•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

08/03/2019
Công ước ICCPR là điều ước quốc tế do Đại hội đồng Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên thông qua ngày 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976, trong đó quy định về các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người. Các quốc gia thành viên phải tôn trọng các quyền được quy định tại Công ước, bao gồm quyền sống, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp hòa bình, quyền tự do lập hội, quyền bầu cử, quyền bình đẳng trước pháp luật...

Điều đó được ghi nhận tại khoản 1 Điều 2 Công ước ICCPR: “Mỗi quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền pháp lý của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc mọi quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác”.

 

Thực hiện cam kết quốc tế


Theo khoản 1 Điều 40 Công ước ICCPR, “các quốc gia thành viên của Công ước này cam kết sẽ đệ trình báo cáo về những biện pháp mình đã thông qua để tăng hiệu lực của các quyền được xác nhận trong Công ước và về những tiến bộ đã đạt được trong việc thực hiện các quyền đó”.


Thực hiện cam kết của mình khi gia nhập Công ước ICCPR ngày 24/9/1982, Việt Nam đã xây dựng và nộp Báo cáo quốc gia lần thứ ba của Việt Nam về thực thi Công ước ICCPR tới Uỷ ban Nhân quyền của Liên hợp quốc vào cuối năm 2017. Báo cáo lần này đã cung cấp những thông tin một cách đầy đủ và toàn diện về tình hình thực thi Công ước ICCPR từ năm 2002 đến tháng 9/2017 tại Việt Nam, gồm những thông tin chung khái quát về hệ thống các cơ quan nhà nước, khuôn khổ pháp luật về bảo vệ quyền con người ở phạm vi quốc gia, thực hiện cam kết quốc tế về quyền con người thách thức đối với Việt Nam và những thông tin chi tiết về tình hình thực thi các quy định cụ thể của Công ước. Bên cạnh đó, Báo cáo cũng tập trung vào những Kết luận quan sát của Ủy ban Công ước nêu ra sau khi xem xét Báo cáo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam đệ trình năm 2002.


Sau khi Việt Nam nộp Báo cáo lần thứ ba nêu trên, tháng 6/2018, Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc đã đưa ra Danh mục các vấn đề quan tâm đối với Báo cáo lần thứ ba của Việt Nam. Tháng 10/2018, Việt Nam có Báo cáo trả lời Danh sách các vấn đề quan tâm của Ủy ban Nhân quyền, trong đó làm rõ thêm những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy quyền con người và quyền công dân, đồng thời khẳng định việc tuân thủ các cam kết tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.


Việc xây dựng Báo cáo quốc gia lần thứ ba của Việt Nam về thực thi Công ước ICCPR do Bộ Tư pháp chủ trì với sự tham gia của các Bộ, ngành có liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Nội dung của Báo cáo được xây dựng trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan Chính phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ, viện nghiên cứu về quyền con người, một số cơ sở đào tạo và người dân. Dự thảo Báo cáo đã được đăng công khai để lấy ý kiến toàn dân trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Nhiều hội thảo tham vấn đã được tổ chức nhằm tạo cơ hội đối thoại cởi mở, thẳng thắn giữa Ban soạn thảo và các bên liên quan.

 

Bà Sarah H. Cleveland, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, tham dự với tư cách

là chuyên gia "Phiên giả định tăng cường kỹ năng trả lời trước Ủy ban Nhân quyền về Báo cáo

quốc gia lần thứ 3 của Việt Nam về thực thi Công ước ICCPR" do Bộ Tư pháp tổ chức


Dự kiến, tại Phiên họp ngày 11-12/3/2019 tới đây, Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc sẽ tiến hành xem xét Báo cáo lần thứ ba của Việt Nam về việc thực thi Công ước ICCPR và sẽ có cuộc đối thoại trực tiếp với Đoàn Việt Nam về những nội dung của Báo cáo. Để chuẩn bị cho việc tham gia Phiên họp này, trong vai trò là cơ quan đầu mối triển khai thực hiện Công ước ICCPR, Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều cuộc tập huấn, hội thảo để tham vấn các ý kiến của các Bộ, ngành có liên quan, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức phi chính phủ. Đặc biệt, mới đây nhất là tổ chức 02 Phiên giả định tăng cường kỹ năng trả lời trước Ủy ban Nhân quyền về Báo cáo lần thứ ba tại TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và tại tỉnh Vĩnh Phúc. Bà Sarah H. Cleveland. Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã đến Việt Nam với tư cách là chuyên gia hỗ trợ, giúp hiểu rõ hơn về quy trình, thủ tục tại Phiên họp xem xét Báo cáo; cách thức điều hành, các nhiệm vụ của Uỷ ban Nhân quyền, đồng thời chia sẻ kỹ năng đối thoại và một số lưu ý về danh sách các vấn đề quan tâm của Việt Nam.


Có thể thấy, Báo cáo lần thứ ba của Việt Nam đã bao quát một cách toàn diện việc thực thi Công ước ICCPR tại Việt Nam với những kết quả, số liệu thống kê cụ thể về từng vấn đề đặt ra tại Kết luận quan sát của Ủy ban Nhân quyền. Tại các Phiên giả định vừa diễn ra tại Việt Nam, bà Sarah H. Cleveland đã đánh giá cao công tác chuẩn bị của Việt Nam và hy vọng rằng việc đối thoại về Báo cáo quốc gia lần thứ ba của Việt Nam tại Ủy ban Nhân quyền trong tuần tới tại Thụy Sỹ sẽ diễn ra tốt đẹp.


Ghi nhận các quyền trong pháp luật quốc gia


Việc tham gia Công ước ICCPR là một sự tiếp tục khẳng định quan điểm, chính sách xuyên suốt của Việt Nam trong vấn đề bảo vệ và thúc đẩy quyền dân sự và chính trị. Kể từ đó, công tác xây dựng pháp luật trong lĩnh vực quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam ngày càng được chú trọng và đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, đặc biệt là sau Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Chỉ trong vòng hơn 10 năm, rất nhiều luật quan trọng liên quan trực tiếp đến các quyền dân sự, chính trị đã được ban hành và liên tục được rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm mục đích ngày càng ghi nhận đầy đủ nhất các quyền này.


Đặc biệt, quyền con người, quyền công dân luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Mới đây nhất, Hiến pháp năm 2013 được thông qua đánh dấu bước tiến quan trọng của Việt Nam trong nhận thức về quyền con người cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực. Hiến pháp dành một chương riêng về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, trong đó ghi nhận cụ thể, đầy đủ các quyền về dân sự và chính trị. Điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháp trước đây là không cho phép các văn bản dưới luật được đưa ra các hạn chế quyền con người và ngay cả luật của Quốc hội cũng chỉ được đưa ra các hạn chế quyền con người, quyền công dân “trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” (Điều 14 Hiến pháp).


Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới, trong đó bao gồm các nội dung về quyền con người, quyền công dân. Chỉ tính từ tháng 1/2014 đến nay, đã có khoảng hơn 100 luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua, trong đó có nhiều luật quan trọng về quyền con người, chẳng hạn như: Bộ luật hình sự năm 2015; Bộ luật dân sự năm 2015; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bộ luật dân sự năm 2015; Luật thi  hành tạm giữ, tạm giam năm 2015; Luật tiếp cận thông tin năm 2016; Luật tTín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Luật táo chí năm 2016; Luật trợ giúp pháp lý năm 2017; Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Luật an ninh mạng năm 2018; Luật tố cáo năm 2018; Luật đặc xá năm 2018... Các đạo luật này quy định đầy đủ, rõ ràng hầu hết các quyền dân sự và chính trị; các cơ chế bảo đảm và phát huy các quyền này tại Việt Nam...

 

Cơ chế đảm bảo thực thi quyền


Bên cạnh việc ghi nhận các quyền dân sự và chính trị, pháp luật Việt Nam cũng quy định rõ cơ chế đảm bảo việc thực hiện các quyền này trên thực tế.


Hiến pháp quy định trực tiếp các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước. Trong khi đó, các luật về tổ chức của các cơ quan (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân) quy định ngày càng đầy đủ về tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước; cơ chế phân công, phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước; cơ chế vận hành, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và công chức nhằm đảm bảo việc thực thi quyền dân sự và chính trị của người dân.


Các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực chuyên ngành cụ thể có liên quan đến quyền dân sự và chính trị cũng đều có quy định về nguyên tắc đảm bảo thực thi quyền. Pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức đã đổi mới một bước, theo đó hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đã được thực hiện thường xuyên hơn. Các hình thức giám sát được tổ chức đa dạng, phong phú như việc trả lời chất vấn của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn...


Đưa quy định pháp luật vào cuộc sống


Trong những năm qua, quy định pháp luật về quyền dân sự và chính trị đã từng bước đi vào cuộc sống của người dân Việt Nam và ngày càng đạt được những thành công đáng kể, đặc biệt phải kể đến một số lĩnh vực sau:


Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam luôn coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo. Pháp luật Việt Nam đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. Ở Việt Nam không có việc cưỡng ép từ bỏ niềm tin, theo dõi, đe dọa, xúc phạm, giam giữ, tra tấn, hạn chế quyền tiếp cận giáo dục. Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động hận thù, chia rẽ, gây mâu thuẫn và xung đột, làm tổn hại đến an ninh, ổn định của đất nước và cuộc sống yên bình của người dân. Một số đối tượng đã bị bắt, giam giữ không phải vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo mà do có hành vi vi phạm pháp luật, gây mất đoàn kết nội bộ tôn giáo, đi ngược lại lợi ích chung của đồng bào tôn giáo, lợi ích tôn giáo. Các tôn giáo ở Việt Nam chung sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo, thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo in ấn, phát hành kinh sách và đồ dùng việc đạo; đảm bảo tự do tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số.


Về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp, thực tiễn cuộc sống là bằng chứng rất rõ nét về việc thụ hưởng quyền này ở Việt Nam. Có thể thấy, báo chí ở Việt Nam đã phát triển không ngừng, trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ bảo vệ quyền của người dân, lợi ích của xã hội, hỗ trợ công tác kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, chính sách. Tính đến tháng 6/2018, cả nước đã có tới có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm, số lượng trang thông tin điện tử tổng hợp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép đến hết tháng 6/2018 là 1.510. 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Internet phát triển vô cùng nhanh chóng đang tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Tính đến tháng 12/2017, tỷ lệ hộ gia đình có truy cập internet là 28,35%, số người dùng Internet ở Việt Nam là khoảng 50 triệu người, chiếm 54% dân số (so với 30,8 triệu người năm 2013). Việt Nam có 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook.


Quyền lập hội đã được quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật hình sự 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Đến năm 2017, Việt Nam có 68.125 hội, trong đó có các tổ chức, hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật, các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ. 5 tổ chức chính trị-xã hội lớn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội là: Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Các tổ chức chính trị-xã hội này là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện cho quyền lợi, tiếng nói của các giai tầng xã hội. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Luật về Hội. Dự thảo Luật đã được tham vấn nhiều lần ý kiến của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia và người dân để trình Quốc hội cho ý kiến.


Quyền bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng đã được quy định trong Hiến pháp, các đạo luật liên quan và đã đi vào thực tế. Năm 2017, Tòa án gia đình và người chưa thành niên đã được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em dưới 18 tuổi. Các cơ chế tố tụng được bảo đảm theo hướng công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; thủ tục phiên tòa được đổi mới. Việc tiếp cận công lý của người dân luôn được khẳng định … Năm 2018, các Trung tâm TGPL đã tiếp nhận, thực hiện 58.887 vụ việc TGPL cho 51.608 lượt người, trong đó có 18.358 vụ việc tham gia tố tụng (tăng 12,7% so với năm 2017). Đặc biệt, 100% các vụ án hình sự mà yêu cầu phải chỉ định luật sư bào chữa thì đều có sự tham gia của luật sư, trợ giúp viên pháp lý.


Lĩnh vực hành chính và tư pháp - lĩnh vực gắn chặt với người dân, doanh nghiệp – đã được chú trọng nâng cao chất lượng. Một khối lượng lớn nhu cầu liên quan đến vấn đề hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã được giải quyết, trong đó các cơ quan có chức năng của Việt Nam thực hiện đơn giản hoá thủ tục hành chính, từng bước hiện đại hoá, tạo thuận lợi cho người dân cũng như đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước. Năm 2018, số lượng đăng ký hộ tịch đều tăng so với năm 2017, đặc biệt là số lượng đăng ký khai sinh lại tăng rất lớn (đăng ký khai sinh mới cho 2.180.030 trường hợp, đăng ký khai sinh lại cho 1.413.987 trường hợp và 5.354 trường hợp khai sinh có yếu tố nước ngoài; đăng ký kết hôn cho tổng số 787.764 cặp, trong đó có 20.849 trường hợp có yếu tố nước ngoài). Năm 2018, Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Chủ tịch nước giải quyết 5.452 hồ sơ về quốc tịch (gồm 5.278 hồ sơ xin thôi, 164 hồ sơ xin nhập, 10 hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam); trả lời tra cứu quốc tịch Việt Nam của 1.875 trường hợp theo đề nghị của các cơ quan.


Thách thức khi thực thi Công ước


Trong quá trình thực hiện Công ước ICCPR với mục tiêu hết sức tốt đẹp, Việt Nam phải đương đầu với một số khó khăn, thách thức cả về chủ quan và khách quan. Những thách thức ấy là hậu quả của nhiều cuộc chiến tranh với môi trường bị tàn phá, thu nhập còn ở mức trung bình thấp; điều kiện kinh tế – xã hội còn hạn chế; khuôn khổ pháp luật về quyền con người vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, năng lực tổ chức thực hiện pháp luật còn hạn chế, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật còn chưa cao; mức độ phát triển kinh tế – xã hội giữa các vùng và nhóm dân cư chưa đồng đều; thiếu hụt nguồn lực; chất lượng giáo dục về quyền con người mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin; phong tục, tập quán lạc hậu; biến động của tình hình khu vực và quốc tế...


Những thách thức nêu trên không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi người dân mà còn làm phân tán nguồn lực của đất nước, làm giảm hiệu quả của các chính sách khuyến khích và thúc đẩy phát triển quyền dân sự và chính trị ở Việt Nam. Tuy vậy, Việt Nam vẫn nỗ lực vượt qua và đặt ưu tiên cao nhất là tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách pháp luật và tư pháp, thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật để thành công hơn nữa trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền dân sự và chính trị ở Việt Nam./.

 

(Theo http://moj.gov.vn)