Chủ nhiệm đề tài là ThS. Nguyễn Ngọc Mai, thành viên là NCS. Trần Tuấn Minh và ThS. Lê Thị Hồng Xuân.

ThS. Nguyễn Ngọc Mai, Chủ nhiệm đề tài, trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài
Mở đầu, ThS. Nguyễn Ngọc Mai trình bày nội dung những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm sử dụng công nghệ cao (CNC). Tội phạm sử dụng CNC là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự, là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự gây ra lỗi cố ý hoặc vô ý, trong đó nội hàm xác định khái niệm phân biệt với các tội phạm khác đó là đối tượng sử dụng các thành tựu của khoa học công nghệ làm công cụ, phương tiện để phạm tội.
Sau khi phân tích tính chất, chủ thể, khách thể, chủ quan, khách quan của tội phạm sử dụng CNC, nhóm nghiên cứu đưa ra khái niệm: Chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm sử dụng CNC là những tư tưởng, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và các thiết chế quyền lực khác thông qua các hoạt động có căn cứ khoa học đã được thể chế hóa thành các quy định trong hệ thống pháp luật hình sự nhằm điều chỉnh những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng phương tiện, công cụ công nghệ số, mạng viễn thông, Internet xâm phậm trật tự an toàn thông tin, tài sản, bí mật cá nhân, an ninh quốc gia và các lợi ích hợp pháp khác của các nhân, tổ chức trong không gian mạng.

PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa (ngồi giữa) chủ trì tọa đàm
Chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm sử dụng CNC được thể hiện trên 3 nội dung chủ yếu:
- Chính sách hình sự hóa và phi hình sự hóa đối với các hành vi sử dụng CNC gây nguy hiểm cho xã hội.
Chính sách này phản ánh sự cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ trật tự an toàn xã hội trong môi trường số và thúc đẩy phát triển kinh tế, công nghệ. Hình sự hóa là nhằm kiểm soát chặt chẽ các nguy cơ bảo vệ an ninh, an toàn mạng và tài sản của các cá nhân, tổ chức và phi hình sự hóa là gỡ bỏ các rào cản, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế số và khuyến khích đổi mới, sáng tạo. Việc cân bằng hai chính sách này là yếu tố then chốt để đảm bảo cho hệ thống pháp luật vừa nghiêm mình, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số.
- Chính sách phòng ngừa và hợp tác quốc tế.
Xuất phát từ đặc thù không biên giới của loại tội phạm này, việc hợp tác quốc tế là điều kiện để kiểm soát và ngăn chặn hiệu quả tội phạm sử dụng CNC. Việt Nam đang tích cực thực hiện các chính sách đa phương và song phương trong phòng ngừa tội phạm sử dụng CNC.
- Chính sách xử lý người phạm tội sử dụng CNC.
Kết hợp hài hòa giữa tính nghiêm minh của pháp luật nhằm để răn đe, phòng ngừa và tính nhân đạo để tạo cho người phạm tội được sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập cộng đồng.

NCS. Trần Tuấn Minh (bên trái) và ThS. Nguyễn Ngọc Mai lắng nghe ý kiến trao đổi, thảo luận của các nhà khoa học
Tiếp theo, NCS. Trần Tuấn Minh trình bày về thực trạng chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm sử dụng CNC ở Việt Nam. Về thực trạng quy định pháp luật, hiện nay, hình phạt chủ yếu áp dụng đối với loại tội phạm này là hình phạt tù, trong đó mức hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù. Bên cạnh đó, còn có các hình phạt bổ sung khác như hình phạt tiền, tịch thu tài sản, cấm hành nghề.
Nhìn chung, Việt Nam đã tạo được hành lang pháp lý ban đầu thể hiện ở mục 2 Chương 16 Bộ luật Hình sự năm 2015 với nhiều quy định điều chỉnh tội phạm cụ thể trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và bước đầu đã đạt được một số hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm thể hiện thông qua việc triệt phá hàng trăm chuyên án lớn, xuyên quốc gia. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, tồn tại xuất phát từ khung pháp lý cũng như trong thực tiễn thi hành. Trước tiên, Bộ luật Hình sự quy định trách nhiệm hình sự phần lớn là đối với cá nhân. Đây là lỗ hổng khá lớn bởi vì tội phạm sử dụng công nghệ cao là doanh nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn. Những vấn đề còn tồn tại, bất cập khác có thể kể đến là chứng cứ điện tử, tiền mã hóa, tương trợ tư pháp.
Đề tài đưa ra 3 giải pháp chính nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm sử dụng CNC. Thứ nhất, hoàn thiện các quy định về tội phạm sử dụng công nghệ cao. Cụ thể, Bộ luật Hình sự cần quy định thêm về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, tội phạm hóa những hành vi mới. Thứ hai, hoàn thiện các thủ tục tố tụng hình sự với các quy định về chứng cứ điện tử. Sớm ban hành các thông tư, nghị quyết để hướng dẫn chuẩn hóa quy trình thu thập, giám định, phục hồi đối với chứng cứ điện tử. Thứ ba, nâng cao năng lực thực thi và hội nhập quốc tế.

Các nhà khoa học tham dự tọa đàm và phát biểu góp ý, trao đổi về đề tài
Thảo luận tại tọa đàm, ThS. Nguyễn Thanh Tùng cho rằng, đề tàu nên có sự tiếp cận rộng rãi hơn, không chỉ tội phạm sử dụng công nghệ cao mà cần tìm hiểu cả tội phạm sử dụng công nghệ nói chung, chẳng hạn như tòa án trực tuyến, chứng cứ điện tử… Việc này sẽ giúp đề tài đưa ra quan điểm cụ thể, rõ ràng hơn đối với nhóm tội phạm sử dụng công nghệ cao.
Trao đổi với đề tài, theo PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa, đề tài cần nhấn mạnh đến sự thay đổi không ngừng của công nghệ dẫn đến khái niệm pháp lý luôn luôn đi sau thực tiễn. Sự biến đổi liên tục, nhanh chóng của công nghệ dẫn đến nhiều hành vi chưa được tội phạm hóa trong luật. Bởi thế, có lẽ cần nhận diện tội phạm công nghệ cao theo hướng mở, và khi đó thì chính sách pháp luật sẽ như thế nào. PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa cho rằng, đề tài nên đưa ra sự phân biệt giữa tội phạm sử dụng công nghệ cao và tội phạm truyền thống sử dụng công nghệ.
Đề tài cũng nhận được những ý kiến góp ý, thảo luận của ThS. Nguyễn Thu Dung, ThS. Bùi Thị Hường và các nhà khoa học khác về các vấn đề liên quan đến nội dung của đề tài.