•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Bảo vệ trẻ em bị bạo hành: So sánh các quy định pháp luật của Việt Nam và Ôxtrâylia

07/10/2019
Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật trẻ em của Việt Nam và Ôxtrâylia, bài viết này đã so sánh các quy định của Luật Trẻ em 2016 và văn bản pháp luật của Việt Nam và pháp luật bảo vệ trẻ em của Ôxtrâylia ở hai nội dung: nghĩa vụ cung cấp thông tin về bạo lực trẻ em và vai trò, trách nhiệm của người làm công tác bảo vệ trẻ em tại địa phương, từ đó đề xuất một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Luật trẻ em 2016 ở Việt Nam.

Từ khóa: Trẻ em; Luật pháp về trẻ em; Bảo vệ trẻ em; Luật trẻ em Việt Nam 2016; Pháp luật Ôxtrâylia.

 

1. Đặt vấn đề

Luật Trẻ em đã được Quốc hội Khóa XIII thông qua vào ngày 5/4/2016 và có hiệu lực kể từ ngày 1/6/2017. Với tổng cộng 7 chương, 106 điều, Luật Trẻ em 2016 bao gồm nhiều nội dung mới nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong tình hình mới, đồng thời ghi nhận đầy đủ các quyền của trẻ em trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989. Một trong những nội dung mới của Luật Trẻ em 2016 là quy định về ba cấp độ bảo vệ trẻ em (BVTE), bao gồm phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp dành cho các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

 

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2014, 68,4% trẻ em từ 1-14 tuổi phải chịu ít nhất một lần bạo hành về tâm lý hoặc thể xác bởi các thành viên trong gia đình. Mặc dù chưa có số liệu điều tra về các hình thức xử phạt trẻ em ngoài phạm vi gia đình (như tại các cơ sở giáo dục, trông giữ trẻ), báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng phản ánh tình trạng người chăm sóc trẻ em thường xuyên kết hợp biện pháp xử phạt với động cơ muốn kiểm soát hành vi của trẻ bằng mọi cách có thể. Trong khi 58,2% trẻ em từng chịu áp lực tâm lý thì có khoảng 42,7% chịu bạo hành về thể xác, trong đó 2,1% trẻ em từng bị bạo hành dưới các hình thức nghiêm trọng (đánh trẻ vào đầu, tai hoặc mặt, hoặc đánh trẻ thật mạnh và lặp đi lặp lại) (Tổng cục Thống kê, 2014:224). Các học giả đã nêu ra bốn nguyên nhân dẫn tới tình trạng bạo hành trẻ em ở nước ta, chủ yếu từ phía cha, mẹ và người chăm sóc trẻ (Emery R. Clifton, Nguyễn Hải Trung và Jaeyop Kim, 2014). Thứ nhất, cha, mẹ bị căng thẳng tâm lý, lo lắng về kinh tế gia đình, có vấn đề về sức khỏe và không được gia đình, họ hàng và bạn bè giúp đỡ. Thứ hai, người chăm sóc trẻ em thiếu thông tin, hiểu biết về quyền được chăm sóc, giáo dục của trẻ em; cha, mẹ có lòng tự trọng và tự tin thấp, có kỳ vọng không thực tế và thiếu kỹ năng làm cha mẹ. Thứ ba, cha, mẹ và người chăm sóc trẻ nghiện rượu, ma túy hoặc lạm dụng chất gây nghiện. Thứ tư, cha, mẹ và người chăm sóc trẻ là nạn nhân bạo lực từ khi còn nhỏ, đã quen với bạo lực gia đình nên tiếp tục có hành động xử phạt tâm lý hoặc bạo hành thể xác đối với con cái và thậm chí là đối với cả trẻ em khác trong cộng đồng.

 

Tại Ôxtrâylia, những nhân tố trên đây cũng là nguyên nhân phổ biến gây ra bạo hành trẻ em. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em có dấu hiệu bị xâm hại chỉ chiếm khoảng 4,2% trong tổng số khoảng 4.4 triệu trẻ em Ôxtrâylia. Trong khi tỷ lệ này ở các tiểu bang tăng lên trong hai năm 2015 và 2016, bang Queensland có tỷ lệ vụ việc giảm 13,1% nhờ hoàn thiện các quy định pháp luật về BVTE và cải cách quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin về an toàn trẻ em (Viện Sức khỏe và Phúc lợi xã hội Ôxtrâylia, 2017). Trong phạm vi bài viết này sẽ tiến hành phân tích các quy định của Luật Trẻ em 2016, Nghị định 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em do Chính phủ ban hành ngày 9/5/2017 và có so sánh với pháp luật BVTE của Ôxtrâylia, điển hình là luật BVTE của bang Queensland, từ đó đề xuất một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Luật trẻ em 2016 ở Việt Nam.

 

2. Pháp luật bảo vệ trẻ em bị bạo hành

2.1. Cơ sở pháp luật quốc tế

Ngay sau khi Công ước Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1989, Việt Nam và Ôxtrâylia là hai trong số những quốc gia đầu tiên trên thế giới phê chuẩn và cam kết thực hiện Công ước. Điều 19 (1) của Công ước quy định nghĩa vụ BVTE của các quốc gia thành viên như sau: “Các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợp để BVTE khỏi tất cả các hình thức bạo hành về thể chất hoặc tinh thần, bị thương tổn hay lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc sao nhãng việc chăm sóc, bị ngược đãi hoặc bóc lột, gồm cả lạm dụng tình dục trong khi trẻ em vẫn nằm trong vòng chăm sóc của cha, mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ, một hay nhiều người giám hộ pháp lý, hoặc của bất kỳ người nào khác được giao việc chăm sóc trẻ em”.

 

Đồng thời, Công ước cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải áp dụng những biện pháp BVTE, như theo Điều 19 (2) gồm các chương trình xã hội để phòng ngừa, phát hiện, hỗ trợ, cung cấp thông tin, báo cáo, điều tra, điều trị, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại, và có sự tham gia của hệ thống tư pháp. Hơn thế nữa, Điều 39 của Công ước nêu ra các yêu cầu về phục hồi thể chất, tâm lý và tái hòa nhập xã hội dành cho trẻ em bị xâm hại (Công ước của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em, 1989).

 

2.2. Bảo vệ trẻ em bị bạo hành ở Việt Nam theo Luật Trẻ em 2016

Định nghĩa về bạo lực trẻ em được quy định tại khoản 6, Điều 4, Luật Trẻ em 2016: “Bạo lực trẻ em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em”. Ba cấp bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có nguy cơ bị bạo lực nói riêng bao gồm: phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp.

 

Tại cấp phòng ngừa, các biện pháp bảo vệ được áp dụng với cộng đồng, gia đình và tất cả trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em và giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị bạo lực (Điều 48). Tại cấp hỗ trợ và can thiệp, cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân có trách nhiệm thông báo, tố giác hành vi bạo hành đến cơ quan lao động - thương binh và xã hội, cơ quan công an các cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Tổng đài điện thoại quốc gia về BVTE (Điều 51 Luật Trẻ em 2016).

 

Theo Nghị định 56/2017/NĐ-CP có quy định sau khi tiếp nhận thông tin, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã đánh giá nguy cơ ban đầu và mức độ tổn hại của trẻ em bị bạo lực. Nếu trẻ em được xác định có nguy cơ hoặc đang bị tổn hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm thì trong vòng 12 giờ từ khi nhận thông tin, Chủ tịch UBND cấp xã, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp can thiệp khẩn cấp hoặc tạm thời cách ly trẻ em khỏi môi trường hoặc người gây tổn hại cho trẻ em (Điều 26, 31 và 32 của Nghị định). Tiếp theo, trên cơ sở xác định nhu cầu của trẻ bị bạo hành, người làm công tác BVTE cấp xã xây dựng và trình Chủ tịch UBND cấp xã phê duyệt kế hoạch hỗ trợ, can thiệp (Điều 27 và 28 của Nghị định). Sau đó, người làm công tác BVTE chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp các dịch vụ, cơ sở khám, chữa bệnh, cơ sở giáo dục để cùng thực hiện và rà soát kết quả thực hiện kế hoạch. Dựa trên đánh giá tình trạng của trẻ em và mức độ an toàn của môi trường trẻ đang sinh sống, người làm công tác BVTE trình Chủ tịch UBND cấp xã quyết định về việc kết thúc hoặc tiếp tục kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em (Điều 29 và 30 của Nghị định). 

 

2.3. Pháp luật Ôxtrâylia về bảo vệ trẻ em bị bạo hành

An toàn trẻ em tại bang Queensland được thực hiện theo quy định của Luật Bảo vệ Trẻ em do Quốc hội thông qua ngày 18/3/1999 và sau đó sửa đổi trong các năm 2008, 2014 và 2016 (Luật Bảo vệ Trẻ em 1999), và được giao cho cơ quan chủ quản là Sở Dịch vụ Cộng đồng, An toàn trẻ em và Khuyết tật. Các Trung tâm Dịch vụ An toàn trẻ em được thành lập để thực hiện ba cấp phòng ngừa và can thiệp sớm, bao gồm: phòng ngừa sơ cấp gồm các dịch vụ tổng thể cho cộng đồng), phòng ngừa thứ cấp gồm chương trình tác động vào nguy cơ rủi ro đối với trẻ em, thanh thiếu niên và gia đình), và các dịch vụ can thiệp chuyên sâu dành riêng cho trẻ em, thanh thiếu niên và gia đình tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro cao.

 

Theo Luật Bảo vệ Trẻ em 1999 tại bang Queensland, khi có nghi ngờ về nguy cơ trẻ em bị bạo hành, tất cả mọi cá nhân cần cung cấp thông tin cho các Trung tâm Dịch vụ An toàn trẻ em tại địa phương hoặc gọi điện cho Tổng đài Dịch vụ An toàn trẻ em (Điều 13). Sau khi tiếp nhận thông tin, cán bộ BVTE tại địa phương có nghĩa vụ xác minh tin báo để làm rõ ba nội dung chính: có hay không có trẻ em có nguy cơ, hoặc đang bị, hoặc đã bị bạo hành; liệu trẻ em đã bị tổn hại về thể chất và tinh thần hay chưa; và, trẻ em có hay không có cha, mẹ hoặc người chăm sóc mà họ có thể và sẵn sàng thực hiện các biện pháp BVTE. Trong quá trình xác minh thông tin, cán bộ BVTE phải thông báo cho cơ quan cảnh sát địa phương nếu nhận thấy có dấu hiệu hành vi vi phạm hình sự (chẳng hạn, trẻ em bị bạo hành nghiêm trọng) và bắt đầu đánh giá môi trường sống của trẻ dựa trên các chỉ số nguy hại (Điều 14). Nếu cha, mẹ hoặc người giám hộ không phải là những đối tượng thực hiện hành vi bạo lực hoặc gây ra nguy cơ rủi ro đối với trẻ, cán bộ BVTE sẽ tiếp tục đánh giá, lập kế hoạch an toàn cho trẻ, áp dụng các biện pháp can thiệp tại gia đình, cộng đồng để cùng thực hiện với cha, mẹ, người giám hộ, các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc và giáo dục tại địa phương (Điều 51ZB và 51ZC).

 

Bên cạnh đó, nếu quá trình đánh giá cần phải kéo dài, cán bộ BVTE sẽ phối hợp với cảnh sát địa phương xin Lệnh Điều tra của Tòa án, cho phép kéo dài thời gian điều tra vụ việc từ 4 tới 8 tuần và có thể áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo an toàn của trẻ em, bao gồm: tạm thời cách ly trẻ khỏi cha, mẹ hoặc người giám hộ, tạm thời chuyển trẻ sang một cơ sở hoặc gia đình chăm sóc thay thế, thực hiện giám định y khoa hoặc tiến hành phẫu thuật, chăm sóc y tế đối với những tổn hại thể chất và tinh thần của trẻ (từ Điều 16 tới Điều 49). Sau khi kết thúc điều tra, nếu kết quả đánh giá cho thấy cha, mẹ hoặc người giám hộ không thể chăm sóc và đảm bảo an toàn cho trẻ tại gia đình, và những người này không sẵn sàng phối hợp với cơ quan và cán bộ BVTE có nghĩa vụ báo cáo Giám đốc Tố tụng thuộc Sở Tư pháp. Tiếp theo, Sở Tư pháp sẽ xem xét và ban hành lệnh về BVTE trong thời gian ngắn hạn là 2 năm hoặc kéo dài tới khi trẻ em đủ 18 tuổi. Bốn loại lệnh do cơ quan tố tụng ban hành bao gồm: Lệnh bảo vệ trực tiếp (bắt buộc nghĩa vụ của cha, mẹ hoặc người giám hộ), lệnh giám sát (cho phép cán bộ giám sát thường xuyên việc chăm sóc của cha, mẹ đối với trẻ), lệnh chăm sóc và nuôi dưỡng (chỉ định cơ quan an toàn trẻ em hoặc một thành viên khác trong gia đình thực hiện chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ hàng ngày), và lệnh giám hộ (chỉ định cơ quan an toàn trẻ em, hoặc một thành viên khác trong gia đình, hoặc một người khác trở thành người giám hộ của trẻ) (từ Điều 62 tới Điều 67). 

 

2.4. So sánh một số nội dung giữa Luật Trẻ em 2016 của Việt Nam và pháp luật về bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bị bạo hành của Ôxtrâylia

Thứ nhất, về nghĩa vụ cung cấp thông tin về bạo lực trẻ em ở Việt Nam, Luật Trẻ em 2016 quy định trách nhiệm chung đối với tất cả các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân tại khoản 1, Điều 51. Quy định này được nhắc lại tại khoản 1, Điều 25 của Nghị định 56/2017/NĐ-CP, nhưng chưa bao gồm các nội dung về ràng buộc trách nhiệm hoặc chế tài xử phạt đối với những cá nhân, tổ chức phát hiện hoặc có nghi ngờ về bạo hành trẻ em nhưng không thông báo cho cơ quan lao động - thương binh và xã hội, cơ quan công an các cấp, UBND cấp xã hoặc Tổng đài điện thoại quốc gia về vụ việc.

 

Khác với Việt Nam, các quy định của Ôxtrâylia về trách nhiệm báo cáo vụ việc bạo hành trẻ em được đặc biệt nhấn mạnh nghĩa vụ pháp lý của những người làm việc trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Cụ thể, theo pháp luật của bang Queensland, nghĩa vụ cung cấp thông tin về dấu hiệu trẻ em bị bạo lực hoặc có nguy cơ bị bạo hành là bắt buộc đối với nhân viên thuộc 10 nhóm ngành nghề, bao gồm: bác sĩ, y tá, giáo viên (Điều 13E), cảnh sát (Luật Quản lý nghiệp vụ Cảnh sát 1990), người bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em (Luật Giám hộ công 2014), cán bộ an toàn trẻ em (thuộc Sở Dịch vụ Cộng đồng, An toàn trẻ em và Khuyết tật), cán bộ chăm sóc trẻ em (thuộc Ủy ban về Trẻ em, Thanh thiếu niên và Giám hộ trẻ em) (Điều 13F, Luật Bảo vệ Trẻ em 1999), nhân viên chăm sóc và giáo dục mầm non (Luật Bảo vệ Trẻ em sửa đổi 2016, Queensland) và nhân viên làm việc trong các trường học và cơ sở giáo dục (các Điều 364, 365, 366, Luật Giáo dục 2006).

 

Tại cấp chính quyền liên bang, Luật Gia đình 1975 của Ôxtrâylia quy định nhân viên thuộc Toà án Liên bang và Toà án Gia đình phải báo cáo những nghi ngờ về bạo hành trẻ em. Những người có nghĩa vụ pháp lý này bao gồm: công chứng viên, nhân viên tư vấn các vấn đề gia đình, cán bộ giải quyết các tranh chấp gia đình, trọng tài viên và luật sư đại diện cho quyền lợi của trẻ em. Mặt khác, chế tài xử phạt đối với những người không cung cấp thông tin cũng được quy định trong pháp luật về trẻ em của các tiểu bang và vùng lãnh thổ tại Ôxtrâylia. Ví dụ, tại vùng lãnh thổ phía Bắc, Điều 26 (Luật Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em 2007) quy định người phát hiện, có thông tin hoặc có nghi ngờ về bạo hành trẻ em mà không thông báo kịp thời cho đơn vị cảnh sát thì có thể bị xử phạt tới mức tối đa.

 

Như vậy, trong khuôn khổ pháp luật tại Ôxtrâylia, nghĩa vụ pháp lý của cá nhân, tổ chức về thông báo và cung cấp thông tin là nội dung quan trọng của công tác BVTE. Theo đánh giá về thực thi pháp luật an toàn trẻ em của quốc gia này trong hai năm 2013 và 2014, hơn 70% trong tổng số 137.585 tin báo BVTE được cung cấp từ những người có nghĩa vụ báo cáo bắt buộc, trong đó nhiều nhất là từ lực lượng cảnh sát (30.898 tin báo, chiếm 22,5%), giáo viên và nhân viên trường học, cơ sở giáo dục (22.771 tin báo, chiếm 16,5%), và nhân viên công tác xã hội (13.707 tin báo, tương đương 10%) (Ủy ban Cải cách Pháp luật Queensland, 2015:93). Qua đó, có thể thấy rằng những quy định về nghĩa vụ báo cáo đã góp phần nâng cao trách nhiệm của các cán bộ BVTE, từ đó tăng cường hiệu quả phòng ngừa bạo hành trẻ em.

 

Thứ hai, về vai trò và trách nhiệm của người làm công tác BVTE tại địa phương, ở Việt Nam Luật Trẻ em 2016 và Nghị định 56/2017/NĐ-CP quy định nhiều nhiệm vụ quan trọng cho người làm công tác BVTE cấp xã. Các cán bộ này trực tiếp đánh giá mức độ tổn hại của trẻ em hoặc nguy cơ trẻ em bị bạo lực, xác định nhu cầu của trẻ em để xây dựng và chủ trì việc thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp và cung cấp dịch vụ chăm sóc tại địa phương (từ Điều 27 đến Điều 30, Nghị định 56/2017/NĐ-CP). Đồng thời, họ cũng là những người chịu trách nhiệm chính về tiếp nhận thông tin, đánh giá mức độ an toàn môi trường sống của trẻ em để tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp xã quyết định áp dụng biện pháp can thiệp khẩn cấp hoặc tạm thời cách ly trẻ em bị bạo hành khỏi cha, mẹ, người chăm sóc và xem xét, quyết định biện pháp chăm sóc thay thế (Điều 31 và 32, Nghị định 56/2017/NĐ-CP). Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở các quy định về trách nhiệm nhưng chưa có quy định về trình độ đào tạo và bồi dưỡng của người làm công tác BVTE nhằm đảm bảo họ có đầy đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của công việc.

 

Tương tự vai trò trung tâm của người làm công tác BVTE cấp xã ở Việt Nam, cán bộ an toàn trẻ em tại Ôxtrâylia là những người trực tiếp xác minh, điều tra thông tin về bạo hành trẻ em, thực hiện và theo dõi kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị bạo lực hoặc có nguy cơ bị bạo hành, cũng như giám sát việc chăm sóc thay thế, nuôi dưỡng trẻ em tại các cơ sở chăm sóc ngoài gia đình (out-of-home care). Theo pháp luật của bang Queensland, cán bộ BVTE thực hiện trách nhiệm theo quy định tại “Sổ tay Thực hành An toàn Trẻ em” và phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ đào tạo, chuyên môn ví dụ như:

 

(a) Chức trách: Cán bộ BVTE chịu trách nhiệm trực tiếp về đánh giá, hỗ trợ, can thiệp và quản lý trường hợp trẻ em có nguy cơ hoặc là nạn nhân bị xâm hại.

 

(b) Nhiệm vụ: Hỗ trợ và tăng cường năng lực cho các gia đình để giúp họ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em trong môi trường an toàn; xác minh và điều tra thông tin vụ việc bạo hành trẻ em, bao gồm: đánh giá tâm sinh lý, tình trạng sức khỏe, nhân thân và nhu cầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ của trẻ em và gia đình; xây dựng kế hoạch, điều phối và trực tiếp thực hiện kế hoạch, sử dụng các phương pháp tham vấn, trị liệu, tư vấn, giáo dục, đàm phán, hòa giải và tuyên truyền; đánh giá, giám sát hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ, can thiệp và đề xuất điều chỉnh hoặc kết thúc kế hoạch hỗ trợ, can thiệp nếu cần thiết; thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cán bộ BVTE tại Tòa Trẻ em và Tòa Gia đình theo quy định của pháp luật.

 

(c) Về trình độ: Tốt nghiệp đại học trở lên thuộc các chuyên ngành công tác xã hội, các dịch vụ về con người và phúc lợi xã hội, chuyên ngành xã hội học, tâm lý học hoặc khoa học hành vi con người (Sở Dịch vụ Cộng đồng, An toàn trẻ em và Khuyết tật bang Queensland, 2013, 2017).

 

Các phân tích ở trên cho thấy các cơ quan BVTE tại Ôxtrâylia rất chú trọng công tác quy hoạch cán bộ, thông qua việc ban hành những quy định cụ thể về trình độ chuyên môn, tiêu chuẩn đạo đức và hướng dẫn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhằm kịp thời phòng ngừa, hỗ trợ tích cực và can thiệp hiệu quả đối với các vụ việc xâm hại trẻ em.

 

3. Một số kiến nghị về thực hiện các quy định pháp luật bảo vệ trẻ em bị bạo lực hoặc có nguy cơ bị bạo hành ở Việt Nam

Trên cơ sở so sánh với các quy định pháp luật về BVTE và kinh nghiệm thực tiễn áp dụng pháp luật của Ôxtrâylia, chúng tôi xin đưa ra một số đề xuất về thực hiện Luật Trẻ em 2016 và ban hành các văn bản nhằm đảm bảo an toàn trẻ em như sau:

 

Thứ nhất, cần khẩn trương tiến hành rà soát và ban hành văn bản quy định trách nhiệm của các cán bộ, nhân viên làm việc trong lĩnh vực chăm sóc, giáo dục trẻ em về việc báo cáo thông tin liên quan tới nguy cơ trẻ em bị bạo lực hoặc dấu hiệu trẻ em bị bạo hành.

 

Thứ hai, cần ban hành văn bản quy định về tiêu chuẩn đạo đức, trình độ đào tạo, bồi dưỡng, năng lực chuyên môn của người làm công tác BVTE cấp xã. Để đảm bảo hiệu quả, tính bền vững và trách nhiệm giải trình trong công tác BVTE, sự chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ cấp xã giữ vai trò quyết định kết quả của biện pháp phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp, và nâng cao ý thức cộng đồng về BVTE trước những nguy cơ bị xâm hại.

 

Thứ ba, khẩn trương thực hiện tổ chức Tòa Gia đình và người chưa thành niên tại Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương. Hiện nay trên phạm vi cả nước, Tòa Gia đình và người chưa thành niên mới chỉ được tổ chức tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4 năm 2016. Việc giải quyết và xét xử các vụ án tại Tòa gia đình và người chưa thành niên sẽ giúp bảo vệ hiệu quả các quyền của trẻ em, đặc biệt đối với các vụ án bạo hành trẻ em có tình tiết phức tạp, hoặc hành vi bạo lực gây ra bởi cha, mẹ, người chăm sóc hoặc người giám hộ trong phạm vi gia đình, họ hàng, hoặc các vụ án bạo lực trẻ em mà cả người bị hại và bị can/bị cáo đều là trẻ em hoặc người chưa thành niên.

 

Tài liệu trích dẫn

Công ước của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em 1989.

Công văn số 99/TANDTC-PC ngày 12/4/2016 của Tòa án Nhân dân Tối cao. https://thuvienphapluat.vn/cong-van/Thu-tuc-To-tung/Cong-van-99-TANDTC-PC-to-chuc-Toa-gia-dinh-va-nguoi-chua-thanh-nien-2016-308550.aspx.

Emery R. Clifton, Nguyễn Hải Trung, Jaeyop Kim. 2014. “Understanding child maltreatment in Hanoi: Intimate partner violence, low self-control, and social and child care support" Journal of interpersonal violence 7:1228-1257.

Luật Bảo vệ Trẻ em, Queensland, Ôxtrâylia. 1999. https://www.legislation.qld.gov.au/view/pdf/2018-01-29/act-1999-010.

Luật Bảo vệ Trẻ em sửa đổi, Queensland, Ôxtrâylia. 2016. https://www.qlrc.qld.gov.au/__data/assets/pdf_file/0012/489909/child-protection-mandatory-reporting-masons-law-amendment-act-2016.pdf.

Luật Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em Vùng Lãnh thổ phía Bắc, Ôxtrâylia. 2007. http://www8.austlii.edu.au/cgi-bin/viewdoc/au/legis/nt/num_act/capoca200737o2007315/s26.html.

Luật Gia đình Ôxtrâylia. 1975. https://www.legislation.gov.au/Details/C2017C00385.

Luật Giám hộ công, Queensland, Ôxtrâylia. 2014. https://www.legislation.qld.gov.au/view/pdf/2017-06-05/act-2014-026.

Luật Giáo dục, Queensland, Ôxtrâylia. 2006. https://www.legislation.qld.gov.au/view/pdf/2007-11-02/act-2006-039.

Luật Quản lý nghiệp vụ Cảnh sát, Queensland, Ôxtrâylia.1990. https://www.legislation.qld.gov.au/view/pdf/2017-03-01/act-1990-004.

Luật Trẻ em. Việt Nam. 2016. Luật số: 102/2016/QH13.

Nghị định 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em.

Sở Dịch vụ Cộng đồng, An toàn trẻ em và Khuyết tật bang Queensland. 2013. Child Safety Practice Manual. https://www.communities.qld.gov.au/resources/childsafety/practice-manual/cspm-collated.pdf.

Sở Dịch vụ Cộng đồng, An toàn trẻ em và Khuyết tật bang Queensland. 2017. Child Safety Officer – Qualification requirements. https://www.communities.qld.gov.au/resources/careers/child-safety/child-safety-officer-qualifications.pdf.

Thông tư số 01/2016/TT-CA ngày 21/01/2016 của Chánh án TAND tối cao. https://luatvietnam.vn/toa-an/thong-tu-01-2016-tt-ca-toa-an-nhan-dan-toi-cao-102582-d1.html.

Tổng cục Thống kê. 2014. Báo cáo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam (MICS) 2014. Nxb. Thống kê.

Ủy ban Cải cách Pháp luật Queensland. 2015. Review of Child Protection Mandatory Reporting Laws for the Early Childhood Education and Care Sector. http://www.qlrc.qld.gov.au/__data/assets/pdf_file/0004/432094/WP73.PDF.

Viện Sức khỏe và Phúc lợi xã hội Ôxtrâylia. 2017. Child abuse and neglect statistics. https://aifs.gov.au/cfca/publications/child-abuse-and-neglect-statistics.

 

Đỗ Lan Phương, Đại học Deakin, Ôxtrâylia

 

(Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 1, năm 2019)