Về nguồn pháp luật văn bản quy phạm pháp luật và án lệ ở Việt Nam hiện nay
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của TS. Phan Thanh Hà (Viện Nhà nước và Pháp luật) đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9 (441) năm 2025. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài cấp cơ sở năm 2025 “Nguồn pháp luật ở Việt Nam hiện nay” (TS. Phan Thanh Hà là chủ nhiệm, Viện Nhà nước và Pháp luật – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì). Bài viết phân tích một số vấn đề liên quan đến hai loại nguồn pháp luật cơ bản và quan trọng ở Việt Nam hiện nay là văn bản quy phạm pháp luật và án lệ. Về văn bản quy phạm pháp luật, bài viết xoay quanh các vấn đề đặt ra đối với các nguyên tắc áp dụng. Về án lệ, bài viết đánh giá thực trạng liên quan đến giá trị thứ bậc, hiệu lực pháp lý, giá trị bắt buộc cũng như việc công bố án lệ và giải thích pháp luật. Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất có tính gợi mở nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống nguồn pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chịu nhiều ảnh
hưởng từ những yếu tố giao thoa giữa truyền thống pháp luật Civil Law và pháp
luật xã hội chủ nghĩa, văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) vẫn giữ vị trí trung
tâm trong hệ thống nguồn pháp luật của Việt Nam. Bên cạnh đó, không thể không
nói đến một loại nguồn mới xuất hiện trong một thập kỷ trở lại đây, nhưng ngày
càng khẳng định tầm quan trọng và sức ảnh hưởng trong hệ thống nguồn pháp luật
ở nước ta đó là án lệ. Trong điều kiện tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển đất nước, cùng với xu hướng hợp tác,
hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, việc mở rộng, đa dạng hóa các nguồn pháp luật
là một đòi hỏi cấp thiết và không thể tránh khỏi. Việc hoàn thiện này không chỉ
bảo đảm tính ổn định của hệ thống mà còn phải tạo cơ chế linh hoạt, đáp ứng yêu
cầu của nền kinh tế thị trường và quản trị quốc gia hiện đại.
Trong khuôn
khổ bài viết này, tác giả ưu tiên tìm hiểu một số vấn đề đang đặt ra hiện nay
đối với hai loại nguồn pháp luật quan trọng ở Việt Nam là VBQPPL và án lệ.
1. Về nguyên tắc áp dụng nguồn pháp
luật là các văn bản quy phạm pháp luật
Một trong những vấn đề lý luận và
thực tiễn phức tạp, thậm chí còn bỏ ngỏ trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện
nay, là mối quan hệ và trật tự thứ bậc giữa các nguồn pháp luật. Về lý thuyết
và quy định pháp luật, hệ thống VBQPPL được tổ chức theo một trình tự thứ bậc
rõ ràng về mặt hình thức và hiệu lực (với vị trí cao nhất là Hiến pháp rồi đến
luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư…), tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định
trật tự thứ bậc của các loại văn bản trong hệ thống VBQPPL cũng vẫn còn khá
nhiều bất cập cần giải quyết.
Như đã đề cập, chúng ta hiện đã có
một hệ thống thứ bậc về VBQPPL tương đối rõ ràng, được quy định trong Hiến pháp
và các văn bản pháp luật có liên quan, trước hết là Luật Ban hành VBQPPL. Tại
Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025,
hệ thống VBQPPL gồm:
1. Hiến pháp.
2. Bộ luật, luật (sau đây gọi
chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với
Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch
giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch
nước.
5. Nghị định, nghị quyết của Chính
phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
6. Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ.
7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thông tư của Tổng Kiểm
toán nhà nước.
9. Thông tư
liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
10. Nghị quyết của Hội đồng nhân
dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).
11. Quyết định của Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh.
12. Quyết định của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh.
13. VBQPPL của chính quyền địa
phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
14. Nghị quyết của Hội đồng nhân
dân xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
15. Quyết định của Ủy ban nhân dân
cấp xã.
Về nguyên tắc áp dụng, đối với
VBQPPL, Điều 58 Luật Ban hành VBQPPL hiện hành quy định:
- VBQPPL được áp dụng từ thời điểm
bắt đầu có hiệu lực.
- VBQPPL được áp dụng đối với hành
vi, sự kiện xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trường hợp
VBQPPL có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.
- Trường hợp các VBQPPL luật có
quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý
cao hơn.
- Trường hợp các VBQPPL do cùng
một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy
định của VBQPPL ban hành sau.
- Việc áp dụng VBQPPL trong nước
không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên. Trường hợp VBQPPL trong nước và điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau
về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.
Như vậy, trong trường hợp các
VBQPPL có mâu thuẫn khi giải quyết cùng một vấn đề, Luật Ban hành VBQPPL quy
định nguyên tắc áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và áp dụng VBQPPL
ban hành sau. Bên cạnh đó, trước đây, trong lĩnh vực dân sự, thương mại, kinh
tế, pháp luật nước ta còn thừa nhận nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên
ngành” (ví dụ Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Tuy nhiên, thời gian gần đây,
pháp luật Việt Nam không còn sử dụng từ “luật chuyên ngành” mà thay thế bằng từ
“luật khác”. Theo đó, Khoản 1 Điều 4 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định:
“Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự” và khoản 2 Điều 4
BLDS năm 2015 quy định: “Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong
các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân
sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”; khoản 3 Điều này quy định: “Trường hợp
luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2
Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng”. Như vậy, với các quy định
này, BLDS đã thể hiện tinh thần, nguyên lý chung của nguyên tắc “ưu tiên áp
dụng luật chuyên ngành trước luật chung”. Tương tự, Điều 3 Luật Doanh nghiệp
2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cũng quy định “Áp dụng Luật doanh nghiệp và
các luật khác”; theo đó: “Trường hợp luật khác có quy định đặc thù về việc
thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của
doanh nghiệp thì áp dụng quy định của luật đó”. Nguyên tắc “ưu tiên áp dụng
pháp luật” này cũng được thể hiện tương tự trong Luật Đầu tư năm 2020,
Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015,
Luật Thương mại năm 2005…
Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc
xác định thứ tự ưu tiên đối với nguồn VBQPPL vẫn còn khá nhiều bất cập, vướng
mắc. Dù luật đã có những nguyên tắc “cứng” trong giải quyết mâu thuẫn giữa các
VBQPPL, nhưng sẽ rất khó để xác định phương án tối ưu khi có sự xung đột giữa
các VBQPPL có cùng hiệu lực pháp lý hoặc giữa các VBQPPL có chủ thể ban hành
khác nhau. Cụ thể:
Thứ nhất, khó khăn trong xác định thứ tự
ưu tiên áp dụng VBQPPL do có nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành
Dù đã có quy định thứ bậc về các
loại văn bản QPPL (như Luật rồi đến Pháp lệnh, Nghị quyết, Lệnh, Quyết định…),
tuy nhiên, Luật mới chỉ xác định hệ thống VBQPPL và hình thức VBQPPL gắn với
chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản. Việc nhiều chủ thể có thẩm quyền ban
hành VBQPPL như hiện nay vẫn có thể gây khó khăn cho việc xác định thứ bậc hiệu
lực của văn bản, ví dụ như: Văn bản của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao... Do đó, tuy đã có nguyên tắc ưu tiên đối với VBQPPL có hiệu lực pháp lý
cao hơn, hoặc VBQPPL ban hành sau, nhưng trong thực tế, rất khó xác định thứ tự
ưu tiên với các trường hợp như đã nêu.
Các trường hợp thường gặp có thể kể đến gồm:
- Hai hình thức văn bản do cùng cơ
quan ban hành quy định khác nhau về cùng một vấn đề: Khó xác định văn bản nào
có hiệu lực pháp lý cao hơn để ưu tiên áp dụng. Điều này thường gặp phải đối
với các luật, nghị quyết của Quốc hội quy định khác nhau về cùng một vấn đề.
- Giữa Thông tư và Thông tư liên
tịch, cũng rất khó xác định văn bản nào có hiệu lực pháp lý cao hơn được ưu
tiên áp dụng.
- Trường hợp cùng hình thức văn
bản nhưng do 2 cơ quan khác nhau ban hành, cũng không xác định được thứ bậc
hiệu lực của văn bản để xác định nguyên tắc áp dụng văn bản sau. Ví dụ như:
Thông tư của các Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định khác nhau về cùng một vấn đề;
Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Thông tư của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quy định
khác nhau về cùng một vấn đề thì sẽ áp dụng văn bản nào.
Thứ hai, về hiệu lực pháp lý
Theo Luật Ban hành VBQPPL, trong trường hợp
VBQPPL có cùng hiệu lực pháp lý thì nguyên tắc áp dụng là văn bản ban hành sau
sẽ được ưu tiên áp dụng. Đồng thời, Luật Ban hành VBQPPL không có khái niệm
“luật chung”, “luật riêng”, “luật chuyên ngành”. Mặt khác, về hiệu lực pháp lý,
theo Luật Ban hành VBQPPL, một VBQPPL sẽ hết hiệu lực trong các trường hợp sau:
Thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản; VBQPPL được sửa đổi, bổ sung,
thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;
VBQPPL bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; VBQPPL
quy định chi tiết hết hiệu lực khi VBQPPL chính hết hiệu lực.
Tuy nhiên, các nhà làm luật chưa
dự liệu được những mâu thuẫn nảy sinh trong thực tế về hiệu lực pháp lý của văn
bản, khi vẫn có những VBQPPL vẫn còn hiệu lực, mặc dù đã có các VBQPPL ban hành
sau, quy định một số nội dung đã có, cũng không tuyên bố bãi bỏ các quy định
này trong VBQPPL trước. Tình trạng này dẫn đến việc hai văn bản cùng hiệu lực
pháp lý nhưng lại xung đột với nhau về nội dung. Ví dụ tiêu biểu là trường hợp
của Luật Thương mại. Cho đến nay, Luật Thương mại đã có số tuổi là 20 năm. Rất
nhiều quy định trong Luật Thương mại đã trở nên lỗi thời trước đòi hỏi của cuộc
sống và với sự phát triển của dòng chảy pháp luật Việt Nam thời kỳ mới, nhưng
các quy định này, cho đến nay, không hề bị bãi bỏ hay được sửa đổi, bổ sung.
Điều này dẫn tới tình trạng một số luật và Luật Thương mại có cùng quy định
khác nhau về một vấn đề mà không có hướng dẫn giải quyết.
Hoặc, những mâu thuẫn về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án xây
dựng nhà ở giữa Luật Đầu tư và Luật Nhà ở; xung đột về đấu thầu lựa chọn nhà
đầu tư trong dự án có sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất giữa Luật Đầu
tư, Luật Đấu thầu và Luật Đất đai; xung đột về thủ tục giới thiệu địa điểm đầu
tư, địa điểm xây dựng giữa Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Đầu tư… Hay, sự
không thống nhất về điều kiện vốn tối thiểu của chủ đầu tư giữa Luật Kinh doanh
bất động sản và Luật Đất đai; không tương thích về quyền cho thuê tài sản gắn
liền với đất trong trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm giữa Luật Đất đai và
Bộ luật Dân sự; khác nhau về trình tự, thủ tục đầu tư dự án quy mô 5.000 tỷ
đồng trở lên giữa Luật Đầu tư, Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanh
nghiệp và Luật Xây dựng; không thống nhất về lựa chọn nhà thầu thẩm tra thiết
kế, dự toán giữa Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu…
Điều này tạo thành cản trở lớn khi
xác định nguồn luật áp dụng, đồng thời làm cho nguồn pháp luật của Việt Nam có
thể trở lên thiếu ổn định, dễ thay đổi. Vệc áp dụng nguồn pháp luật trong thực
tế sẽ gặp nhiều hạn chế, do sự thiếu thống nhất, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các
văn bản pháp luật, ảnh hưởng trực tiếp tới các quyền con người, quyền công dân.
2. Về án lệ
Án lệ là nguồn pháp luật có vai
trò ngày càng quan trọng trong hệ thống tư pháp, nhất là trong bối cảnh cải
cách tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW và yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử.
Theo pháp luật hiện hành, án lệ
được hiểu là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao (TANDTC) lựa chọn và được Chánh án TANDTC công bố là án lệ để các
Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.
Thẩm
quyền về án lệ được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức tòa án
nhân dân (TAND) năm 2014, theo đó, Hội đồng thẩm phán (HĐTP) TANDTC có nhiệm vụ, quyền hạn: “Lựa
chọn quyết định giám đốc thẩm của HĐTP TANDTC, bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án
lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Tiếp
đó, để áp dụng thống nhất, tránh dàn trải, quy định về áp dụng án lệ trong quá
trình giải quyết các vụ việc của tòa án không được quy định thành điều luật cụ
thể mà lồng ghép vào một số quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và được quy định tập trung tại Nghị quyết số 03/2015, sau đó được thay thế
bằng Nghị quyết số 04/2019.
Tiêu chí để xây dựng một quyết
định, bản án thành án lệ phải đáp ứng 03 tiêu chí:
(i) Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân
tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử
lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ
công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể; (ii) Có tính
chuẩn mực; (iii) Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét
xử. Hiện nay, việc lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ được quy định tập trung
tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.
Thứ nhất, về thứ bậc và giá trị pháp lý
của án lệ trong hệ thống nguồn pháp luật
Về nguyên tắc, án lệ là một nguồn
pháp luật bổ trợ (bên cạnh tập quán pháp và một số nguồn pháp luật khác), bổ
sung cho nguồn pháp luật là hệ thống luật thành văn – các VBQPPL ở Việt Nam.
Tuy vậy, cho đến nay, chưa thực sự có một nguyên tắc minh định nào về thứ tự áp
dụng đối với nguồn pháp luật là án lệ trong mối quan hệ với các nguồn pháp luật
bổ trợ khác (trong trường hợp pháp luật thành văn chưa quy định).
Về giá
trị pháp lý của các án lệ này, căn cứ theo khoản 7 Điều 4 và Điều 21 của Luật
Ban hành VBPPL, có thể thấy, Nghị quyết của HĐTP TANDTC đứng thứ 7 trong hệ thống các VBQPPL ở Việt
Nam, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua
tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc việc xét xử. Như vậy, trong Luật Ban hành VBQPPL, án lệ chưa được
trực tiếp nhắc đến nhưng nghị quyết của HĐTP TANDTC cũng được thừa nhận là một
loại VBQPPL.
Tuy nhiên, về hiệu lực pháp lý,
Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định: Án lệ được xây dựng “để các Tòa
án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Tương tự, khoản 2 Điều 8 quy định: “Thẩm
phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ…”, nhưng cũng cho phép không áp
dụng nếu “có lý do chính đáng” và yêu cầu giải thích lý do không áp dụng án lệ.
Điều này cho thấy án lệ không có tính bắt buộc, mà được cho phép áp dụng khá
linh hoạt, thiên về tính hướng dẫn, định hướng thực tiễn xét xử. Tuy nhiên,
điều này cũng dẫn tới một khó khăn trong việc xác định tính thứ bậc của án lệ
trong hệ thống nguồn pháp luật của Việt Nam.
Chính vì tính không bắt buộc và
thiếu rõ ràng trong nguyên tắc áp dụng, cũng như thiếu cơ chế xác định thứ tự
ưu tiên áp dụng đối với án lệ trong hệ thống nguồn pháp luật, nên đây cũng là
một trong những nguyên nhân dẫn đến tâm lý né tránh hoặc áp dụng máy móc của
thẩm phán đối với nguồn pháp luật này. Qua khảo sát, 65,82% người được hỏi chọn
từ chối hoặc đình chỉ giải quyết nếu thiếu cơ sở pháp lý, chỉ 13,27% chọn áp
dụng án lệ. Ngoài ra, có đến 88,3% đồng tình với nhận định TAND hiếm khi áp
dụng án lệ trong các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Thứ hai, về quy trình công bố án lệ
Theo Nghị
quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, quy trình lựa chọn, công bố án lệ được tiến hành
thông qua 04 bước sau đây:
- Bước 1. Đề
xuất bản án, quyết định để phát triển thành án lệ: Tòa án, các cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác có thể gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của tòa án chứa đựng các tiêu chí của án lệ đến TANDTC xem xét,
phát triển thành án lệ.
- Bước 2. Lấy ý kiến đối với bản án,
quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ: TANDTC tiến hành đăng tải bản án,
quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ trên Cổng thông tin
điện tử của TANDTC để các tòa án, chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực
tiễn, cá nhân, cơ quan, tổ chức quan tâm tham gia ý kiến trong khoảng thời gian
30 ngày kể từ ngày đăng tải. Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến, Chánh án TANDTC xem
xét, quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ. Hội đồng tư vấn án
lệ thảo luận cho ý kiến đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn,
phát triển thành án lệ, có thể thông qua phiên họp thảo luận trực tiếp hoặc
bằng văn bản. Kết quả tư vấn được báo cáo Chánh án TANDTC.
- Bước 3. Thông qua án lệ: Chánh án TANDTC tổ chức phiên họp toàn thể HĐTP TANDTC để thảo
luận, biểu quyết thông qua án lệ. Phiên họp HĐTP TANDTC phải có ít nhất 2/3
tổng số thành viên tham gia; quyết định của HĐTP TANDTC phải được quá nửa tổng
số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành.
- Bước 4. Công bố án lệ. Chánh án TANDTC ban hành quyết
định công bố án lệ, nội dung công bố bảo đảm các yêu cầu tại khoản 2 Điều 7
Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP. Sau đó, án lệ được đăng tải trên Cổng thông tin
điện tử TANDTC; gửi cho các tòa án, các đơn vị thuộc TANDTC và đưa vào Tuyển
tập án lệ để xuất bản.
Tuy nhiên, việc công bố án lệ như
quy trình hiện nay mất thời gian khá dài (có thể lên đến 1 năm hoặc hơn) có thể
khiến án lệ không kịp thời bổ sung những khoảng trống pháp luật. Ngoài ra, việc
không giới hạn nguồn án lệ sẽ dẫn đến khó khăn trong lựa chọn án lệ, do số
lượng bản án, quyết định quá lớn và khó phân biệt giữa vấn đề pháp lý và sự
kiện. Trên thực tế, các án lệ công bố đều từ quyết định giám đốc thẩm, chưa có
bản án nào từ cấp tỉnh/huyện được chọn làm án lệ cũng là một vấn đề gây tranh
luận.
Phần “khái quát nội dung của án lệ” khi công bố có thể khác biệt so với bản án
gốc, dẫn đến khó xác định đâu là yếu tố bắt buộc khi áp dụng. Bên cạnh đó,
nhiều bản án chứa giải pháp pháp lý mới đã được công bố nhưng không được chọn
làm án lệ nên thường không được tòa án khác quan tâm áp dụng.
Thứ ba, về hiệu lực của án lệ:
- Về hiệu lực thời gian, mặc dù pháp luật quy định thời điểm có hiệu
lực của án lệ (sau 30 ngày kể từ ngày công bố), nhưng không nêu rõ có được áp
dụng hồi tố hay không. Thực tiễn cho thấy, các tòa án có xu hướng áp dụng hồi
tố, dẫn đến tình trạng áp dụng không đồng bộ. Việc xác định hiệu lực chỉ tính
từ thời điểm công bố, không dựa vào ngày ban hành bản án gốc, khiến các vụ việc
tương tự nhưng xảy ra trước ngày hiệu lực thì không được áp dụng án lệ, làm
gián đoạn nguyên tắc tương tự và dẫn đến bất bình đẳng trong xét xử.
- Về giá trị bắt buộc, việc xác định phần nào của án lệ là bắt buộc
vẫn còn nhiều tranh cãi. Việc xác định phần “khái quát nội dung” hay “nội dung
án lệ” mới là phần bắt buộc vẫn còn chưa rõ ràng.
Do án lệ được xây dựng từ bản án cụ thể với nhiều tình tiết, nên khi giải
quyết, chỉ cần có sự khác biệt nhỏ trong tình tiết, tòa án cũng có thể từ chối
áp dụng.
Thứ tư, về vai trò của tòa án và vấn đề giải thích pháp
luật
Với thẩm quyền xây dựng và phát triển án lệ, một
câu hỏi được đặt ra là tòa án, cụ thể là HĐTP TANDTC, có được
coi là một chủ thể nắm quyền “lập pháp” (theo nghĩa rộng) hoặc xây dựng pháp
luật với thẩm quyền giải thích pháp luật (GTPL) hay không? Nhìn lại năm 2013,
Hiến pháp đã chỉnh sửa quy định về thẩm quyền của Quốc hội, theo đó, Quốc hội
không còn là cơ quan “duy nhất” có quyền lập hiến và lập pháp như các bản Hiến
pháp trước đó đã quy định.
Điều này cũng mở ra khả năng suy đoán về vai trò lập pháp, hay thẩm quyền xây
dựng pháp luật của các chủ thể khác, trong đó có HĐTP TANDTC.
Mặt
khác, thẩm quyền xây dựng và phát triển án lệ của tòa án cũng đặt ra yêu cầu
phải làm rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn về thẩm quyền GTPL. Cho đến nay, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội (UBTVQH) vẫn là cơ quan duy nhất có quyền GTPL ở Việt Nam.
Tuy nhiên, trong lịch sử, tính đến
năm 2021, UBTVQH mới thực hiện 5 lần GTPL.
Trong khi đó, bằng thực tế hoạt động của mình, các cơ quan nhà nước
Việt Nam đều tham gia quá trình vào việc GTPL, ví dụ như hoạt động ban
hành các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết các quy định của
Luật, trong đó có thể đưa ra các định nghĩa về một số thuật ngữ mà
Luật chưa giải thích chi tiết. Đồng
thời, pháp luật vẫn ngầm giao quyền này cho Tòa án. Theo đó, Luật Tổ
chức TAND số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014 đã ngầm trao cho Tòa án quyền
GTPL thông qua quy định: “(Tòa án nhân dân tối cao) tổng kết thực
tiễn xét xử của các tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật
trong xét xử” và “Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm
vụ lựa chọn Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, bản án quyết định pháp luật đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn
mực của Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án
nghiên cứu và áp dụng trong xét xử”.
Ở Việt Nam, việc phát triển án lệ đang ở giai đoạn vừa làm vừa rút kinh nghiệm
nên “án lệ ở Việt Nam ra đời theo một quy trình chặt chẽ”,
“án lệ phải được chính thức hoá theo một thủ tục chặt chẽ”.
Quy trình này là cần thiết để sớm có án lệ và tránh được những tranh cãi không
cần thiết về việc một bản án/quyết định có là án lệ hay không là án lệ. Kinh
nghiệm cho thấy “ở hầu hết các quốc gia ngày nay đều thừa nhận vai trò sáng tạo
pháp luật hay tạo lập án lệ của tòa án”
và Việt Nam đang theo xu hướng chung này của thế giới.
Cho đến thời điểm tháng 9/2025,
TANDTC đã công bố 72 án lệ,
đưa án lệ trở thành một nguồn pháp luật quan trọng, một công cụ hữu hiệu góp
phần đảm bảo tính thống nhất trong xét xử, nâng cao khả năng tiếp cận công lý
của người dân và vai trò bảo vệ công lý của tòa án ở Việt Nam hiện nay. Tuy
nhiên, để án lệ thực sự trở thành một nguồn pháp luật đầy đủ, cần tiếp tục hoàn
thiện cơ chế ban hành, áp dụng, và bổ sung địa vị pháp lý rõ ràng trong pháp
luật. Đồng thời cũng cần tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến nội hàm
của các quyền lập pháp, tư pháp, cũng như thẩm quyền GTPL ở Việt Nam hiện nay,
cũng như giá trị và vị trí của án lệ trong hệ thống nguồn pháp luật ở Việt Nam.
3. Kiến nghị
3.1.
Đối với nguồn văn bản quy phạm pháp luật
Thứ nhất, để bảo đảm sự minh bạch, khả thi
trong áp dụng nguồn pháp luật, đồng thời, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ,
toàn diện của hệ thống pháp luật, cần tiếp tục làm rõ vị trí, trật tự thứ bậc
của các nguồn pháp luật, trước hết là trong hệ thống các VBQPPL ở Việt Nam, bao
gồm làm rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của từng chủ thể ban hành VBQPPL, từ đó,
làm rõ thứ bậc, hiệu lực giá trị pháp lý của từng loại VBQPPL.
Có ý kiến cho rằng, để tinh gọn hệ
thống pháp luật để dễ dàng hơn trong việc áp dụng VBQPPL, cần giải pháp “mỗi
chủ thể chỉ nên có thẩm quyền ban hành một loại VBQPPL”.
Theo tác giả, việc giảm bớt đầu mối VBQPPL, tiếp
tục hạn chế chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản, đơn giản hình thức VBQPPL
để hệ thống pháp luật Việt Nam đơn giản, minh bạch, dễ tiếp cận hơn là hợp lý.
Tuy nhiên, việc chỉ cho phép mỗi chủ thể chỉ nên có thẩm quyền ban hành một
loại VBQPPL là chưa thực sự khả thi và cũng chưa cần thiết. Không nhất thiết
chủ thể nào cũng chỉ được quyền ban hành một loại VBQPPL. Trong bối cảnh đất
nước đang trên đà phát triển nhanh chóng và sôi động, yêu cầu quản trị quốc gia
phải bảo đảm được tính linh hoạt cũng như khả năng phản ứng nhanh từ cơ quan
quản lý sẽ dẫn đến việc cần có những hình thức quản lý đa dạng. Việc một chủ
thể chỉ có thẩm quyền ban hành một loại VBQPPL vô hình trung có thể giới hạn
năng lực và hiệu quả quản lý (nhất là với Quốc hội, Chính phủ). Điều quan trọng
là cần làm rõ hơn các nguyên tắc áp dụng trong những trường hợp cùng quy định
về một vấn đề nhưng có mâu thuẫn về thẩm quyền, hiệu lực… bao gồm các thứ tự ưu
tiên đối với các trường hợp cùng một loại văn bản nhưng do chủ thể khác nhau (ví
dụ như Nghị quyết, Thông tư…), các văn bản cùng do một cơ quan ban hành (ví dụ
như Luật) nhưng quy định trong những lĩnh vực chung, chuyên ngành…
Thứ hai, theo tác giả, cần chính thức hóa
trong Luật Ban hành VBQPPL nguyên tắc áp dụng “luật chuyên ngành” khi lựa chọn
các nguồn pháp luật. Bởi lẽ, đây cũng là một nguyên tắc pháp lý đã được thừa
nhận từ lâu trong khoa học pháp lý
cũng như trong lĩnh vực pháp luật dân sự, thương mại, kinh tế và trên thực tế
cũng được áp dụng ở những mức độ khác nhau. Nguyên tắc này cũng được quy định
trong BLDS (như đã phân tích ở phần đầu), nhưng lại không được quy định trong
Luật Ban hành VBQPPL. Do đó, dường như nguyên tắc này vẫn chưa thực sự được coi
là một nguyên tắc áp dụng pháp luật chính thức với nguồn pháp luật ở Việt Nam.
Đồng thời, vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng cả về phương diện lý luận lẫn thực
tiễn, nên cho đến nay đối với nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành vẫn
còn nhiều tranh cãi, nhận thức không đầy đủ và không thống nhất trong áp dụng.
Từ đó, không chỉ ảnh hưởng đến sự vận hành, thực thi pháp luật, tính minh bạch,
đồng bộ, toàn diện, thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật mà còn có nguy
cơ hạn chế quyền và lợi ích của người dân.
Thứ ba, cần tăng cường hệ thống rà soát,
kiểm tra văn bản, bao gồm cả khâu tiền kiểm (bắt đầu từ khâu đánh giá chính
sách, dự thảo, ban hành VBQPPL), cho đến hậu kiểm (thực thi, thanh tra, kiểm
tra). Chúng ta đã có hẳn một Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành
chính (Bộ Tư pháp) với chức năng kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá, hợp nhất
VBQPPL, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; thực hiện kiểm tra VBQPPL thuộc
trách nhiệm và thẩm quyền kiểm tra của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; tổ chức thực
hiện rà soát, hệ thống hoá, hợp nhất VBQPPL, pháp điển hệ thống quy phạm pháp
luật theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, vẫn cần thiết phải củng cố thêm hệ
thống rà soát, kiểm tra VBQPPL cả về thể chế, thiết chế lẫn cách thức vận hành
cũng như các điều kiện bảo đảm. Trong thời đại chuyển đổi số hiện nay, cần tích
cực ứng dụng công nghệ số vào công tác này. Việc số hóa hệ thống VBQPPL, số hóa
hoạt động rà soát, kiểm tra, hệ thống hóa VBQPPL sẽ được nhiều thuận lợi và
bước tiến, góp phần giảm bớt những chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống nguồn
VBQPPL ở Việt Nam.
3.2. Đối với nguồn án lệ
Thứ nhất, về thứ bậc và giá trị
của án lệ trong hệ thống nguồn pháp luật
Có thể khẳng định, việc quy định
tính “mở” (không bắt buộc) của án lệ, mà có giá trị tham khảo cao, “để
các tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” trong bối cảnh hiện nay, khi việc
áp dụng án lệ là hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ.; đồng thời, các điều kiện về
nhận thức, tổ chức, trình độ, nguồn nhân lực… còn hạn chế cũng như truyền thống
pháp lý mang các đặc điểm của hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa trước đây, và
xa hơn, là hệ thống Civil law từ thời Pháp thuộc, là sự thận trọng cần thiết.
Tuy nhiên, về lâu dài, cần có sự minh định rõ ràng hơn đối với vai trò, vị trí
của án lệ. Điều này không chỉ góp phần tăng cường tính minh bạch, ổn định,
thống nhất, đồng bộ, toàn diện của nguồn pháp luật, hệ thống pháp luật, mà bảo
đảm sự vận hành hiệu quả của hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp,
từ đó, bảo đảm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân được tốt hơn.
Thứ hai, về quy trình công bố án lệ
Cần
tiếp tục xem xét, nghiên cứu rút ngắn quy trình tuyển chọn, công bố án lệ, bảo
đảm tính khoa học, kịp thời của pháp luật. Như đã phân tích, quy trình tuyển
chọn và công bố án lệ hiện nay thường kéo dài khoảng một năm. Điều này có thể
dẫn đến những hạn chế về tính cập nhật của nguồn pháp luật, dẫn đến pháp luật
không theo kịp đời sống, trong khi án lệ đóng vai trò là một nguồn bổ trợ cho
pháp luật trong trường hợp pháp luật (thành văn) còn bỏ trống, khiếm khuyết,
chưa có quy định. Như vậy, thay vì có thể lấp đầy khoảng trống pháp luật ngay
lập tức (trong lúc chờ có những chỉnh sửa, bổ sung, thay thế của Luật), phải
mất gần một năm để có thể chính thức áp dụng án lệ đó. Trong thời gian đó, có
thể chính án lệ mới này đã không còn phù hợp, hoặc đã đến thời điểm chín muồi
để có quy định mới trong hệ thống VBQPPL bù đắp vào chỗ thiếu khuyết của pháp
luật mà trước đây cần đến án lệ.
Một
trong những giải pháp nhằm phát huy hiệu quả và rút ngắn quy trình công bố án
lệ đó là đề xuất công nhận quyết định của HĐTP TANDTC đương nhiên là án
lệ, với những do chính sau: (i) Phán quyết do HĐTP TANDTC ban hành là phán
quyết cuối cùng; (ii) Thành viên của HĐTP TANDTC là những chuyên gia, người ưu
tú nhất trong lĩnh vực xét xử; (iii) Phán quyết của HĐTP TANDTC
bảo đảm sự tuân thủ triệt để trong quá trình giải quyết các vụ việc
tương tự; (iv) Quy định phán quyết của HĐTP TANDTC đương nhiên là án lệ sẽ cụ
thể hóa quan điểm của TANDTC theo Đề án “Phát triển án lệ của TANDTC”; (v)
Việc quy định phán quyết của HĐTP TANDTC đương nhiên là án lệ sẽ có nhiều ý
nghĩa; (vi) So sánh với hệ thống pháp luật của một số quốc gia khác, trong quá
trình tuyển chọn phán quyết để phát triển án lệ, phán quyết của tòa án có thẩm
quyền cao nhất của quốc gia có vị trí đặc biệt so với các phán quyết do tòa án
khác ban hành. Đây cũng là một hướng có thể nghiên cứu áp dụng trong bối
cảnh Việt Nam.
Ngoài ra, cũng có thể tham khảo
việc phát huy vai trò của các tòa án địa phương trong công tác phát triển án lệ. Các đề xuất này xuất phát từ căn
cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị
quyết số 04/2019/NQ-HĐTP: “Các Tòa án có trách nhiệm tổ chức rà soát, phát hiện
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án mình chứa đựng lập luận,
phán quyết đáp ứng các tiêu chí hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết này và gửi
cho tòa án nhân dân tối cao để xem xét, phát triển thành án lệ”. Trong thực tế
hiện nay, “một số tòa án chưa quan tâm đúng mức đến việc rà soát, phát hiện các
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để đề xuất phát triển thành án lệ nên
còn chậm trễ trong việc gửi báo cáo kết quả rà soát, phát hiện các bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật để đề xuất phát triển thành án lệ về TANDTC”.
Đồng thời, rất hiếm có án lệ nào hay dự thảo án lệ nào được hình thành từ các
đề xuất từ các tòa án ở địa phương, cho thấy các Ttòa án địa phương chưa thực
sự phát huy vai trò và chưa thực sự thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý của
mình trong phát triển án lệ. Trong khi đó, các thư ký tòa án và thẩm phán ở các
tòa án địa phương có vai trò rất lớn và được tiếp cận nhiều vụ việc đã có bản
án/quyết định có hiệu lực pháp luật. Họ là những người am hiểu hồ sơ vụ tranh
chấp đã được giải quyết ngay từ những vòng đầu tiên nên có thể hiểu rõ và đánh
giá những bán án/quyết định nào có thể phát triển thành án lệ.
Thứ ba, về hiệu lực của án lệ
Cần nghiên cứu áp dụng hiệu lực về
thời gian của án lệ một cách khoa học, đồng bộ và khả thi. Nếu áp dụng hiệu lực
hồi tố, cần làm rõ các điều kiện, phạm vi áp dụng, tránh dẫn đến sự thiếu công
bằng, cũng như ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên liên quan.
Cần tiếp tục minh định rõ những
nội dung có giá trị pháp lý bắt buộc trong án lệ. Tránh gây tranh cãi, hiểu và
vận dụng sai hoặc máy móc đối với án lệ.
Đồng thời, cũng cần nghiên cứu
nâng cao chất lượng đầu vào của án lệ. Qua khảo sát, có thể nhận thấy một số
bản án được lựa chọn để trở thành án lệ, xét trên phương diện lý luận, chưa
hoàn toàn đáp ứng đúng tinh thần và chức năng của án lệ. Ví dụ, án lệ số
01/2016/AL: Về bản án hình sự xét xử đối với bị cáo Đồng Xuân Phương,
cho thấy bản án này chủ yếu chỉ dừng lại ở việc xác định chính xác điều luật
cần áp dụng, chứ chưa thật sự phản ánh một cách tư duy mới, hay đưa ra sự sáng
tạo pháp luật theo nghĩa bổ sung, khắc phục khoảng trống quy phạm. Trong án lệ
số 01/2016/AL, thay vì Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm m, n khoản 1 Điều
93; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo về Tội giết người,
thì án lệ lại áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Ví dụ này cũng phản ánh
thực trạng một số án lệ hiện nay chủ yếu dừng lại ở mức độ làm rõ cách hiểu,
cách áp dụng các quy định đã có, lựa chọn quy phạm phù hợp trong số các điều
luật hiện hành, chứ chưa đạt đến mức độ chuẩn mực sáng tạo mới của pháp luật
(chưa sáng tạo hướng đi mới hay tạo cơ sở để bổ sung quy phạm pháp luật). Trong
khi đó, nhiều án lệ khác chỉ dừng lại ở việc củng cố các căn cứ xét xử bằng
cách làm rõ tình tiết vụ án. Do đó, bên cạnh việc tiếp tục nghiên cứu, củng cố
lý thuyết án lệ phù hợp với thực tiễn Việt Nam, cần nâng cao năng lực chuyên môn
và bản lĩnh của thẩm phán cũng như đội ngũ chuyên gia tư vấn, phục vụ xây dựng
án lệ để hệ thống nguồn pháp luật án lệ ngày càng phát triển, hoàn thiện.
Thứ tư, về vai trò của tòa án và
vấn đề giải thích pháp luật
Theo tinh thần Nghị quyết số
48-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, văn kiện này đã
nhấn mạnh: “Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả
tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hội nghề nghiệp, góp
phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật” (điểm 1.7, Mục III). Cùng với đó,
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020” đã giao cho Tòa án nhân dân tối cao nhiệm vụ Phát triển
án lệ: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử,
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ…”. Tiếp nối tinh
thần đó, Đảng đã phát triển và nâng tầm nhiệm vụ trong Nghị quyết số 27-NQ/TW
của Bộ Chính trị về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ
nghĩa, theo đó: “Đa dạng hóa nguồn pháp luật, đề cao và coi trọng đạo luật,
đơn giản hóa, giảm tầng nấc, loại hình văn bản trong hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật”.
Theo tác
giả, với vai trò quan trọng của án lệ cũng như vai trò của tòa án trong vấn đề
này, cần nghiên cứu xem xét bổ sung ở tầm hiến định về quyền “phát triển và
công bố án lệ” của HĐTP TANDTC, cũng như sửa đổi, bổ sung các quy định có liên
quan trong Luật Ban hành VBQPPL và các luật chuyên ngành có liên quan để bảo
đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Cũng cần
nghiên cứu mở rộng, sửa đổi, bổ sung thẩm quyền GTPL ở Việt Nam, tạo hành lang
pháp lý vững chắc, hợp hiến, hợp pháp cho hoạt động này.
Về mặt
thủ tục, cần phải có quy định chặt chẽ hơn về án lệ và GTPL bằng một văn bản ở
tầm pháp lý cao hơn (mà không phải là một văn bản dưới luật như hiện nay – đối
với án lệ là Nghị quyết của HĐTP TANDTC), trong đó, bảo đảm các điều chỉnh pháp
luật chặt chẽ liên quan đến nguyên tắc, trình tự thủ tục xây dựng và ban hành
án lệ. Bởi tuy là một nguồn pháp luật bổ trợ, nhưng vai trò và sự tác động của
án lệ đến quyền và nghĩa vụ của người dân cũng không hề thua kém gì một đạo
luật, do đó, theo quan điểm của tác giả, các vấn đề về án lệ phải được quy định
ít nhất ở tầm luật định.
Mặt khác, xây dựng án lệ được coi
là một hoạt động sáng tạo pháp luật thông qua GTPL của thẩm phán. Tuy nhiên,
theo quy định hiện hành, thẩm quyền GTPL chỉ duy nhất thuộc về UBTVQH. Đây có
thể coi là một điểm vênh trong quy định pháp luật đối với thẩm quyền ban hành
án lệ của tòa án. Có thể thấy, về mặt pháp lý, chưa có đảm bảo vững chắc cho
thẩm quyền của Tòa án đối với án lệ. Hiện nay, chúng ta đang sử dụng các thuật
ngữ khác với GTPL để thể hiện quyền của tòa án đối với án lệ, đó là tuyển chọn,
phát triển, công bố. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, nếu án lệ được hiểu
như sự sáng tạo pháp luật trên cơ sở khiếm khuyết, mâu thuẫn hoặc thiếu sót của
hệ thống pháp luật, thì cần gọi đúng tên thẩm quyền của tòa án, cần công nhận
chính thức về mặt pháp lý quyền GTPL của tòa án. Điều này không chỉ phù hợp với
thực tiễn đã và đang diễn ra mà cũng bảo đảm cho giá trị pháp lý của án lệ -
một nguồn pháp luật quan trọng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới - được vững
chắc hơn.
Kết luận
Từ thời kỳ Đổi
mới, đặc biệt là sau Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có
nhiều chuyển biến quan trọng trong việc nhận thức và pháp lý hóa các loại nguồn
pháp luật ngoài VBQPPL, như tập quán pháp, án lệ, lẽ công bằng... Những thay
đổi này phản ánh xu hướng đa dạng hóa hình thức pháp luật, phù hợp với yêu cầu
phát triển của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường hiện
đại và hội nhập quốc tế sâu rộng. Có thể nói, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện nguồn
pháp luật ở Việt Nam theo hướng mở rộng, đa dạng hóa và củng cố tính minh bạch,
hệ thống thứ bậc, trật tư pháp lý là vô cùng cần thiết.
Ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh
nguồn VBQPPL, án lệ là một nguồn pháp luật bổ trợ quan trọng trong hệ thống
nguồn pháp luật ở Việt Nam. Yêu cầu không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện các
nguồn pháp luật, như hệ thống các VBQPPL và án lệ là vô cùng cần thiết, hướng
tới một hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng
bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả
năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo,
góp phần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong thời kỳ mới.
(TS. Phan Thanh Hà, Viện Nhà nước và Pháp luật)
[1] Văn bản hợp nhất số 54/VBHN-VPQH Luật Ban hành
VBQPPL năm 2025, https://thuvienphapluat.vn /van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Van-ban-hop-nhat-54-VBHN-VPQH-2025-Luat-Ban-hanh-van-ban-quy-ph
am-phap-luat-669858.aspx.
[2] Điều 4 Luật Đầu tư năm
2020.
[3] Điều 3 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015.
[4] Điều 4, Điều 5 Luật Thương mại năm 2005.
[5] Bùi Thu Hẳng, Hệ thống, hình thức văn bản
quy phạm pháp luật ở Việt Nam thực trạng và kiến nghị, 13/11/2024,
https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghie n-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2667#:~:text=%5B3%5
D%20B%C3%A1o%20c%C3%A1o%20s%E1%BB%91%20134%2FBC%2DCP,File%20%C4%91%C3%ADnh%20k%C3%A8m,
truy cập ngày 15/08/2025.
[6] Nhật An, Xử lý mâu thuẫn trong áp dụng luật,
19/3/2020, https://daibieunhandan.vn/xu-ly-mau-thu an-trong-nguyen-tac-ap-dung-luat-10240198.html,
truy cập ngày 15/8/2025.
[7] Hà Chính, Chồng chéo, xung đột pháp luật:
Bài toán khó cần được xử lý, 06/08/2019, https://bao chinhphu.vn/chong-cheo-xung-dot-phap-luat-bai-toa
n-kho-can-duoc-xu-ly-102259704.htm, truy cập ngày 25/08/2025.
[8] Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày
18/6/2019 về Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (sau đây gọi tắt là
Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP),
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thu-tuc-To-tung/Nghi-quyet-04-2019-NQ-HDTP-ve-quy-trin
h-lua-chon-cong-bo-va-ap-dung-an-le-293168.aspx.
[9] Điều 2 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP.
[10] Nguyễn Thị Hoài Thương, Áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế,
Thừa Thiên Huế, 2021, tr.101.
[11] Quy định tại Điều 3,4,5,6,7 Nghị quyết số
04/2019/NQ-HĐTP.
[12] Đỗ Văn Đại, Một số vấn đề lý luận và pháp lý
về vai trò của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, huyện trong công tác phát triển án lệ
- thực trạng từ Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hồ Chí Minh, trong Hội
thảo khoa học: Áp dụng và phát triển án lệ tại Toà án nhân dân hai cấp Thành
phố Hồ Chí Minh, 9/2022, https://www.toaan.gov.vn/webcenter/ShowProperty?nodeId=/UCMServer/TAND284127,
truy cập ngày 15/8/2025.
[13] Đỗ Thanh Trung, Án lệ - Một số bất cập và đề
xuất hoàn thiện, 27/2/2018,
https://tapchitoaan.vn/an-le-mot-so-bat-cap-va-de-xuat-hoan-thien, truy cập
ngày 15/8/2025.
[14] Điều 83 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung
năm 2001) quy định: “Quốc hội cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”.
Đến Hiến pháp năm 2013, Điều 69 quy định: “Quốc
hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”.
[15] Hiến pháp 2013 quy định việc “giải thích pháp luật” tại khoản 2
Điều 74 về cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật chỉ có UBTVQH, hình thức
sản phẩm giải thích là Nghị quyết. UBTVQH chỉ giải thích về Hiến pháp, Luật,
Pháp lệnh, Điều ước quốc tế. Khoản 3 Điều 3 Luật Ban hành VBQPPL quy định: “Giải
thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là việc UBTVQH làm rõ tinh thần, nội dung
của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh để có nhận thức, thực
hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật”.
[16] UBTVQH đã 5 lần giải thích thông qua Nghị quyết số 746/2005 giải thích Điều 241 của Luật Thương mại; Nghị quyết số 1033/2006 giải thích Điều 19 của Luật Kiểm toán nhà nước. Ba lần sau, UBTVQH ban hành các nghị quyết liên quan đến tranh chấp về quyền sở hữu đất đai; giới hạn việc đòi bồi thường sở hữu tư nhân đối với nhà ở do Nhà nước quản lý (Hướng dẫn các giao dịch dân sự về nhà ở xã hội xác lập trước ngày 1/7/1991 năm 1998, Hướng dẫn, giải thích về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia 2006). Nguồn: Đặng Phương Hải, Chức năng giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH, 24/7/2019, https://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/2885-chuc-nang-giai-thich-hien-phap-phap-lenh-cua-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi.html, truy cập ngày 15/8/2025.
[17] Xem thêm,
Phan Thanh Hà, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 12/2021.
[18] Nguyễn Ngọc Điện, Tiêu chí nhận dạng và đề
xuất xây dựng án lệ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20 (348)/Kỳ 2, tháng
10/2017.
[19] Nguyễn Ngọc Điện, tlđd.
[20] Đỗ Thanh Trung, Vai trò tạo lập án lệ của
Tòa án - Từ khía cạnh các học thuyết chính trị, pháp lý, 17/8/2022,
https://tapchitoaan.vn/vai-tro-tao-lap-an-le-cua-toa-an-tu-khia-canh-cac-hoc-thuyet-chinh-tri-phap-ly6948.html,
truy cập ngày 15/8/2025.
[21] Xem: Trang Thông tin điện tử về Án lệ của Tòa
án nhân dân tối cao: http://anle.toaan.gov.vn/webcen ter/portal/anle/anle, truy
cập ngày 15/8/2025.
[22] Bùi Thu Hẳng, Hệ thống, hình thức văn bản
quy phạm pháp luật ở Việt Nam thực trạng và kiến nghị, 13/11/2024, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghie
n-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2667#:~:text=%5B3%5 D%20B%C3%A1o%20c%C3%A1o%20s%E1%BB%91%20134%2FBC%2DCP,File%20%C4%91%C3%ADnh%20k%C3%A8m,
truy cập ngày 15/8/2025.
[23] Nguyễn Văn Hiển, Nguyên tắc áp dụng pháp
luật trogn trường hợp các văn bản do cùng một chủ thể ban hành có quy định khác
nhau về cùng một vấn đề, 27/4/2020, Nguồn: https://lapphap.vn/Pages/tintuc/
tinchitiet.aspx?tintucid=210476, truy cập ngày 15/8/2025.
[24] Thái Chí
Bình, Sự cần thiết quy định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao đương nhiên là án lệ và kiến nghị hoàn thiện, 17/5/2022, Nguồn:https://tapchitoaan.vn/can-quy-di
nh-quyet-dinh-cua-hoi-dong-tham-phan-toa-an-nhan-dan-toi-cao-duong-nhien-la-an-le6357.html, ngày truy cập ngày
15/8/2025.
[25] Đỗ Văn Đại, tlđd.
[26] Nguyễn
Minh Tuấn, Bàn về án lệ và việc áp
dụng án lệ ở Việt Nam, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 01, tháng 01/2022.