phá, thường có sự lặp lại ý tưởng của các sản phẩm công nghệ trước đó.

 

Tác giả cũng đã chỉ ra những trở ngại cơ bản dẫn đến tình trạng trên. Đó là việc các doanh nghiệp khó tiếp cận các cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu cũng như nguồn tín dụng vay ưu đãi. Thủ tục hành chính chưa thân thiện với doanh nghiệp nhỏ và vẫn còn tình trạng thân hữu trong cấp vốn nghiên cứu, triển khai.

 

Để khuyến khích đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương đã đề xuất một số kiến nghị liên quan đến chiến lược phát triển khoa học, công nghệ; chính sách miễn, giảm thuế và quy định về doanh nghiệp khoa học, công nghệ.

 

Tiếp theo, PGS.TS. Phạm Hữu Nghị đại diện tập thể tác giả (PGS.TS. Nguyễn Đức Minh là đồng tác giả) trình bày tham luận “Sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo đảm sự bình đẳng của doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn lực phát triển ở Việt Nam”. Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp có cơ sở hiến định khi Khoản 2 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Yêu cầu về bảo đảm sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp cũng được quy định trong nhiều đao luật như: Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 5), Luật Đầu tư năm 2014 (Điều 5), Luật Cạnh tranh năm 2018 (Điều 6), văn bản hợp nhất số 03/VBHN năm 2017 hợp nhất Luật Thương mại (Điều 10) và trong nhiều văn bản pháp luật khác. Bài viết tập trung phân tích ba nguồn lực chính để doanh nghiệp tiếp cận là: nhân lực; vật lực và vốn.

 

Về nguồn nhân lực, tác giả cho rằng, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ không cạnh tranh được với các doanh nghiệp lớn trong ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 và trong tiếp cận lực lượng lao động trình độ cao. Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận nguồn lực lao động của doanh nghiệp, đồng thời cũng để tăng khả năng chống chịu của người lao động trước tác động của cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế thì Nhà nước và người lao động phải quan tâm đến chất lượng giáo dục và đào tạo. Lao động giá rẻ không còn là lợi thế cạnh tranh nữa.

 

Để bảo đảm sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong tiếp cận vốn, cần tiếp tục giảm bớt thời gian và thủ tục cho vay của các tổ chức tín dụng, loại bỏ các rào cản dẫn đến chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả ngoài lãi suất vay. Giảm lãi suất vay, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận các nguồn vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh là rất có ý nghĩa. Để giảm lãi suất cho vay thì các ngân hàng cần xử lý nợ xấu, phát triển thêm dịch vụ mới, điều chỉnh chính sách tài chính công, ứng dụng công nghệ thông tin để giảm bớt chi thường xuyên.

 

Trao đổi tại hội thảo, TS. Đỗ Thị Kim Tiên (Học viện Hành chính Quốc gia) nhìn nhận, bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp phần lớn xuất phát từ ứng xử của Nhà nước. Bà chia sẻ với quan điểm của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị về cơ sở pháp lý để bảo đảm sự bình đẳng của doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn lực ở Việt Nam là tương đối đầy đủ nhưng việc hiện thực hóa lại không được như mong muốn. Đó là do lý thuyết về hệ thống không được lồng ghép vào chính sách pháp luật. Mặc dù, pháp luật quy định về việc cán bộ, công chức và người thân của họ không được thành lập doanh nghiệp nhưng trên thực tế thì nguồn tiền của họ vẫn đổ vào những doanh nghiệp “thân hữu”, doanh nghiệp “sân sau” và việc không kiểm soát được nguồn tiền sẽ dẫn đến tình trạng những mảnh đất vàng rơi vào tay các doanh nghiệp này.

 

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến cũng đưa ra một số bình luận. Ông cho rằng, tham nhũng, bất bình đẳng xã hội hình thành cũng từ cách tiếp cận nguồn lực. Nguồn lực đất đai ở nước ta hiện nay có những bất bình đẳng trong chi phí, trong vị trí tiếp cận dẫn đến lợi thế đất đai tập trung vào một nhóm. Ngoài ra, cũng có tình trạng bất bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng chính sách thu hút đầu tư nhưng Nhà nước không thu lợi được gì mà lại đối mặt với một số vấn đề nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường (ví dụ, vụ Formosa) hoặc, không thu hút được những công nghệ tiên tiến mà chỉ là các công nghệ trung bình.

 

GS. Sangin Park cho rằng, để giảm bớt tham nhũng về đất đai, chúng ta phải đưa ra quy trình thầu công khai, như vậy thì tất cả nguồn doanh thu được công khai, được sử dụng và có thể bù đắp lại cho nhóm dân cư nghèo. Ông cũng cho biết, ở Hàn Quốc, các chaebol cũng thực hiện những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là vào các công ty sản xuất linh kiện và phụ tùng thông qua việc tạo nên thị trường cho các doanh nghiệp này hoạt động. Các chaebol phân chia các công ty con thành các khối và có sự đối xử đặc biệt, tuy nhiên vì quyền lực tập trung chủ yếu ở những lãnh đạo chaebol nên khi vai trò của họ trong việc phân bổ đã trở nên quá lớn thì sẽ xảy ra sự xung đột về quyền sở hữu giữa các công ty.

 

Hội thảo cũng đã thu nhận những trao đổi, thảo luận của GS.TS. Anna Sobaczewska, PGS.TS. Doãn Hồng Nhung (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội), ThS. Trần Viết Long (Đại học Luật Huế) và ThS. Nguyễn Thu Dung (Viện Nhà nước và Pháp luật).

 

Trong phiên này, hội thảo cũng đã nghe tham luận “Bình đẳng của doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn lực phát triển: Một số thông tin từ điều tra Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)” của ông Phạm Ngọc Thạch (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam).

 

Phát biểu kết thúc hội thảo, ông Peter Girke nhận xét: Hội thảo đã lắng nghe kinh nghiệm từ nhiều quốc gia khác nhau và những vấn đề mà Việt Nam gặp phải cũng xảy ra ở các quốc gia này. Mỗi quốc gia có bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế khác nhau nhưng những thách thức thì hầu như các quốc gia nào cũng gặp phải và hội thảo đã phần nào đưa ra những giải pháp, khuyến nghị cụ thể phù hợp với Việt Nam. Ông mong muốn Viện Nhà nước và Pháp luật tổng kết các kiến nghị này và gửi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

PGS.TS. Nguyễn Đức Minh gửi lời cảm ơn tới Văn phòng Viện KAS tại Việt Nam, ông Peter Girke và các cộng sự đã giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ với Viện Nhà nước và Pháp luật để tổ chức hội thảo này. Ông cảm ơn các vị khách quốc tế, các nhà quản lý, các khoa học đã tham gia nhiệt tình và đóng góp vào thành công của hội thảo.

 

Một số hình ảnh tại hội thảo:

 

PGS.TS. Nguyễn Đức Minh phát biểu khai mạc hội thảo

 

Ông Peter Girke phát biểu

 

GS.TS. Anna Sobaczewska (ngoài cùng bên phải) trình bày tham luận

 

ThS. Chu Thị Thanh An trình bày tham luận

 

GS.TS. Sangin Park, Đại học Quốc gia Seoul

 

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến trao đổi tại hội thảo

 

PGS.TS. Phạm Hữu Nghị trình bày tham luận

 

TS. Đỗ Thị Kim Tiên chia sẻ ý kiến

 

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Các tin cùng chuyên mục: