image banner
VI | EN
Cơ chế pháp lý bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay từ góc nhìn quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm giải trình và chuyển đổi số
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa (Viện Nhà nước và Pháp luật). Bài viết phân tích cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn của cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay từ góc nhìn quyền tiếp cận thông tin, minh bạch, trách nhiệm giải trình và chuyển đổi số. Trên cơ sở đánh giá các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tố cáo năm 2018, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cùng một số nghiên cứu có liên quan, bài viết chỉ ra những hạn chế trong tổ chức thực hiện, đặc biệt là khoảng cách giữa quy định pháp luật và bảo vệ thực chất. Từ đó, bài viết đề xuất một số định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tố cáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy nhà nước hiện nay.
Anh-tin-bai
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet 

Từ khóa: Cơ chế pháp lý, bảo vệ người tố cáo, tham nhũng, quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm giải trình, chuyển đổi số

 1. Cơ sở lý luận và pháp lý của việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phòng, chống tham nhũng không chỉ là một nhiệm vụ chính trị - pháp lý có tính thường xuyên mà còn là yêu cầu cốt lõi của kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm tính liêm chính của nền công vụ và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.[1] Từ góc nhìn đó, người tố cáo tham nhũng giữ vị trí đặc biệt quan trọng bởi họ là chủ thể trực tiếp phát hiện, phản ánh, cung cấp dữ liệu, chứng cứ và thông tin về những biểu hiện lạm dụng quyền lực, vụ lợi hoặc vi phạm pháp luật trong khu vực công. Tuy nhiên, trên thực tế, người tố cáo thường phải đối mặt với nhiều rủi ro như bị lộ danh tính, bị gây sức ép tâm lý, bị trả thù, trù dập, điều chuyển công tác, xâm hại danh dự hoặc gặp bất lợi trong môi trường nghề nghiệp và đời sống xã hội.[2] Chính vì vậy, bảo vệ người tố cáo tham nhũng không chỉ là vấn đề nhân đạo hay kỹ thuật lập pháp mà là điều kiện nền tảng để duy trì hiệu quả thực chất của cơ chế phát hiện tham nhũng dựa trên sự tham gia của xã hội.[3]

Tiếp cận từ lý luận quyền con người và dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền tố cáo không tồn tại một cách biệt lập mà có quan hệ chặt chẽ với quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tài sản, việc làm và an toàn cá nhân.[4] Từ góc độ này, quyền tiếp cận thông tin và cơ chế bảo vệ người tố cáo là hai điều kiện pháp lý nền tảng để công dân biết, dám nói và được bảo vệ khi tham gia kiểm soát quyền lực công.[5] Nếu công dân không được tiếp cận thông tin đầy đủ, họ khó nhận diện dấu hiệu tham nhũng; nếu họ không được bảo vệ khi tố cáo, động lực tham gia sẽ suy giảm mạnh. Vì vậy, bảo vệ người tố cáo thực chất là một mắt xích trong cấu trúc pháp lý bảo đảm quyền công dân và hiệu quả quản trị quốc gia.

Cách tiếp cận đó cũng cho thấy bảo vệ người tố cáo tham nhũng không nên bị giới hạn trong phạm vi hẹp của thủ tục tố cáo hành chính mà cần được nhìn nhận trong một phạm vi rộng hơn, bao gồm cả những chủ thể tham gia phản ánh, cung cấp thông tin, dữ liệu, chứng cứ hoặc hỗ trợ phát hiện và ngăn chặn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, theo đó phạm vi bảo vệ được mở rộng theo hướng nhấn mạnh là người đấu tranh thay vì chỉ bó hẹp ở người tố cáo theo nghĩa thủ tục pháp lý hẹp.[6]

Từ đó có thể thấy, việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay cần được đặt trên ba nền tảng gắn bó chặt chẽ với nhau: Quyền tiếp cận thông tin, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong kiểm soát quyền lực và chuyển đổi số trong tổ chức thực thi. Đây không chỉ là ba khía cạnh kỹ thuật khác nhau mà là ba điều kiện cấu thành hiệu quả thực chất của cơ chế chống tham nhũng dựa vào xã hội.

Thứ nhất, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề để công dân nhận diện hành vi sai phạm và hình thành cơ sở thực tế cho việc phản ánh, tố cáo. Trong Nhà nước pháp quyền, công dân chỉ có thể tham gia kiểm soát quyền lực khi họ có khả năng tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ, trừ những giới hạn cần thiết do pháp luật quy định. Khi quyền tiếp cận thông tin không được bảo đảm thực chất, tố cáo sẽ thiếu dữ liệu, thiếu căn cứ và dễ bị vô hiệu hóa ngay từ đầu. Chính vì vậy, cơ chế bảo vệ người tố cáo không thể tách rời cơ chế công khai, minh bạch thông tin về ngân sách, tài sản công, quy hoạch, đầu tư công, thanh tra, kiểm toán, quản lý đất đai, bổ nhiệm cán bộ và xử lý trách nhiệm công vụ.[7]

Minh bạch không chỉ thể hiện ở việc “có thông tin” mà còn bao gồm mức độ chủ động công khai, khả năng tiếp cận, khả năng giám sát từ bên ngoài và trách nhiệm giải thích của cơ quan công quyền đối với quyết định của mình. Trách nhiệm giải trình chỉ có ý nghĩa khi thông tin chính xác, dễ tiếp cận và đủ để xã hội đánh giá xem một công việc có được thực hiện đúng hay không. Từ đó có thể thấy, bảo vệ người tố cáo tham nhũng không thể vận hành hiệu quả nếu bản thân môi trường thể chế vẫn thiếu minh bạch và cơ quan nhà nước còn né tránh giải trình. Một hệ thống công quyền càng khép kín thì người tố cáo càng dễ bị cô lập, còn hành vi tham nhũng càng có điều kiện ẩn náu.

Thứ hai, minh bạch và trách nhiệm giải trình không chỉ là điều kiện thuận lợi cho tố cáo mà còn là một bộ phận của chính cơ chế bảo vệ người tố cáo. Khi cơ quan nhà nước có nghĩa vụ giải trình rõ ràng, việc không tiếp nhận tố cáo, chậm xử lý yêu cầu bảo vệ, làm lộ thông tin người tố cáo hoặc bỏ qua dấu hiệu trả thù, trù dập sẽ dễ bị truy cứu trách nhiệm hơn.[8] Điều này cho thấy cơ chế bảo vệ người tố cáo không thể chỉ dừng ở việc ghi nhận quyền được bảo vệ của công dân mà còn phải đồng thời ràng buộc nghĩa vụ công khai, giải trình và chịu trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền bảo vệ.[9]

 2. Thực trạng cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam đã từng bước hình thành khung chính sách, pháp lý tương đối quan trọng cho cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng. Về phương diện chính sách, từ các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng, đặc biệt từ Đại hội X trở lại đây, chủ trương phát huy sức mạnh của toàn hệ thống chính trị và toàn dân trong phòng, chống tham nhũng luôn được nhấn mạnh. Quan điểm này được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quan trọng, như Nghị quyết số 14-NQ/TW, Nghị quyết số 48/2005/NQ-TW, các nghị quyết Trung ương khóa VIII, khóa IX, khóa X, Chỉ thị số 50-CT/TW, Chỉ thị số 35-CT/TW, Quy định số 11-QĐ/TW và đặc biệt là Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 10/01/2019 về tăng cường bảo vệ người phát hiện, tố giác, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Các văn bản này cho thấy việc bảo vệ người tố cáo đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chủ trương chung về phòng, chống tham nhũng.

Về phương diện pháp lý, quyền khiếu nại, tố cáo đã được ghi nhận từ các bản Hiến pháp trước đây và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013.[10] Trên cơ sở đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Luật Tố cáo năm 2018 đã tạo lập khung pháp lý tương đối đầy đủ cho việc bảo vệ người tố cáo. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tiếp nhận, xử lý và bảo vệ người cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng; đồng thời nghiêm cấm hành vi đe dọa, trả thù, trù dập hoặc tiết lộ thông tin của họ. Luật Tố cáo năm 2018 dành riêng một chương để quy định về bảo vệ người tố cáo, với các nội dung cơ bản như bảo vệ bí mật thông tin, bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm; xác định rõ quyền của người được bảo vệ; và quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Bên cạnh đó, các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 31/2019/NĐ-CP, Nghị định số 22/2019/NĐ-CP, Thông tư số 145/2020/TT-BCA và Thông tư số 03/2020/TT-BNV đã góp phần làm rõ hơn trình tự, thủ tục và phạm vi bảo vệ, bao gồm bảo vệ bí mật thông tin cá nhân, bảo vệ vị trí công tác, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo và người thân thích của họ. Có thể thấy, về mặt pháp lý, cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam đã được hình thành tương đối đầy đủ, thể hiện rõ quyết tâm của Nhà nước trong việc khuyến khích công dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở khía cạnh quy định pháp luật thì chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả thực tiễn của cơ chế này. Trên thực tế, việc bảo vệ người tố cáo vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt ở khâu thực thi và phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền.[11]

Thứ nhất, cơ chế pháp luật tuy tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn phân tán và chưa thật sự đồng bộ.

Cơ chế pháp luật bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay xét về tổng thể đã được hình thành tương đối đầy đủ, thể hiện sự phát triển đáng kể trong nhận thức và hành động của Nhà nước đối với vấn đề bảo vệ người dám phát hiện, tố giác và đấu tranh chống tham nhũng. Tuy nhiên, nếu đi vào cấu trúc cụ thể của hệ thống quy phạm, có thể thấy các quy định liên quan hiện đang được thể hiện ở nhiều văn bản khác nhau, từ luật đến nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành. Cách thiết kế này giúp quy định được cụ thể hóa theo từng cấp độ, nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh nguy cơ chồng chéo, phân tán và thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng.

Thực tiễn cho thấy không phải tất cả nội dung bảo vệ đều được quy định với mức độ rõ ràng như nhau. Một số quy định mới dừng lại ở mức nguyên tắc chung, trong khi các biện pháp bảo vệ cụ thể, điều kiện áp dụng, trình tự xử lý và cơ chế phối hợp liên ngành vẫn chưa thật sự được xác định đầy đủ và thống nhất. Chính vì vậy, dù hệ thống pháp luật đã có nền tảng khá vững, việc vận dụng trên thực tế ở từng địa phương, từng cơ quan, từng đơn vị vẫn có thể khác nhau, phụ thuộc nhiều vào nhận thức, năng lực và mức độ chủ động của chủ thể có thẩm quyền. Điều này làm cho hiệu quả bảo vệ người tố cáo chưa đạt đến độ đồng đều cần thiết.

Bên cạnh đó, sự phân tán trong quy định cũng khiến cho việc nhận diện đầy đủ phạm vi bảo vệ gặp không ít khó khăn. Trong thực tế, người tố cáo không chỉ cần được bảo vệ về thông tin cá nhân mà còn cần được bảo đảm về vị trí công tác, điều kiện làm việc, danh dự, nhân phẩm, tài sản và cả sự an toàn của người thân thích. Khi các yếu tố này được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, cơ quan áp dụng pháp luật nếu không có sự nắm bắt hệ thống rất dễ bỏ sót hoặc thiên lệch trong quá trình thực hiện. Vì vậy, mặc dù cơ chế pháp lý đã hiện diện tương đối đầy đủ, nhưng tính đồng bộ và tính liên thông của hệ thống vẫn là một hạn chế đáng chú ý.

Thứ hai, việc tổ chức thực thi còn thiên về hình thức, chưa bảo đảm tính bảo vệ thực chất.

Nếu như trên bình diện pháp lý, cơ chế bảo vệ người tố cáo đã được thiết lập khá rõ, thì trên bình diện tổ chức thực thi, vấn đề lại bộc lộ nhiều bất cập hơn. Trong nhiều trường hợp, việc bảo vệ vẫn chủ yếu dừng ở bảo mật thông tin trên hồ sơ, văn bản hoặc trong quy trình thủ tục trong khi vấn đề bảo vệ thực chất như vị trí việc làm, môi trường công tác, uy tín nghề nghiệp, hỗ trợ tâm lý và phục hồi quyền lợi sau trả thù, trù dập còn hạn chế. Nói cách khác, cơ chế bảo vệ nhiều khi mới dừng ở quy định pháp lý còn hiệu quả bảo đảm an toàn thực tế cho người tố cáo vẫn chưa tương xứng với mục tiêu đặt ra.

Pháp luật đã quy định các biện pháp bảo vệ ngày càng cụ thể nhưng việc tổ chức thực hiện còn thiếu đồng bộ, đặc biệt trong viêc xác định trách nhiệm giữa các cơ quan liên quan.[12] Nhiều trường hợp cơ chế bảo vệ chưa được thực hiện kịp thời, phản ứng chưa đủ nhanh trước nguy cơ trả thù hoặc trù dập và việc phối hợp giữa cơ quan giải quyết tố cáo với cơ quan quản lý cán bộ, cơ quan công an, tổ chức công đoàn hoặc chính quyền địa phương còn thiếu chặt chẽ. Chính sự thiếu nhịp nhàng này làm cho người tố cáo, thay vì được bảo vệ đầy đủ ngay từ đầu, lại phải tự đối diện với rủi ro trong một khoảng thời gian đáng kể, từ đó làm giảm niềm tin vào hiệu lực của cơ chế bảo vệ.

Một điểm đáng chú ý là các hành vi gây bất lợi đối với người tố cáo không phải lúc nào cũng biểu hiện bằng xâm hại trực tiếp. Trong thực tế, sự trù dập có thể diễn ra dưới những hình thức tinh vi hơn như cô lập trong môi trường làm việc, đánh giá bất lợi, hạn chế cơ hội phát triển, gây sức ép tâm lý hoặc điều chuyển vị trí không phù hợp. Đây là những hình thức rất khó nhận diện và càng khó chứng minh nếu không có cơ chế theo dõi, kiểm tra và can thiệp kịp thời từ phía cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, nếu việc tổ chức thực hiện vẫn chủ yếu thiên về xử lý hồ sơ mà chưa đặt trọng tâm vào bảo vệ thực chất thì hiệu quả của cơ chế này sẽ tiếp tục bị giới hạn.

Thứ ba, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu mới đối với cơ chế bảo vệ người tố cáo.

Bên cạnh những bất cập truyền thống, cơ chế bảo vệ người tố cáo hiện nay còn đứng trước những yêu cầu mới của quản trị công trong môi trường số. Cơ chế bảo vệ hiện hành vẫn thiên về tư duy hành chính- hồ sơ truyền thống trong khi bối cảnh quản trị công đã và đang chuyển mạnh sang môi trường số. Chuyển đổi số tạo ra cơ hội lớn cho việc tiếp nhận tố cáo nhanh hơn, lưu vết điện tử tốt hơn, mở rộng khả năng công khai, minh bạch và hỗ trợ quản trị dữ liệu trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.[13] Tuy nhiên, mặt còn lại của chuyển đổi số là nguy cơ rò rỉ dữ liệu, lộ danh tính, truy cập trái phép hoặc lạm dụng thông tin người tố cáo nếu thiếu cơ chế quản trị số phù hợp.

Trong môi trường số, bảo vệ người tố cáo không còn chỉ là giữ kín hồ sơ giấy mà phải bao gồm cả phân quyền truy cập, lưu vết thao tác, mã hóa, bảo mật dữ liệu, kiểm toán hệ thống và xác lập trách nhiệm pháp lý rõ ràng đối với từng chủ thể tiếp cận dữ liệu. Nếu thiếu khung kỹ thuật pháp lý này thì chính công nghệ số có thể làm gia tăng rủi ro cho người tố cáo thay vì bảo vệ họ. Điều đó cho thấy yêu cầu bảo vệ hiện nay không thể chỉ dừng ở mô hình quản lý cũ, mà cần được chuyển hóa theo hướng hiện đại, gắn chặt giữa quy phạm pháp lý và công cụ kỹ thuật để bảo đảm an toàn thực sự cho người cung cấp thông tin.

Liên quan đến thực tiễn quản trị, các dữ liệu điều tra xã hội học cũng cho thấy kiểm soát tham nhũng vẫn là một mối quan tâm lớn của người dân. Báo cáo PAPI 2024 cho thấy cuộc khảo sát được thực hiện với 18.894 công dân được chọn ngẫu nhiên trên toàn quốc, đồng thời tiếp tục đo lường chỉ số “Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công” như một trong tám chỉ số nội dung cốt lõi của hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh.[14] Điều này cho thấy vấn đề tham nhũng vẫn gắn chặt với đánh giá của người dân về chất lượng quản trị địa phương, và cũng hàm ý rằng hiệu quả bảo vệ người tố cáo là một điều kiện quan trọng để duy trì cơ chế giám sát xã hội đối với quyền lực công.

Thứ tư, tâm lý sợ bị trả thù và các hình thức trả đũa tinh vi vẫn là rào cản lớn đối với việc tố cáo.

Một trở ngại lớn hiện nay là tâm lý sợ bị trả thù vẫn là rào cản đáng kể đối với việc tố cáo. Từ góc độ thực tiễn, rủi ro mà người tố cáo phải đối diện không chỉ là những đe dọa trực tiếp mà còn là các hình thức trả đũa tinh vi như đánh giá công vụ bất lợi, cô lập trong môi trường làm việc, điều chuyển vị trí, cản trở thăng tiến, gây khó khăn nghề nghiệp hoặc làm tổn hại uy tín xã hội. Những hình thức trả đũa này thường khó chứng minh hơn, kéo dài hơn và dễ làm nản lòng người tố cáo hơn so với các hành vi xâm hại trực tiếp. Chính vì vậy, nếu cơ chế pháp luật chỉ chú trọng vào bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản mà chưa quan tâm đúng mức đến phục hồi vị trí việc làm, uy tín nghề nghiệp và môi trường công tác thì vẫn chưa đủ để tạo ra sự an tâm cần thiết cho người tố cáo.

Không chỉ dừng ở khía cạnh tâm lý cá nhân, nỗi sợ bị trả thù còn tác động trực tiếp đến hiệu quả của cơ chế phát hiện sai phạm từ bên trong hệ thống. Người tố cáo thường là người nắm giữ thông tin ban đầu, có khả năng cảnh báo sớm những biểu hiện tham nhũng trước khi chúng phát triển thành vụ việc lớn. Nếu họ cảm thấy không được bảo vệ, họ sẽ lựa chọn im lặng, trì hoãn hoặc rút lại tố cáo, qua đó làm mất đi một trong những kênh giám sát nội bộ quan trọng nhất của Nhà nước. Vì vậy, bảo vệ người tố cáo không chỉ là bảo vệ một cá nhân cụ thể mà còn là bảo vệ năng lực tự làm trong sạch của bộ máy công quyền.

Không chỉ chuyển đổi số, quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước cũng đặt ra yêu cầu mới đối với cơ chế bảo vệ người tố cáo.[15] Trong bối cảnh các cơ quan, đơn vị bị sáp nhập, giải thể, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ hoặc thay đổi đầu mối, có thể phát sinh khoảng trống trách nhiệm, gián đoạn quy trình xử lý, lúng túng trong xác định cơ quan chủ trì và chậm phản ứng trước các yêu cầu bảo vệ khẩn cấp. Đồng thời, chính giai đoạn tái cấu trúc bộ máy lại là thời điểm gia tăng rủi ro tham nhũng trong bố trí nhân sự, sử dụng tài sản công, giải ngân vốn nhà nước, thanh lý trụ sở, trang thiết bị và thực hiện các thủ tục chuyển tiếp. Điều đó có nghĩa là bảo vệ người tố cáo trong giai đoạn này không thể chỉ là vấn đề cá nhân mà phải được nhìn nhận như một bộ phận của quản trị chuyển đổi thể chế.

Từ góc độ chính sách pháp luật, xu hướng phát triển pháp luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam trong giai đoạn mới được xác định theo hướng hoàn thiện pháp luật đồng bộ, tăng cường răn đe, mở rộng công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình, đẩy mạnh phòng ngừa từ sớm và tăng cường ứng dụng công nghệ số.[16] Trong xu hướng đó, bảo vệ người tố cáo cần được nhìn nhận như một công cụ phòng ngừa từ sớm bởi người tố cáo chính là nguồn thông tin giúp phát hiện những biểu hiện sai phạm khi chúng còn ở giai đoạn đầu, trước khi phát triển thành các vụ án tham nhũng lớn hoặc cơ chế lợi ích nhóm khó kiểm soát. Nếu không bảo vệ được họ thì Nhà nước sẽ mất đi một trong những kênh cảnh báo sớm hiệu quả nhất.[17]

Từ thực tiễn trên có thể thấy rằng cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam đã có nền tảng pháp lý khá rõ ràng, song hiệu quả thực thi vẫn chưa thật sự tương xứng với yêu cầu đặt ra. Những hạn chế chủ yếu không nằm ở việc thiếu quy định hoàn toàn, mà nằm ở tính đồng bộ, khả năng phối hợp và mức độ bảo vệ thực chất. Do đó, để cơ chế này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao năng lực thực thi, tăng cường trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền và bảo đảm các biện pháp bảo vệ được áp dụng kịp thời, hiệu quả hơn.

 3. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam

Từ các phân tích trên, có thể đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất và bao quát hơn về phạm vi chủ thể được bảo vệ. Hiện nay, một trong những hạn chế nổi bật là các quy định về bảo vệ người tố cáo còn phân tán ở nhiều văn bản khác nhau, dẫn đến nguy cơ chồng chéo và thiếu nhất quán trong áp dụng. Do đó, cần rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan theo hướng xác định rõ hơn nội dung bảo vệ, điều kiện áp dụng, thẩm quyền, trách nhiệm phối hợp và cơ chế xử lý trong từng trường hợp cụ thể. Đồng thời, cần chuyển từ cách tiếp cận hẹp về người tố cáo sang cách tiếp cận rộng hơn về chủ thể tham gia đấu tranh chống tham nhũng. Trong thực tiễn, nhiều thông tin có giá trị được cung cấp không phải bằng một đơn tố cáo theo đúng hình thức pháp luật hành chính, mà qua phản ánh, kiến nghị, báo cáo nội bộ, cung cấp dữ liệu, hợp tác với cơ quan chức năng hoặc hỗ trợ xác minh. Nếu chỉ những người đi theo đúng quy trình tố cáo hẹp mới được bảo vệ đầy đủ thì một bộ phận lớn những người góp phần phát hiện tham nhũng sẽ nằm ngoài cơ chế bảo vệ. Vì vậy, cần thể chế hóa rõ hơn tinh thần của Quy định số 231-QĐ/TW theo hướng bao quát hơn về phạm vi chủ thể được bảo vệ.

Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế tổ chức thực thi theo hướng bảo vệ thực chất, thay vì chỉ dừng ở bảo vệ hình thức. Thực trạng ở trên cho thấy nhiều trường hợp người tố cáo mới chỉ được bảo mật thông tin trên hồ sơ, trong khi những thiệt hại thực tế về vị trí việc làm, môi trường công tác, uy tín nghề nghiệp và sự ổn định tâm lý lại chưa được xử lý hiệu quả. Vì vậy, pháp luật không chỉ cần quy định biện pháp bảo vệ mà còn phải thiết kế rõ quy trình kích hoạt cơ chế bảo vệ khẩn cấp, trách nhiệm của từng cơ quan liên quan và thời hạn xử lý cụ thể để tránh chậm trễ hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Đặc biệt, cần bổ sung mạnh hơn cơ chế phục hồi quyền lợi cho người tố cáo sau khi bị trả thù hoặc trù dập. Cơ chế bảo vệ sẽ khó tạo dựng niềm tin nếu người tố cáo chỉ được bảo vệ trên danh nghĩa trong khi thiệt hại về nghề nghiệp, danh dự, thu nhập và cơ hội phát triển không được khắc phục hiệu quả. Vì vậy, bên cạnh các biện pháp ngăn chặn nguy cơ, pháp luật cần quy định rõ về phục hồi vị trí việc làm, hủy bỏ quyết định điều chuyển trái pháp luật, cải chính, xin lỗi công khai khi cần thiết, bồi thường thiệt hại và các biện pháp hỗ trợ tâm lý, pháp lý phù hợp.

Thứ ba, cần nâng cao trách nhiệm phối hợp và trách nhiệm giải trình cá nhân của các chủ thể có thẩm quyền trong công tác bảo vệ người tố cáo. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả bảo vệ chưa cao là sự thiếu đồng bộ trong xác định trách nhiệm giữa cơ quan giải quyết tố cáo, cơ quan quản lý cán bộ, cơ quan công an, tổ chức công đoàn và chính quyền địa phương. Do đó, cần quy định rõ hơn đầu mối chủ trì, trách nhiệm phối hợp và cơ chế giám sát việc thực hiện các biện pháp bảo vệ. Đồng thời, cần nâng cao trách nhiệm giải trình cá nhân của người đứng đầu và cán bộ có thẩm quyền trong công tác bảo vệ người tố cáo. Một cơ chế pháp lý chỉ có hiệu lực thực tiễn khi hành vi không bảo vệ, bảo vệ chậm, bảo vệ hình thức hoặc làm lộ thông tin cũng bị xem xét trách nhiệm nghiêm túc. Điều này phù hợp với logic kiểm soát quyền lực mà các tài liệu đã nhấn mạnh: không thể phòng, chống tham nhũng hiệu quả nếu thiếu minh bạch, trách nhiệm giải trình và chế tài rõ ràng đối với chủ thể có quyền lực công.

Thứ tư, cần thiết kế lại cơ chế bảo vệ người tố cáo trong môi trường số theo hướng coi bảo mật dữ liệu là nội dung trung tâm. Đây là yêu cầu trực tiếp xuất phát từ thực trạng cơ chế hiện hành vẫn còn thiên về tư duy hành chính hồ sơ truyền thống trong khi hoạt động quản trị công đang chuyển mạnh sang nền tảng số. Pháp luật cần quy định rõ chế độ phân quyền truy cập hồ sơ tố cáo, lưu vết bắt buộc mọi thao tác trên hệ thống, cơ chế mã hóa dữ liệu nhạy cảm, kiểm tra độc lập an ninh mạng, tiêu chuẩn an toàn thông tin cho hệ thống tiếp nhận tố cáo và chế tài nghiêm khắc đối với hành vi làm lộ dữ liệu hoặc buông lỏng quản trị hệ thống. Đồng thời, cần xây dựng quy trình tiếp nhận tố cáo trực tuyến có thể xác minh, bảo mật và theo dõi tiến độ xử lý mà không làm tăng rủi ro nhận diện người tố cáo.

Thứ năm, trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, cần bảo đảm tính liên tục của trách nhiệm bảo vệ người tố cáo. Phân trên đã chỉ ra rằng sự thay đổi đầu mối tổ chức, sáp nhập, giải thể hoặc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ có thể dẫn đến khoảng trống trách nhiệm và gián đoạn quy trình bảo vệ. Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ nguyên tắc kế thừa hồ sơ, kế thừa trách nhiệm và kế thừa thẩm quyền trong bảo vệ người tố cáo khi có thay đổi tổ chức. Yêu cầu bảo vệ phải được xử lý liên tục, không bị gián đoạn bởi biến động bộ máy. Đồng thời, ở mỗi cấp quản lý cần xác định một đầu mối cuối cùng chịu trách nhiệm về việc tiếp nhận và xử lý yêu cầu bảo vệ, tránh tình trạng đùn đẩy qua lại trong giai đoạn chuyển tiếp.

Thứ sáu, cần tích hợp chặt chẽ hơn cơ chế bảo vệ người tố cáo với quyền tiếp cận thông tin và cơ chế minh bạch, giải trình của cơ quan công quyền. Muốn bảo vệ người tố cáo hiệu quả thì không thể chỉ dựa vào các biện pháp can thiệp sau khi tố cáo xảy ra, mà còn phải giảm sự phụ thuộc của họ vào sự liều lĩnh cá nhân bằng cách tạo ra một môi trường thể chế nơi dữ liệu công được công khai hơn, nghĩa vụ giải trình rõ hơn và xã hội có nhiều khả năng giám sát hơn. Khi thông tin được mở rộng, trách nhiệm giải trình được chuẩn hóa và hoạt động công vụ minh bạch hơn, gánh nặng chứng minh và rủi ro đơn độc của người tố cáo sẽ giảm đi đáng kể. Theo nghĩa đó, bảo vệ người tố cáo cần được đặt trong mối liên hệ hữu cơ với cơ chế kiểm soát quyền lực, minh bạch hóa hoạt động công và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Thứ bảy, cần thay đổi nhận thức xã hội theo hướng xem người tố cáo tham nhũng là chủ thể góp phần bảo vệ lợi ích công, chứ không phải là người gây rắc rối cho tổ chức. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp mà còn là vấn đề văn hóa pháp quyền và văn hóa liêm chính. Nếu trong thực tế hành chính và môi trường nghề nghiệp, người dám lên tiếng vẫn bị nhìn nhận tiêu cực thì dù pháp luật có tiến bộ đến đâu, hiệu quả bảo vệ cũng sẽ bị hạn chế. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật phải đi cùng với giáo dục liêm chính công vụ, truyền thông xã hội, phát huy vai trò giám sát của báo chí, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội trong khuôn khổ pháp luật. Chỉ khi môi trường xã hội thừa nhận và bảo vệ giá trị của hành vi tố cáo vì lợi ích công thì cơ chế bảo vệ người tố cáo mới có thể vận hành hiệu quả trên thực tế.

 4. Kết luận

Bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay không nên được nhìn nhận như một chế định đơn lẻ của Luật Tố cáo, mà phải được đặt trong một cấu trúc thể chế rộng hơn gồm pháp luật đồng bộ, tổ chức thực thi hiệu quả, cơ chế phục hồi quyền lợi, trách nhiệm giải trình của chủ thể có thẩm quyền, nền tảng pháp lý và kỹ thuật của chuyển đổi số, cùng với yêu cầu bảo đảm tính liên tục của trách nhiệm trong bối cảnh tinh gọn bộ máy. Đồng thời, cơ chế này cũng cần gắn với quyền tiếp cận thông tin, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong kiểm soát quyền lực. Chính sự kết hợp của những yếu tố đó mới có thể tạo ra môi trường thể chế nơi công dân không chỉ có quyền tố cáo mà thực sự dám tố cáo, được bảo vệ và được bảo đảm công bằng khi tham gia vào công cuộc phòng, chống tham nhũng.

(PGS. TS. Dương Quỳnh Hoa, Viện Nhà nước và Pháp luật)



[1] Phạm Thị Duyên Thảo (2025), Quan điểm, giải pháp bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình trong kiểm soát quyền lực nhằm phòng chống tham nhũng ở Việt Nam”, Tạp chí Nghề Luật, số 5/2025

[2] Trần Thùy Dương (2023), Bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, 19/01/2023, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/01/19/bao-ve-nguoi-to-cao-va-trach-nhiem-cua-cac-co-quan-nha-nuoc-hien-nay/ truy cập ngày 2/7/2026

[3] Vũ Công Giao, Trần Thùy Dương, Tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, Khoa học Kiểm sát, số 07/2024. Tr.55-61

[4] Nguyễn Thị Lan Đan (2026), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ người tố cáo: nền tảng pháp lý cho sự tham gia của công dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Tạp chí Quản lý nhà nước và lao động, Kỳ 1, tháng 3/2026

[5] Nguyễn Thị Lan Đan (2026), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ người tố cáo: nền tảng pháp lý cho sự tham gia của công dân trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Tạp chí Quản lý nhà nước và lao động, Kỳ 1, tháng 3/2026

[6] Bộ Chính trị, Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

[7] Phạm Thị Duyên Thảo (2025), Quan điểm, giải pháp bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình trong kiểm soát quyền lực nhằm phòng chống tham nhũng ở Việt Nam”, Tạp chí Nghề Luật, số 5/2025

[8] Trần Thùy Dương (2023), Bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, 19/01/2023, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/01/19/bao-ve-nguoi-to-cao-va-trach-nhiem-cua-cac-co-quan-nha-nuoc-hien-nay/ truy cập ngày 2/7/2026

[9] Phạm Thị Duyên Thảo (2025), Quan điểm, giải pháp bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình trong kiểm soát quyền lực nhằm phòng chống tham nhũng ở Việt Nam”, Tạp chí Nghề Luật, số 5/2025

[10] Điều 30, Hiến pháp năm 2013

[11] Vũ Công Giao, Trần Thùy Dương, Tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, Khoa học Kiểm sát, số 07/2024. Tr.55-61.

[12] Trần Thùy Dương (2023), Bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, 19/01/2023, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/01/19/bao-ve-nguoi-to-cao-va-trach-nhiem-cua-cac-co-quan-nha-nuoc-hien-nay/ truy cập ngày 2/7/2026.

[13] Nguyễn Huy Hoàng, Đào Thu Hương (2025), Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng”, Tạp chí Quản lý nhà nước, 14/7/2025, DOI: 

https://doi.org/10.59394/qlnn.354.2025.1225; https://vi.quanlynhanuoc.vn/qlnn/article/view/1225 truy cập ngày 25/7/2026

[14] CECODES, RTA and UNDP (2025). The 2024 Viet Nam Provincial Governance and Public Administration Performance Index (PAPI 2024): Measuring Citizens’ Experiences. A Joint Policy Research Paper by the Centre for Community Support and Development Studies (CECODES), Real-Time Analytics (RTA), and United Nations Development Programme (UNDP). Ha Noi, Viet Nam, https://papi.org.vn/wp-content/uploads/2025/04/PAPI_2024_REPORT_ENG_final.pdf truy cập ngày 25/7/2026

[15] Nguyễn Mai Anh (2025), Phòng, chống tham nhũng trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 354/2025, DOI: 

https://doi.org/10.59394/qlnn.354.2025.1217; https://vi.quanlynhanuoc.vn/qlnn/article/view/1217 truy cập ngày 25/7/2026

[16] Nguyễn Thị Lộc, Phạm Hải Anh (2025), Xu hướng phát triển pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, Khoa học Kiểm sát, số 02/2025, tr. 30-36

[17] Vũ Công Giao, Trần Thùy Dương, Tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, Khoa học Kiểm sát, số 07/2024. Tr.55-61

Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1