image banner
VI | EN
Phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam: Thực trạng pháp luật và giải pháp hoàn thiện
Trang tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc một tham luận được trình bày tại Hội thảo quốc tế do Viện Nhà nước và Pháp luật phối hợp với Viện Friedrich Naumann Foundation for Freedom (CHLB Đức) tổ chức ngày 31/10/2025 với chủ đề "Thể chế pháp lý phát triển thị trường lao động tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia: Kinh nghiệm CHLB Đức và gợi mở cho Việt Nam". Đây là bài viết của TS. Hà Thị Hoa Phượng (Trường Đại học Luật Hà Nội). Tin về hội thảo được đăng trên website theo đường link: https://isl.vass.gov.vn/hoat-dong-khoa-hoc/hoan-thien-the-che-phap-ly-phat-trien-thi-truong-lao-dong-tang-cuong-nang-luc-canh-tranh-quoc-gia-454956
Anh-tin-bai
TS. Hà Thị Hoa Phượng trình bày tham luận của mình tại hội thảo

    Đặt vấn đề
    Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các công nghệ số nền tảng như trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây đang tái cấu trúc sâu sắc cách thức tổ chức sản xuất, phân công lao động và mô hình kinh doanh. Quá trình này vừa tạo ra các nghề mới và nhu cầu kỹ năng mới, vừa làm suy giảm các công việc mang tính lặp lại, thâm dụng lao động giản đơn.
    Việt Nam đã xác lập chuyển đổi số là định hướng chiến lược quốc gia, thể hiện qua Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 cùng nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực số, giáo dục nghề nghiệp và an sinh xã hội. Tuy nhiên, khoảng trống chính sách vẫn hiện hữu, đặc biệt trong bao phủ pháp lý đối với lao động phi chính thức, thiết kế cơ chế tài khóa khuyến khích đào tạo lại, chuẩn hóa dữ liệu kỹ năng và gắn kết nhà trường với doanh nghiệp.
1. Khái niệm và vai trò của phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số
1.1. Khái niệm phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số
    Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) đặt trách nhiệm cho các quốc gia thành viên “hiện thực hoá một cách đầy đủ” quyền tiếp cận với việc làm thông qua các biện pháp, “bao gồm việc định hướng và các chương trình đào tạo cũng như các chính sách và kỹ năng về chuyên môn kỹ thuật và việc làm để đạt được sự phát triển ổn định về kinh tế, xã hội và văn hoá, có công ăn việc làm đầy đủ và hữu ích, với các điều kiện bảo hộ những tự do cơ bản của cá nhân về chính trị và kinh tế”. Chuẩn mực này tạo nền tảng quy phạm cho chính sách phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề, nhất là khi chuyển đổi số tạo ra những dịch chuyển nhanh về yêu cầu kỹ năng đối với người lao động và cấu trúc việc làm trên thị trường lao động.
    Kỹ năng nghề hay kỹ năng nghề nghiệp (professional skill hoặc vocational skills) là thuật ngữ có nội hàm thể hiện khả năng và năng lực thực hiện của con người. Trong đó năng lực thực hiện (Handlungskompetenz trong tiếng Đức) được coi là sự tích hợp nhuần nhuyễn của ba thành tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để hoàn thành được từng công việc cụ thể của nghề1. Như vậy, có thể hiểu kỹ năng nghề là khả năng con người có thể thực hiện tốt một công việc nhất định bằng cách vận dụng kiến thức kết hợp với kỹ năng và thái độ vào công việc đó2. Phát triển kỹ năng nghề là quá trình người lao động không ngừng hoàn thiện và nâng cao năng lực thực hiện công việc nghề nghiệp thông qua việc mở rộng hiểu biết chuyên môn, hình thành tư duy nghề nghiệp tích cực và xây dựng thái độ làm việc chuyên nghiệp. Quá trình này giúp cá nhân thực hiện công việc ngày càng hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu của nghề, thích ứng với sự thay đổi của công nghệ, môi trường lao động và thị trường việc làm.
    Chuyển đổi nghề (occupational/career transition) là chuyển đổi công việc có tính chất chuyên môn hoá và có kỹ năng; chuyển đổi nghề của người lao động là thay đổi nghề, giúp người lao động chuyển từ làm nghề này sang làm nghề khác có hiệu quả hơn3. Trong bối cảnh hiện nay4, có thể hiểu chuyển đổi nghề là quá trình người lao động thay đổi từ nghề nghiệp hiện tại sang một nghề nghiệp khác nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tiến bộ của khoa học - công nghệ hoặc những biến động của thị trường lao động. Đây không chỉ là sự thay đổi về vị trí công việc mà còn là quá trình thích ứng có chủ đích, trong đó người lao động chủ động học tập, bồi dưỡng kiến thức và rèn luyện kỹ năng mới để đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp mới. Quá trình chuyển đổi nghề thường gắn liền với việc đào tạo lại hoặc đào tạo nâng cao nhằm giúp người lao động có đủ năng lực thực hiện công việc trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của công nghệ và môi trường sản xuất. Chuyển đổi nghề có thể diễn ra trong cùng lĩnh vực nghề nghiệp, khi người lao động chuyển sang công việc khác nhưng vẫn dựa trên nền tảng chuyên môn sẵn có, hoặc giữa các lĩnh vực khác nhau hoàn toàn, đòi hỏi sự thích nghi cao hơn. Như vậy, chuyển đổi nghề là một quá trình phát triển nghề nghiệp mang tính tất yếu, góp phần giúp người lao động duy trì việc làm bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và hòa nhập hiệu quả vào nền kinh tế số hiện nay.
    Chuyển đổi số (digital transformation) là việc thay đổi phương thức làm việc, sản xuất thông qua sự tích hợp các công nghệ kỹ thuật số vào hoạt động của mỗi đơn vị, doanh nghiệp nhằm thay đổi cách thức vận hành, mô hình kinh doanh và đem đến những hiệu quả cao hơn, những giá trị mới hơn5. Ở Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông định nghĩa chuyển đổi số là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi tổng thể và toàn diện cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất của cá nhân, tổ chức6. Chuyển đổi số tác động sâu sắc tới thị trường lao động: tạo ra việc làm mới, nâng cấp các yêu cầu với việc làm truyền thống và thay thế lao động giản đơn. Khi doanh nghiệp ứng dụng dữ liệu lớn, tự động hóa, điện toán đám mây và các nền tảng số, nhu cầu nhân lực tăng mạnh ở các khâu phân tích dữ liệu, vận hành - bảo trì hệ thống tự động, bảo đảm an ninh mạng, tiếp thị và thương mại điện tử, cung ứng dịch vụ số. Nhiều vị trí truyền thống cũng bổ sung thêm yêu cầu kỹ năng số (kỹ thuật viên phải đọc dữ liệu cảm biến, nhân viên logistics quản lý đơn hàng trên nền tảng, lao động du lịch - dịch vụ vận hành kênh trực tuyến, nông dân sử dụng công nghệ nông nghiệp thông minh)7. Tự động hóa và trí tuệ nhân tạo trong bối cảnh chuyển đổi số làm giảm nhu cầu ở các công việc lặp lại, thâm dụng lao động giản đơn. Những nhóm lao động không cập nhật kiến thức, kỹ năng số cơ bản hoặc ở khu vực phi chính thức có nguy cơ bị loại trừ cao hơn do không kịp chuyển sang các vị trí có yêu cầu kỹ năng mới8. Do đó, phát
triển kỹ năng và chuyển đổi nghề trở thành điều kiện quyết định để tận dụng cơ hội do chuyển đổi số mang lại, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực đối với nhóm dễ bị tổn thương.
1.2. Vai trò của phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số
    Trong thời đại chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, mọi lĩnh vực của đời sống và sản xuất đều thay đổi nhanh chóng. Trong lĩnh vực lao động, người lao động phải đối mặt với cả cơ hội và thách thức. Điều này đòi hỏi họ phải phát triển kỹ năng và chủ động chuyển đổi nghề để thích ứng, phát triển và giữ vững vị thế trên thị trường lao động.
    Thứ nhất, phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề giúp người lao động tận dụng tốt những cơ hội mà chuyển đổi số mang lại. Khi công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hay thương mại điện tử phát triển, hàng loạt ngành nghề mới ra đời. Người lao động biết học hỏi, nắm bắt kỹ năng số, kỹ năng mềm, ngoại ngữ và tư duy sáng tạo sẽ có nhiều cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao và khả năng làm việc linh hoạt. Đặc biệt, công nghệ số giúp xóa bỏ khoảng cách địa lý, tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận việc làm toàn cầu và làm việc từ xa. Việc phát triển kỹ năng còn giúp họ nâng cao năng suất, tự tin trong môi trường làm việc hiện đại và hội nhập quốc tế.
    Thứ hai, phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề giúp hạn chế những thách thức mà chuyển đổi số mang lại. Khi máy móc, robot, trí tuệ nhân tạo dần thay thế công việc truyền thống, những lao động thiếu kỹ năng dễ bị mất việc. Đầu tư cho đào tạo, học tập suốt đời và chuyển đổi nghề là cách để người lao động tránh bị tụt hậu. Ví dụ, công nhân có thể được đào tạo lại để vận hành dây chuyền tự động, nhân viên văn phòng có thể học thêm kỹ năng quản trị dữ liệu. Nhờ vậy, người lao động không chỉ giữ được việc làm mà còn gia tăng giá trị bản thân. Việc học tập, rèn luyện còn giúp họ vượt qua tâm lý lo lắng, hình thành tư duy linh hoạt, sẵn sàng thay đổi để thích nghi.
    Thứ ba, phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề giúp người lao động chủ động trước những biến đổi không ngừng của chuyển đổi số. Những nghề nghiệp hiện tại có thể biến mất trong vài năm tới, nên chỉ những ai biết tự học, tự đổi mới mới có thể trụ vững. Người lao động cần chủ động cập nhật tri thức, mở rộng kỹ năng liên ngành, và sẵn sàng chuyển hướng khi cần thiết. Sự chủ động còn thể hiện ở khả năng ứng dụng công nghệ để làm việc hiệu quả, kết nối mạng lưới nghề nghiệp và tìm kiếm cơ hội mới. Khi xem việc học là quá trình liên tục, họ không chỉ thích ứng mà còn dẫn đầu xu hướng phát triển.
    Như vậy, trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề là chìa khóa giúp người lao động tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức và chủ động xây dựng tương lai. Đó không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân mà còn là yếu tố quan trọng tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số và thực tiễn thực hiện
2.1. Định hướng chiến lược về phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số
    Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với quan điểm “Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp điện tử là con đường chủ đạo” và chính sách phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
    Để khẩn trương cụ thể hóa chủ trương của Đảng về chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực số phục vụ quá trình chuyển đổi số toàn diện ở nước ta, trong giai đoạn này, có nhiều chính sách của Nhà nước đã được ban hành. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
    Thực hiện cam kết tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới năm 1992 ở Rio de Janeiro, Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững với 17 mục tiêu phát triển bền vững, Việt Nam đã ban hành nhiều Chiến lược, Kế hoạch hành động thực hiện phát triển bền vững. Trong đó phải kể đến Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ về phát triển bền vững. Mục tiêu 8 của Nghị quyết đã khẳng định: “Đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện, liên tục; tạo việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm tốt cho tất cả mọi người”.
    Ngày 06/01/2021, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 21/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin giai đoạn 2021-2025”. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngày 28/01/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 146/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
    Tiếp theo đó, ngày 04/5/2023, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 21-CT/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, đã đề ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu về phát triển thị trường lao động), nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững cho người lao động.
    Gần đây nhất, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong đó xác định các nhiệm vụ và giải pháp: tôn vinh kịp thời các nhà khoa học, nhà sáng chế, doanh nghiệp, cá nhân có thành tích; phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đổi mới giáo dục, đào tạo chất lượng cao, thu hút tài năng, chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ, khoa học, đổi mới sáng tạo; xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, công nghệ số; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, xây dựng nền tảng giáo dục trực tuyến, phát triển nguồn nhân lực cho chuyển đổi số.
2.2. Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động
2.2.1. Về phát triển kỹ năng nghề
    Pháp luật Việt Nam hiện hành đã hình thành một khung pháp lý tương đối đầy đủ về phát triển kỹ năng nghề cho người lao động, thể hiện trong các văn bản trụ cột gồm Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Việc làm năm 2025, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và các nghị định hướng dẫn thi hành. Hệ thống quy định này thể hiện rõ chính sách của Nhà nước trong việc gắn phát triển kỹ năng nghề với bảo đảm việc làm bền vững, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.
    Trước hết, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về phát triển kỹ năng nghề chủ yếu trong mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động. Điều 60 của Bộ luật quy định về việc gười sử dụng lao động có thể tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình theo chương trình, kế hoạch học nghề, tập nghề của cơ sở sử dụng lao động. Quy định này cho phép doanh nghiệp chủ động tổ chức đào tạo nghề cho người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh. Cũng theo khoản 2 của điều này, người sử dụng lao động được khuyến khích hỗ trợ người lao động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng nghề. Điều 62 của Bộ luật tiếp tục cụ thể hóa cơ chế đào tạo thông qua hợp đồng đào tạo giữa người sử dụng lao động và người lao động, quy định rõ nội dung hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo khi người lao động vi phạm cam kết. Hai điều khoản này cho thấy pháp luật lao động Việt Nam đã đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động phát triển kỹ năng nghề trong doanh nghiệp, bảo đảm tính minh bạch, tự nguyện và quyền lợi của người lao động trong quá trình đào tạo.
    Tiếp theo, Luật Việc làm năm 2025 xác định phát triển kỹ năng nghề là một trong những chính sách trọng tâm của Nhà nước về việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Khoản 2 Điều 4 của Luật quy định một trong những nội dung của chính sách việc làm là phát triển kỹ năng nghề, nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng và phát triển kỹ năng nghề cho người lao động để thích ứng với sự thay đổi của thị trường lao động. Bên cạnh đó, Điều 57 của Luật quy định cụ thể việc hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo đó người lao động được hỗ trợ chi phí học nghề để nhanh chóng tìm được việc làm mới. So với Luật Việc làm năm 2013, Luật Việc làm năm 2025 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, không chỉ dừng lại ở chính sách bảo hiểm thất nghiệp mà còn bao gồm phát triển kỹ năng nghề, thông tin thị trường lao động và dịch vụ việc làm. Các quy định này cho thấy Nhà nước đã xác định rõ phát triển kỹ năng nghề là giải pháp cốt lõi nhằm bảo đảm việc làm bền vững, thích ứng với chuyển dịch kinh tế và yêu cầu của cách mạng công nghiệp mới.
    Bên cạnh đó, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 là văn bản chuyên ngành, đóng vai trò trung tâm trong hệ thống pháp luật về phát triển kỹ năng nghề. Điều 4 của Luật xác định mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp, có năng lực sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Điều 5 quy định chính sách của Nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, trong đó bao gồm đầu tư phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp; khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp tham gia đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề cho người lao động; hỗ trợ học nghề cho các đối tượng yếu thế. Đặc biệt, Điều 51 của Luật quy định về phát triển kỹ năng nghề quốc gia, nêu rõ Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, quản lý và phát triển hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Cơ chế này tạo khung chuẩn để đánh giá và công nhận trình độ kỹ năng nghề của người lao động trên phạm vi toàn quốc, qua đó thúc đẩy tính minh bạch, lưu chuyển lao động và hội nhập thị trường lao động khu vực.
    Hệ thống nghị định hướng dẫn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các quy định trên. Nghị định số 15/2019/NĐ-CP ngày 1 tháng 2 năm 2019 quy định chi tiết về đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, xác lập cơ sở pháp lý cho việc công nhận trình độ kỹ năng nghề của người lao động theo tiêu chuẩn quốc gia. Theo đó, người lao động có thể tham gia các kỳ đánh giá kỹ năng nghề do các tổ chức được Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp cho phép, và nếu đạt yêu cầu sẽ được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia tương ứng với bậc nghề. Chứng chỉ này là căn cứ để người sử dụng lao động bố trí việc làm, xếp lương và công nhận tay nghề. Ngoài ra, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP và Nghị định số 61/2020/NĐ-CP vẫn còn giá trị hướng dẫn về việc hỗ trợ học nghề cho người đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp, cho đến khi Chính phủ ban hành nghị định thay thế phù hợp với Luật Việc làm năm 2025.
    Thực tế cho thấy pháp luật Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý khá toàn diện cho hoạt động phát triển kỹ năng nghề, bao quát từ khâu đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đến đánh giá và công nhận kỹ năng nghề. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện vẫn còn một số hạn chế. Các quy định pháp luật về phát triển kỹ năng nghề hiện chưa được hệ thống hóa trong một đạo luật riêng, mà còn phân tán ở nhiều văn bản khác nhau, khiến việc áp dụng đôi khi thiếu đồng bộ. Mặt khác, cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự chặt chẽ; nhiều doanh nghiệp chưa tích cực đầu tư cho đào tạo kỹ năng nghề vì thiếu chính sách khuyến khích cụ thể. Hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia dù đã được ban hành cho nhiều ngành nghề, nhưng việc áp dụng trong thực tế, đặc biệt là ở khu vực tư nhân, vẫn còn hạn chế.
    Dù vậy, khung pháp lý hiện hành đã thể hiện rõ định hướng chính sách nhất quán: coi phát triển kỹ năng nghề là nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Việc làm năm 2025 và Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 tạo nên ba trụ cột quan trọng: (1) Doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ đào tạo, nâng cao kỹ năng cho người lao động; (2) Nhà nước hỗ trợ người lao động học nghề, đặc biệt khi mất việc hoặc cần chuyển đổi nghề; (3) Nhà nước tổ chức đánh giá và công nhận trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Ba trụ cột này hợp thành một hệ thống pháp luật tương đối thống nhất, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của thị trường lao động Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số.
2.2.2. Về chuyển đổi nghề
    Pháp luật Việt Nam hiện nay đã xây dựng hệ thống quy định khá toàn diện về chuyển đổi nghề cho người lao động, thể hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ Bộ luật Lao động, pháp luật về đất đai, bảo hiểm thất nghiệp đến an toàn, vệ sinh lao động. Mục tiêu chung của hệ thống này là bảo đảm quyền có việc làm, hỗ trợ người lao động duy trì hoặc tìm được nghề nghiệp phù hợp khi điều kiện làm việc, sức khỏe hoặc hoàn cảnh kinh tế - xã hội thay đổi.
    Theo Bộ luật Lao động năm 2019, chuyển đổi nghề được nhìn nhận trước hết trong mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Điều 29 Bộ luật quy định người sử dụng lao động chỉ được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động khi có lý do thực sự cần thiết vì nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Thời gian chuyển tạm thời không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được người lao động đồng ý. Quy định này nhằm bảo đảm quyền làm việc đúng nghề đã giao kết trong hợp đồng, đồng thời cho phép doanh nghiệp linh hoạt ứng phó trong trường hợp thay đổi công nghệ hoặc cơ cấu tổ chức. Điều 42 của Bộ luật nêu rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động khi thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, trong đó có nghĩa vụ đào tạo lại để tiếp tục sử dụng người lao động vào công việc mới. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc chuyển đổi nghề trong nội bộ doanh nghiệp. Ngoài ra, Điều 60 quy định người sử dụng lao động có thể tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để chuyển người lao động sang nghề khác, thể hiện chính sách khuyến khích đào tạo lại thay vì sa thải.
    Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động đã cụ thể hóa quy trình này. Điều 10 và Điều 11 của Nghị định quy định về trình tự, thủ tục khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc gặp lý do kinh tế, trong đó yêu cầu phải xây dựng phương án sử dụng lao động trình cơ quan quản lý nhà nước. Phương án này phải thể hiện rõ việc bố trí, đào tạo lại, chuyển người lao động làm công việc khác, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của họ. Những quy định trên cho thấy pháp luật lao động Việt Nam đã đặt nền tảng tương đối đầy đủ để bảo vệ người lao động trong bối cảnh thay đổi nghề nghiệp do nhu cầu sản xuất hoặc chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
    Bên cạnh đó, chính sách chuyển đổi nghề còn được ghi nhận trong pháp luật đất đai, chủ yếu nhằm hỗ trợ người dân bị thu hồi đất nông nghiệp. Theo Điều 166 và Điều 167 Luật Đất đai năm 2024, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Hình thức hỗ trợ có thể là đào tạo nghề, hỗ trợ học nghề, giới thiệu việc làm hoặc vay vốn để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tạo việc làm mới. Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ cụ thể. Chính sách này kế thừa và mở rộng quy định trước đây của Luật Đất đai năm 2013, nhằm bảo đảm an sinh xã hội và giúp người bị thu hồi đất có thể chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp, hạn chế nguy cơ thất nghiệp và mất sinh kế.
    Trong lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp, Luật Việc làm năm 2025 có quy định chi tiết về việc hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng và phát triển kỹ năng nghề cho người lao động. Điều 57 của Luật quy định người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề để sớm tìm được việc làm mới, đồng thời Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề nhằm giúp người lao động thích ứng với thị trường lao động. Luật Việc làm năm 2025 thay thế Luật Việc làm năm 2013, mở rộng phạm vi điều chỉnh sang cả phát triển kỹ năng nghề và hệ thống thông tin thị trường lao động, thể hiện định hướng gắn kết giữa chính sách việc làm, đào tạo nghề và an sinh xã hội. Các nghị định hướng dẫn thi hành sẽ tiếp tục quy định cụ thể về mức hỗ trợ học nghề, thời gian đào tạo và trách nhiệm của trung tâm dịch vụ việc làm trong tư vấn, giới thiệu việc làm và tổ chức đào tạo nghề.
    Một khía cạnh khác của chuyển đổi nghề được thể hiện trong pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, tại Điều 43 và Điều 44, quy định người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp mà không thể tiếp tục làm nghề cũ được hỗ trợ học nghề, chuyển đổi nghề để làm việc phù hợp với sức khỏe. Kinh phí hỗ trợ được chi trả từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nghị định số 88/2020/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết các điều khoản này, quy định rõ mức hỗ trợ học phí, chi phí sinh hoạt và dịch vụ tư vấn nghề nghiệp. Quy định này thể hiện chính sách phục hồi chức năng lao động và bảo đảm quyền được làm việc của người bị suy giảm khả năng lao động, góp phần ổn định đời sống và bảo đảm an sinh xã hội.
    Nhìn tổng thể, pháp luật Việt Nam đã hình thành ba hướng tiếp cận chính đối với vấn đề chuyển đổi nghề cho người lao động. Thứ nhất, chuyển đổi nghề trong phạm vi quan hệ lao động, áp dụng khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc điều kiện sản xuất. Thứ hai, chuyển đổi nghề mang tính xã hội, được áp dụng khi người lao động mất việc do nguyên nhân khách quan như thu hồi đất hoặc suy giảm kinh tế. Thứ ba, chuyển đổi nghề nhằm phục hồi khả năng làm việc cho người bị tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tiễn, chính sách chuyển đổi nghề vẫn gặp khó khăn về nguồn lực, chất lượng đào tạo và sự phối hợp giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo nghề. Nhiều chương trình hỗ trợ đào tạo lại chưa phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, khiến người lao động sau đào tạo vẫn khó tìm được việc làm ổn định.
    Tóm lại, pháp luật Việt Nam về chuyển đổi nghề cho người lao động đã có cơ sở pháp lý tương đối hoàn chỉnh, trải rộng trên nhiều lĩnh vực, bảo đảm nguyên tắc bảo vệ việc làm và sinh kế của người lao động. Các quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Đất đai năm 2024, Luật Việc làm năm 2025 và Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 thể hiện tinh thần nhân văn, coi việc đào tạo lại và hỗ trợ chuyển đổi nghề là giải pháp quan trọng để ổn định xã hội trong quá trình phát triển kinh tế. Tuy vậy, để chính sách này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện, tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, nhằm bảo đảm người lao động được chuyển đổi nghề thực chất, bền vững và phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
2.3. Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật Việt Nam về phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số
    Trong những năm gần đây, việc triển khai các chính sách phát triển kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề cho người lao động ở Việt Nam đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và thay đổi nhanh của thị trường lao động. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê quý I/2025, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 28,8%, tăng 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước9. Kết quả này cho thấy bước tiến trong việc nâng cao trình độ đào tạo nghề và kỹ năng nghề của lực lượng lao động. Tiếp đó, quý II/2025 công bố cho thấy tỷ lệ này đạt 29,1%, tăng 0,3 điểm phần Trước đó, năm 2024 kết thúc với mức 28,3%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với năm 2023, cho thấy xu hướng cải thiện bền bỉ về trình độ chuyên môn - kỹ thuật10. Diễn biến này phù hợp với hướng ưu tiên trong các chương trình chuyển đổi số quốc gia, nơi giáo dục - đào tạo được xác định là lĩnh vực cần tạo chuyển biến rõ rệt để nâng năng suất và chất lượng nguồn nhân lực11.
    Ở phía cung nhân lực, giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp đã chuyển động mạnh theo hướng số. Ngành giáo dục đã số hóa dữ liệu của khoảng 53 nghìn cơ sở, hơn 1,4 triệu nhà giáo và 23 triệu người học; 82% cơ sở phổ thông dùng phần mềm quản lý; khoảng 80% cơ sở đã tổ chức dạy học trực tuyến trong giai đoạn cao điểm. Ngành cũng nỗ lực thực hiện yêu cầu tiếp tục triển khai nền tảng số, học liệu số, kiểm tra - đánh giá trực tuyến và kết nối - chia sẻ dữ liệu theo Chương trình chuyển đổi số quốc gia12.
    Từ góc nhìn doanh nghiệp, lộ trình chuyển đổi số hiệu quả phải được “khóa” bởi ba yếu tố: con người (kỹ năng), quy trình và hệ thống; đồng thời cần đo lường mức sẵn sàng số, xác định khoảng cách và tích hợp mục tiêu chuyển đổi số vào chiến lược phát triển doanh nghiệp. Kinh nghiệm triển khai thực tế từ tài liệu hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư13 ghi nhận việc doanh nghiệp có thể nâng điểm “sẵn sàng số” từ mức rất thấp lên mức trung bình sau giai đoạn huấn luyện - cố vấn nếu đồng thời cải tiến quy trình, đầu tư nền tảng và bồi dưỡng kỹ năng cho đội ngũ then chốt. Những phát hiện này giúp lý giải vì sao, theo “Báo cáo Thị trường lao động và nhân sự 2024-2025” của Viet Research, có khoảng 70% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết họ đã hoặc đang triển khai các dự án chuyển đổi số, và gần 80% doanh nghiệp nhận thấy tầm quan trọng của việc đào tạo lại hoặc nâng cao kỹ năng cho người lao động hiện tại để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số. Trong đó hơn 60% doanh nghiệp cho rằng lực lượng lao động hiện tại cần được đào tạo thêm để đáp ứng công nghệ mới14. Những con số này phản ánh rõ sự chuyển dịch trong nhận thức của doanh nghiệp, từ đào tạo đơn thuần hướng nghề truyền thống sang đào tạo kỹ năng số, kỹ năng thích ứng thay đổi.
    Công tác đào tạo nghề cho lao động thuộc khu vực nông nghiệp-nông thôn cũng có dấu hiệu được chú trọng hơn. Mặc dù vẫn còn nhiều bất cập, nhưng việc đào tạo nghề đã đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn và hỗ trợ người lao động chuyển nghề từ nông sang phi nông nghiệp15. Trong bối cảnh chuyển đổi số và nền kinh tế dịch vụ phát triển, những chương trình đào tạo nghề mới đã bắt đầu được triển khai ở nhiều vùng nông thôn, với nội dung cập nhật hơn như kỹ năng số cơ bản, thương mại điện tử, logistics… Mặc dù chưa có số liệu cụ thể quốc gia đối với từng nội dung, nhưng xu hướng này được ghi nhận là tích cực.
    Một dấu hiệu tích cực khác là chỉ số chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam được ghi nhận có bước tiến16. Thông tin này cho thấy môi trường giáo dục nghề nghiệp đang có những thay đổi tích cực, từ chương trình, cơ sở vật chất tới liên kết doanh nghiệp - cơ sở đào tạo. Ngoài ra, từ góc độ thị trường lao động, báo cáo quý IV/2024 của Tổng cục Thống kê cho thấy thu nhập bình quân tháng của người lao động năm 2024 là 7,7 triệu đồng/tháng, tăng 8,6% so với năm trước17. Sự tăng thu nhập có thể phản ánh phần nào hiệu quả của việc nâng cao kỹ năng nghề và cải thiện năng suất lao động, dù không chỉ một mình kỹ năng nghề chi phối. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2024 là 2,24%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với năm trước18. Những con số này, dù chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cũng cung cấp dấu hiệu cho thấy việc tăng kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề có tác động tích cực đến việc làm, việc làm ổn định và thu nhập.
    Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đó còn tồn tại không ít thách thức. Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tăng lên, nhưng vẫn còn ở mức thấp so với tổng lực lượng lao động (dưới 30%). Điều này cho thấy phần lớn người lao động tham gia vào lực lượng lao động vẫn chưa được đào tạo đủ trình độ chuyên môn-kỹ thuật cần thiết. Ví dụ, báo cáo quý I/2025 ghi nhận lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 52,9 triệu người, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 28,8%19.
    Thêm vào đó, việc làm phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng lớn - quý I/2025 tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 64,3% tổng lao động có việc làm, vẫn tăng 0,7 điểm phần trăm so với quý trước20. Khi lao động phi chính thức thường không được tiếp cận đầy đủ các chương trình đào tạo nghề chuẩn hóa, việc nâng cao kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề trở nên khó khăn hơn với nhóm này. Hơn nữa, khoảng cách kỹ năng số giữa các vùng, đặc biệt giữa thành thị và nông thôn, vẫn là rào cản lớn trong bối cảnh chuyển đổi số.
    Việc áp dụng đào tạo lại và chuyển đổi nghề cũng đang được thử nghiệm nhưng chưa phổ biến rộng khắp. Số liệu công khai về người lao động đã tham gia đào tạo lại hoặc chuyển nghề theo hình thức được hỗ trợ còn hạn chế, chưa có báo cáo tổng hợp rõ ràng ở cấp toàn quốc về số lượng người được hỗ trợ đào tạo lại do doanh nghiệp thay đổi công nghệ hoặc ứng dụng số hóa. Điều này phản ánh thực tế là, mặc dù khung pháp lý đã có và doanh nghiệp nhận thức được nhu cầu, nhưng triển khai chương trình đào tạo lại gắn với chuyển đổi công nghệ - số hóa vẫn còn chậm, thiếu đồng bộ giữa các cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp và người lao động.
    Tóm lại, thực tiễn cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng trong việc phát triển kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo tăng lên, doanh nghiệp xác nhận nhu cầu đào tạo lại rõ ràng, chỉ số chất lượng đào tạo nghề được cải thiện. Tuy nhiên, còn nhiều việc phải làm để cân bằng giữa các địa phương, giữa lao động chính thức và lao động phi chính thức, giữa nội dung đào tạo truyền thống và kỹ năng số mới. Trong thời gian tới, việc mở rộng quy mô đào tạo lại, giảm khoảng cách kỹ năng số, tăng cường liên kết doanh nghiệp - cơ sở đào tạo - người lao động, và hướng tới đào tạo nghề gắn với chuyển đổi số sẽ là yêu cầu cấp bách để đảm bảo người lao động thực sự thích ứng và phát triển trong nền kinh tế số.
3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số
    Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, hệ thống pháp luật Việt Nam về phát triển kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề cho người lao động đã đạt được những bước tiến rõ rệt. Các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Việc làm năm 2025, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024 đã hình thành khung pháp lý tương đối toàn diện, tạo cơ sở cho việc triển khai chính sách đào tạo, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng nghề của người lao động. Hệ thống pháp luật đã từng bước được hoàn thiện, phản ánh đầy đủ hơn vai trò của kỹ năng nghề trong phát triển nguồn nhân lực. Việc triển khai thực tế các chính sách phát triển kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề đã mang lại một số kết quả tích cực (được trình bày tại mục 2.3). Điều này đã góp phần bảo đảm an sinh xã hội trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
    Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, pháp luật Việt Nam về phát triển kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề vẫn còn một số hạn chế. Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật còn thiếu sự thống nhất và tính đồng bộ giữa các lĩnh vực. Dù các luật có quy định liên quan đến đào tạo nghề và phát triển kỹ năng, nhưng trước tháng 3/2025, việc phối hợp giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và các địa phương chưa thật sự chặt chẽ. Nhiều chính sách còn chồng chéo hoặc thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động sau đào tạo. Thứ hai, quy định pháp luật chưa theo kịp sự phát triển nhanh của công nghệ và xu hướng nghề nghiệp mới trong thời kỳ chuyển đổi số. Một số lĩnh vực như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu, an ninh mạng… vẫn thiếu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và cơ chế công nhận kỹ năng linh hoạt, khiến người lao động khó tiếp cận đào tạo chính quy hoặc được công nhận năng lực nghề nghiệp. Hạn chế thứ ba là hiệu quả triển khai chính sách trong thực tế chưa đồng đều. Dù tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng, nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Phần lớn lao động ở khu vực phi chính thức, đặc biệt là lao động nông thôn, vẫn chưa được tiếp cận với chương trình đào tạo kỹ năng nghề phù hợp21. Cơ sở vật chất của nhiều trường nghề, trung tâm đào tạo còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo kỹ năng số22.
    Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, quá trình chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn nhiều so với tốc độ điều chỉnh của hệ thống pháp luật. Nhiều nghề mới xuất hiện trong khi khung pháp lý về tiêu chuẩn kỹ năng và chương trình đào tạo chưa được kịp thời cập nhật. Về chủ quan, nhận thức của doanh nghiệp và người lao động về tầm quan trọng của phát triển kỹ năng nghề vẫn chưa cao. Không ít doanh nghiệp chưa coi đào tạo nghề là một phần trong chiến lược phát triển dài hạn, trong khi người lao động chưa chủ động học tập suốt đời. Nguồn kinh phí đầu tư cho phát triển kỹ năng nghề, đặc biệt là kỹ năng số, vẫn còn hạn chế. Các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo, như ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ chi phí, còn ít được áp dụng trong thực tế. Bên cạnh đó, công tác thống kê, dự báo nhu cầu kỹ năng của thị trường lao động chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến khoảng cách giữa đào tạo và việc làm.
    Như vậy, pháp luật Việt Nam về phát triển kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số đã có nhiều bước tiến, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, để thích ứng với sự thay đổi nhanh của nền kinh tế số, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng linh hoạt, cập nhật các tiêu chuẩn kỹ năng nghề mới, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và doanh nghiệp, đồng thời đầu tư mạnh hơn cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp gắn với công nghệ số. Chỉ khi các quy định pháp luật được thực thi đồng bộ và hiệu quả, việc phát triển kỹ năng nghề và chuyển đổi nghề mới thực sự trở thành động lực bền vững cho sự phát triển của thị trường lao động Việt Nam trong thời đại chuyển đổi số.
    Sau đây là một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động trong bối cảnh chuyển đổi số
    Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về lao động phi chính thức và việc làm nền tảng
    Lực lượng lao động phi chính thức hiện chiếm trên 60% tổng số người lao động có việc làm23. Họ chủ yếu làm việc trong các hộ kinh doanh cá thể, khu vực nông thôn hoặc tham gia các hoạt động tự do như vận chuyển, bán hàng qua mạng, dịch vụ theo nhiệm vụ ngắn hạn. Đặc điểm chung của nhóm lao động này là không có hợp đồng lao động chính thức, không tham gia bảo hiểm xã hội và ít được tiếp cận đào tạo nghề.
    Pháp luật Việt Nam cần có một nghị định riêng điều chỉnh đối tượng này, hướng dẫn cụ thể các quyền, nghĩa vụ, điều kiện làm việc, an toàn lao động và tiếp cận đào tạo. Khái niệm lao động phi chính thức cần được xác định rõ, làm cơ sở cho việc quản lý, thống kê và xây dựng chính sách. Nhà nước nên quy định cơ chế “hồ sơ kỹ năng điện tử” cho từng người lao động, ghi nhận quá trình đào tạo, kinh nghiệm và kỹ năng tích lũy, qua đó giúp họ chứng minh năng lực nghề nghiệp khi tham gia thị trường lao động. Bên cạnh đó, các nền tảng trực tuyến và doanh nghiệp công nghệ có sử dụng lao động tự do cần được yêu cầu đóng góp vào quỹ đào tạo kỹ năng. Cơ quan quản lý nhà nước cần kết nối dữ liệu của nhóm lao động này với hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm, bảo đảm khả năng tiếp cận các
chương trình đào tạo ngắn hạn, hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm.
    Thứ hai, cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp
    Trong bối cảnh tự động hóa ngày càng lan rộng, chính sách bảo hiểm cần được thiết kế linh hoạt hơn, không chỉ chi trả trợ cấp thất nghiệp mà còn hỗ trợ người lao động học nghề, đào tạo lại, chuyển đổi nghề nghiệp. Một giải pháp cần được xem xét là bổ sung cơ chế “vừa học vừa làm” và phiếu học nghề cho người lao động bị mất việc do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ. Người lao động có thể sử dụng một phần quỹ bảo hiểm thất nghiệp để tham gia các khóa học ngắn hạn, chương trình đào tạo kỹ năng mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Nhà nước cần thiết lập cơ chế thanh toán dựa trên kết quả việc làm sau đào tạo, chuyển từ hỗ trợ thụ động sang hỗ trợ chủ động, nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách.
    Thứ ba, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo và phát triển kỹ năng
    Một trong những rào cản lớn đối với việc nâng cao kỹ năng nghề là chi phí
đào tạo. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có điều kiện tài chính để tự tổ chức đào tạo lại. Vì vậy, cần có cơ chế ưu đãi thuế và tín dụng để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo nhân lực. Cụ thể, pháp luật nên cho phép khấu trừ chi phí đào tạo nghề và bồi dưỡng kỹ năng khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Nhà nước có thể hình thành quỹ đồng tài trợ công - tư để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các chương trình đào tạo kỹ năng số. Ngoài ra, các dự án xây dựng xưởng thực hành, trung tâm đào tạo nghề tại doanh nghiệp có thể được hưởng ưu đãi vay vốn lãi suất thấp. Những chính sách này vừa giúp giảm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp, vừa thúc đẩy quá trình gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực, bảo đảm kỹ năng nghề sát với yêu cầu thực tiễn sản xuất.
    Thứ tư, xây dựng chuẩn dữ liệu kỹ năng và sổ kỹ năng cá nhân
    Trong bối cảnh kinh tế số, việc xây dựng hệ thống dữ liệu kỹ năng quốc gia là rất cần thiết. Nhà nước cần ban hành bộ chuẩn dữ liệu kỹ năng nghề thống nhất, mã hóa các kỹ năng cơ bản, kỹ năng số và kỹ năng liên ngành. Hệ thống này cần liên thông với cơ sở dữ liệu về việc làm, đào tạo và tiêu chuẩn nghề quốc gia. Mỗi người lao động nên có một “sổ kỹ năng cá nhân” điện tử, trong đó lưu giữ toàn bộ quá trình học tập, đào tạo và kinh nghiệm làm việc. Khi người lao động thay đổi công việc hoặc chuyển vùng, sổ kỹ năng này sẽ giúp minh chứng năng lực thực tế, đồng thời tạo điều kiện cho việc công nhận kết quả học tập trước đây. Đây cũng là cơ sở để phát triển hình thức cấp chứng chỉ kỹ năng theo mô-đun hoặc theo kết quả thực hành, phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động linh hoạt.
    Thứ năm, phát triển nền tảng giáo dục nghề nghiệp số
    Giáo dục nghề nghiệp số là hướng đi tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia. Nhà nước cần xây dựng một nền tảng giáo dục nghề nghiệp dùng chung cho toàn hệ thống, có chức năng tổ chức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và cấp chứng chỉ trực tuyến. Nền tảng này cần được kết nối với cơ sở dữ liệu kỹ năng quốc gia, cho phép doanh nghiệp và cơ sở đào tạo phối hợp theo thời gian thực. Bên cạnh đó, việc phát triển kho học liệu số, ngân hàng câu hỏi, mô hình đánh giá chuẩn hóa sẽ giúp người học có cơ hội học tập linh hoạt, tiết kiệm chi phí và thời gian. Việc cơ sở giáo dục nghề nghiệp áp dụng hình thức giảng dạy trực tuyến kết hợp sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong việc mở rộng tiếp cận cho người học vùng sâu, vùng xa.
    Thứ sáu, gắn kết nhà trường với doanh nghiệp
    Mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cần được thể chế hóa thành quy định pháp luật rõ ràng. Học viên các trường nghề nên có cơ hội thực hành tại doanh nghiệp thông qua hợp đồng học nghề có thù lao, được hướng dẫn trực tiếp bởi người có kinh nghiệm, và được công nhận tín chỉ đào tạo tương ứng. Doanh nghiệp tham gia đào tạo cần được hưởng các chính sách ưu đãi như giảm thuế, hỗ trợ chi phí đào tạo hoặc được tiếp cận các chương trình vay vốn ưu đãi. Việc gắn kết giữa đào tạo và sản xuất sẽ giúp người học nhanh chóng thích nghi với môi trường làm việc thực tế, còn doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn nhân lực phù hợp hơn.
    Thứ bảy, chính sách bao trùm cho nhóm lao động yếu thế
    Công nghệ số có thể tạo cơ hội cho phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi và lao động nông thôn, nhưng đồng thời cũng có thể khiến họ bị tụt hậu nếu không được hỗ trợ. Do đó, cần thiết kế gói chính sách đặc thù nhằm giúp nhóm này tiếp cận việc làm và đào tạo kỹ năng. Nhà nước nên cấp phiếu học tập miễn phí cho phụ nữ và người khuyết tật, mở các lớp đào tạo kỹ năng số cơ bản như thương mại điện tử, dịch vụ khách hàng trực tuyến hoặc quản lý dữ liệu đơn giản. Ở khu vực nông thôn, cần lồng ghép đào tạo nghề với chuyển đổi sinh kế, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp thông minh, chế biến thực phẩm và du lịch cộng đồng. Chính sách tín dụng vi mô và quỹ hỗ trợ việc làm cũng cần được mở rộng để giúp người lao động yếu thế tự khởi nghiệp hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh nhỏ, góp phần thu hẹp khoảng cách về kỹ năng và thu nhập.
    Thứ tám, thí điểm mô hình đổi mới theo ngành và địa phương
    Trước khi nhân rộng toàn quốc, nên lựa chọn một số ngành nghề có nhu cầu cao về chuyển đổi số như công nghiệp chế biến, logistics, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao để triển khai thí điểm toàn diện, từ tiêu chuẩn kỹ năng đến chương trình đào tạo và đánh giá kết quả. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cần được áp dụng, cho phép linh hoạt điều chỉnh quy trình, mô hình và công cụ đào tạo. Kết quả đánh giá cần dựa trên chỉ số đầu ra như tỷ lệ có việc làm, năng suất lao động và thu nhập của người học sau đào tạo, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng học viên hoặc khóa học.
    Thứ chín, nâng cao nhận thức và năng lực thích ứng của người lao động
    Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, việc nâng cao nhận thức và tinh thần học tập suốt đời của người lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người lao động cần chủ động trang bị kỹ năng số cơ bản, kỹ năng mềm và khả năng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ. Doanh nghiệp và tổ chức chính trị - xã hội cần phối hợp tổ chức các chương trình truyền thông, tập huấn, diễn đàn chia sẻ kiến thức về chuyển đổi số, giúp người lao động hiểu rõ cơ hội và thách thức trong thời đại mới. Việc xây dựng văn hóa học tập suốt đời trong doanh nghiệp, thông qua các câu lạc bộ kỹ năng, thư viện số hoặc chương trình cố vấn nghề nghiệp, cũng là hướng đi hiệu quả nhằm củng cố năng lực con người.
    Có thể thấy, hoàn thiện pháp luật về phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề trong bối cảnh chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu để bảo đảm quyền được làm việc và phát triển nghề nghiệp của người lao động. Các giải pháp nêu trên cho thấy cần có sự kết hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và người lao động. Việc xây dựng khung pháp lý bao trùm, cơ chế tài chính linh hoạt, hệ thống dữ liệu kỹ năng thống nhất và nền tảng đào tạo số là nền tảng để Việt Nam phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thích ứng với sự thay đổi của công nghệ, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững và công bằng xã hội trong thời đại số hóa.
    Kết luận
    Phát triển kỹ năng và chuyển đổi nghề cho người lao động là yêu cầu tất yếu trong thời đại chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng suất, bảo đảm việc làm và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành khung chính sách tương đối toàn diện, song vẫn cần được hoàn thiện theo hướng linh hoạt, gắn kết đào tạo với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Từ kết quả nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng cần tiếp tục đánh giá tác động của các chính sách hiện hành và đề xuất mô hình phát triển kỹ năng số phù hợp với đặc thù Việt Nam trong thời gian tới./.

(TS. Hà Thị Hoa Phượng)

 
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021), Tài liệu chương trình Tăng cường năng lực Chuyển đổi số hoạt động doanh nghiệp, https://api.vcci.com.vn/storage/fileskhac/66dbcd4fdbb9c.pdf
2. Bộ Thông tin và Truyền thông (2021), Cẩm nang Chuyển đổi số, Nxb. Thông tin và Truyền Thông,
https://mic.mediacdn.vn//Upload_Moi/FileBaoCao/cam-nang-chuyen-doi-so-2021.pdf
3. Bùi Thị Thuỷ Tiên, Phan Lê Diệu Hiền, Lê Thanh Tuấn (2020), “Xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên luật, qua thực tế hoạt động tại Toà án”, Tạp chí Phát luật và Thực tiễn, số 44, tr.81-89
4. Đặng Thị Loan (2025), Bảo đảm quyền làm việc của người lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Pháp luật về Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Thị Phương Mai, Lê Thị Thuý Ngà, Phạm Thị Hồng Bích (2020), “Xu hướng chuyển đổi nghề của lao động trong gia đình”, Tạp chí Khoa học, số 44, tr.57-65.
6. Nguyễn Văn Thọ (2022), “Xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong lĩnh
vực giáo dục - đào tạo”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 322, tr.35-39
7. Phùng Thanh Hoa (2024), “Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số”, Tạp chí Quản lý Giáo dục, số 16, tr.33-39, http://jem.naem.edu.vn
8. Trần Gia Long (2013), Nghiên cứu xu hướng chuyển đổi nghề của lao động nông nghiệp
đồng bằng sông Hồng, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
9. TS. Trịnh Xuân Việt (2023), “Thực trạng và giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Công thương, số 1 tháng 1.
10. Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (KAS) & Viện Chiến lược Phát triển (VIDS) (2023), Dịch chuyển lao động đến 20230 ở Việt Nam: Thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, https://www.kas.de/vi/web/vietnam/einzeltitel/-/content/research-labour-shifting-by- 2030-in-vietnam-to-drive-industrialisation-and-modernisation
11. Vũ Xuân Hùng (2019), Một số vấn đề phát triển kỹ năng nghề nghiệp, https://gdnn.edu.vn/index.php/giao-duc-nghe-nghiep/mot-so-van-de-ve-phat-trien-ky- nang-nghe-nghiep-208.html

Chú thích:

1 Bùi Thị Thuỷ Tiên, Phan Lê Diệu Hiền, Lê Thanh Tuấn (2020), “Xây dựng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên luật, qua thực tế hoạt động tại Toà án”, Tạp chí Phát luật và Thực tiễn, số 44, tr.81-89

2 Vũ Xuân Hùng (2019), Một số vấn đề phát triển kỹ năng nghề nghiệp, https://gdnn.edu.vn/index.php/giao-duc- nghe-nghiep/mot-so-van-de-ve-phat-trien-ky-nang-nghe-nghiep-208.html
3 Trần Gia Long (2013), Nghiên cứu xu hướng chuyển đổi nghề của lao động nông nghiệp đồng bằng sông Hồng, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
4 Xem thêm:
1. Nguyễn Thị Phương Mai, Lê Thị Thuý Ngà, Phạm Thị Hồng Bích (2020), “Xu hướng chuyển đổi nghề của
lao động trong gia đình”, Tạp chí Khoa học, số 44, tr.57-65.
2. Đặng Thị Loan (2025), Bảo đảm quyền làm việc của người lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Pháp luật về Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

5 Đặng Thị Loan (2025), Bảo đảm quyền làm việc của người lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Pháp luật về Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tr.45-46
6 Bộ Thông tin và Truyền thông (2021), Cẩm nang Chuyển đổi số, Nxb. Thông tin và Truyền Thông, https://mic.mediacdn.vn//Upload_Moi/FileBaoCao/cam-nang-chuyen-doi-so-2021.pdf
7 Xem thêm:
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021), Tài liệu chương trình Tăng cường năng lực Chuyển đổi số hoạt động doanh nghiệp, https://api.vcci.com.vn/storage/fileskhac/66dbcd4fdbb9c.pdf
2. Phùng Thanh Hoa (2024), “Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số”, Tạp chí Quản lý Giáo dục, số 16, tr.33-39, http://jem.naem.edu.vn

Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (KAS) & Viện Chiến lược Phát triển (VIDS) (2023), Dịch chuyển lao động đến 20230 ở Việt Nam: Thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, https://www.kas.de/vi/web/vietnam/einzeltitel/-/content/research-labour-shifting-by-2030-in-vietnam-to-drive- industrialisation-and-modernisation

9 https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2025/04/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-i- nam-2025/
10 https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec- lam-quy-iv-va-nam-2024/
11 Đặng Thị Loan (2025), Bảo đảm quyền làm việc của người lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Pháp luật về Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

12 Nguyễn Văn Thọ (2022), “Xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 322, tr.35-39
13 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021), Tài liệu chương trình Tăng cường năng lực Chuyển đổi số hoạt động doanh nghiệp, https://api.vcci.com.vn/storage/fileskhac/66dbcd4fdbb9c.pdf
14 https://vietresearch.vn/portfolio/bao-cao-vbe-2024/

15 TS. Trịnh Xuân Việt (2023), “Thực trạng và giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Công thương, số 1 tháng 1.
16 https://dansinh.dantri.com.vn/nhan-luc/chi-so-chat-luong-dao-tao-nghe-cua-viet-nam-thang-hang-nhay-vot- 20240102194243000.htm
17 https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao- dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2024/
18 https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec- lam-quy-iv-va-nam-2024/

19 https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2025/04/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-i- nam-2025/
20 https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2025/04/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-i- nam-2025/

21 https://nhandan.vn/tang-co-hoi-dao-tao-nghe-cho-lao-dong-phi-chinh-thuc-trong-nen-kinh-te-so- post821758.html
22 https://hanoimoi.vn/tai-cau-truc-he-thong-truong-nghe-huong-toi-dao-tao-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao- 720914.html

23 https://laodong.vn/cong-doan/quy-ii2025-33-trieu-nguoi-co-viec-lam-phi-chinh-thuc-1537546.ldo

 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1