image banner
VI | EN
Dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết của ThS. Mai Thị Minh Ngọc (Viện Nhà nước và Pháp luật). Bài viết là báo cáo trình bày tại buổi sinh hoạt chuyên đề tháng 7 năm 2026 của Chi bộ Viện Nhà nước và Pháp luật về học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới.
Anh-tin-bai
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của dân chủ, coi trọng việc xây dựng chế độ dân chủ, quan tâm nhiều đến quyền làm chủ của Nhân dân. Kế thừa tư tưởng của Người, Đảng xác định dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng, đó cũng vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước và đảm bảo tiến bộ xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ đã được Đảng ta vận dụng trên nhiều phương diện và đạt được những thành quả nhất định. Hiện nay, tư tưởng “dân là chủ, dân làm chủ” tiếp tục được khẳng định là nguyên tắc nền tảng, xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, thể hiện bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, trong bối cảnh hiện nay, Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ vào quá trình đổi mới có ý nghĩa rất thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ  

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã đứng  lên tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành được độc lập dân tộc. Ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập trước quốc dân và thế giới. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định xây dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới, đó là nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Người tuyên bố dứt khoát: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là dân làm chủ”[1] và khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”[2]. Theo đó, mọi quyền hành và lực lượng đều là của nhân dân, từ nhân dân mà ra.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[3].

Như vậy, nội dung cơ bản và cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là: (i) Nhân dân là chủ thể của quyền lực, thể chế chính trị dân chủ phải bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, nhân dân là người có quyền quyết định vận mệnh của quốc gia- dân tộc; (ii) Nhân dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng, củng cố và thực hành quyền lực của mình thông qua hệ thống chính trị và thể chế chính trị dân chủ, xây dựng và củng cố bộ máy quản lý nhà nước nhằm hướng tới phục vụ lợi ích của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân... Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”[4].

Sinh thời, Người hết sức coi trọng thể chế dân chủ đại diện. Theo Người, “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”[5]. “Lá phiếu cử tri có một giá trị rất cao quý; nó là một dấu hiệu xác nhận rằng nhân dân thực sự làm chủ nước nhà”[6], chính vì thế, Người nhấn mạnh: “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”, “Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ, Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”[7]; “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”[8]. “Chính phủ cộng hòa dân chủ là gì? Là đầy tớ trung thành của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ”[9].

Ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ phải tập trung giải quyết một công việc khẩn cấp, đó là vấn đề bầu cử Quốc hội. Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”[10].

Ngày 8/9/1945, Sắc lệnh số 14-SL về việc mở cuộc tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại biểu đã được Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ban hành.  Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam, đó là “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường”. Tiếp đến, ngày 17/10/1945, Sắc lệnh số 51-SL ấn định thể lệ cuộc tổng tuyển cử toàn quốc được Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành.

Ngày 09/11/1946, Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội khoá I thông qua, chính thức quy định chế độ bầu cử phổ thông, tự do, trực tiếp và kín. Hiến pháp năm 1946 đã cho thấy các quyền dân chủ, quyền công dân, quyền con người được bảo đảm. Hiến pháp đã thể hiện được tinh thần của một chính thể dân chủ rộng rãi, chủ quyền nhân dân đã được chú trọng ghi nhận, thể hiện: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo (Điều 1).

Bên cạnh việc coi trọng thể chế dân chủ đại diện, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặt nền móng cho hình thức dân chủ trực tiếp. Với Hiến pháp năm 1946 do Người chủ trì soạn thảo đã quy định “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia …”, những điều thay đổi trong Hiến pháp khi đã được Nghị viện phê chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.

Ở khía cạnh nội dung của quyền làm chủ, Hồ Chí Minh nhất quán coi trọng việc bảo đảm thực hiện và phát huy các quyền tự do, dân chủ của công dân. Ngoài quyền bầu cử, ứng cử được thực hiện tự do theo quy định của pháp luật, các quyền tự do, dân chủ cơ bản khác như quyền tự do ngôn luận và tự do hội họp cũng đã được thể chế hóa và có cơ chế bảo đảm thực hiện. Người từng nói một cách giản dị “Dân chủ tức là làm cho dân được mở miệng ra”, “Khai hội, phê bình và bày tỏ ý kiến, bầu cử các uỷ ban, các hội đồng, v.v..; đó là những cách quần chúng kiểm soát những người lãnh đạo”[11].

Ngay trong những năm đầu thực hiện dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành các thể chế quy định về biểu tình (Sắc lệnh số 31, ngày 13/9/1945), chế độ báo chí (Sắc lệnh số 41, ngày 29/3/1946), ấn loát phẩm (Sắc lệnh số 52, ngày 22/4/1946). Ngày 20/5/1957, Người ban hành Sắc lệnh số 100-SL/L003 quy định chế độ báo chí; Sắc lệnh số 101-SL/L002 quy định về quyền tự do hội họp.

Ở góc độ phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, bên cạnh chủ thể toàn thể nhân dân có quyền phúc quyết và chủ thể cá nhân có các quyền tự do dân chủ, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của các tổ chức quần chúng trong thực hành dân chủ. Trong Thư gửi đồng bào Liên khu IV vào giữa năm 1950, Người viết “Nước ta là một nước dân chủ, mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc,... Những đoàn thể đó là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bệnh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết với Nhân dân, với Chính phủ. Khi ai có gì oan ức, thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam, đồng bào cần hiểu và khéo dùng quyền ấy”[12]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh quy định về quyền lập công đoàn (Sắc lệnh số 29-SL, ngày 12/3/1947), sắc lệnh quy định quyền lập hội (Sắc lệnh số 102-SL/L004, ngày 20/5/1957). Trong đó, Sắc lệnh số 102 là cơ sở pháp lý cho ra đời hàng loạt hội của nhân dân trong thời gian sau đó.

2. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 

Tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng quyết định đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội VI (1986) xác định đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh. Đại hội xác định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”[13]. Như vậy, quan niệm về dân chủ đã gắn liền với tư tưởng “dân là chủ”, “dân làm chủ”, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ: Xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động là một trong những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam. Đại hội VI của Đảng đã tạo bước ngoặt lịch sử trong việc phát huy dân chủ để tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước. Bài học “lấy dân làm gốc” là sự thể hiện cô đọng và sâu sắc nhất tư tưởng dân chủ của Đảng.

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội, Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3/1989) đã khẳng định: Dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Xây dựng và phát triển nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động là điều kiện cơ bản bảo đảm thắng lợi cho công cuộc đổi mới.

Đại hội VII (1991) xác định mục tiêu đổi mới với một sự bổ sung quan trọng để làm rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) của đổi mới và bản chất của CNXH. Đó là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đại hội VII, khẳng định: Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) nhấn mạnh: Thực hiện dân chủ XHCN, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cũng là bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền Việt Nam… Như vậy, dân chủ XHCN được khẳng định là mục tiêu, động lực, đặc trưng, phương thức, nhiệm vụ cơ bản của CNXH.

Đến Đại hội VIII (1996) khẳng định: “Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Bài học lớn là dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương”. Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) ra Chỉ thị số 30/CT-TW về việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể triển khai xây dựng Quy chế dân chủ trên 3 loại hình cơ sở chính: Cơ quan hành chính, sự nghiệp, xã, phường và doanh nghiệp trên toàn quốc. Đây là văn bản nền tảng đặt ra yêu cầu phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là sự bổ sung quan trọng quan điểm về các hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Đại hội IX (2001), Đảng ta chính thức xác định dân chủ là một trong năm thành tố làm nên hệ thống mục tiêu chung của CNXH ở Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dân chủ có nội dung riêng, tương đối độc lập, không thể lồng ghép nó vào các khái niệm khác. Như vậy, sau 15 năm đổi mới, hệ thống mục tiêu chung của CNXH đã được xác định rõ hơn. Đây là dấu ấn thể hiện bước ngoặt quan trọng trong tư duy, nhận thức lý luận của Đảng về CNXH và dân chủ XHCN.

Từ Đại hội X (2006), Đảng ta đã khẳng định cần “tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện”[14]. Đại hội X tiếp tục có những phát triển mới trong nhận thức về dân chủ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân”[15].

Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, tại Đại hội XI (2011) Đảng ta đã sắp xếp lại vị trí của các thành tố trong hệ thống mục tiêu; theo đó, mục tiêu tổng quát của CNXH là: “Dân giàu, nước mạnhdân chủ, công bằng, văn minh”[16].  Cụm từ “dân chủ” được đưa lên trước cụm từ công bằng, văn minh. Đây không chỉ là vấn đề chữ nghĩa mà là phản ánh logíc của sự vận động phát triển, phản ánh thứ tự ưu tiên trong thực hiện mục tiêu. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ dân chủ là tiền đề, điều kiện quyết định đối với công bằng, văn minh và với dân giàu, nước mạnh. Dân chủ là động lực, bản chất của CNXH nên dân chủ ở vị trí trung tâm, là hạt nhân, cốt lõi, là mục tiêu cơ bản nhất trong hệ mục tiêu. Luận điểm này thể hiện điểm mới trong nhận thức của Đảng về mục tiêu dân chủ, đó là: Đảng ngày càng chú trọng vị trí của dân chủ trong hệ mục tiêu đổi mới đất nước; dân chủ trở thành bản chất của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.

Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của xã hội ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm... Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.

Đại hội XII có những điểm mới về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo dảm thực hành quyền làm chủ của nhân dân. Trong tư duy lý luận của Đảng ta, điều quan trọng hơn là tiếp tục thực hiện, phát huy dân chủ, nghĩa là phải tạo được bước chuyển căn bản từ nhận thức đến hành động. Để đạt được mục tiêu xây dựng xã hội thực sự dân chủ, Đại hội XII xác định rõ: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân”[17]. Phương thức, cơ chế thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. 

Đại hội lần thứ XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục ghi nhận, phát triển, làm giàu thêm quan điểm lý luận và thực tiễn về dân chủ và Nhà nước pháp quyền. Đại hội xác định một trong các mục tiêu cụ thể phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân...”[18]. Đại hội XIII (năm 2021) tiếp tục khẳng định: “Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[19]. Đại hội XIII xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước… Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình”.[20]

Đại hội XIV của Đảng xác định phương châm cốt lõi “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, trong đó tư tưởng “Dân là chủ, dân làm chủ” là nền tảng xuyên suốt nhằm khơi dậy sức mạnh tổng hợp và tinh thần sáng tạo của toàn dân tộc. Trong phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, dân chủ được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc kỷ nguyên mới. Với phương châm “Dân là chủ, dân làm chủ” đã khẳng định nhân dân là chủ thể, là trung tâm của mọi đường lối, chính sách.

Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân”[21]; nhân dân không chỉ là lực lượng tham gia mà chính là chủ thể của toàn bộ quá trình phát triển đất nước. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc” của các nhiệm kỳ Đại hội trước, khẳng định: Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đồng thời “Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có cơ chế phù hợp, thuận lợi và tin cậy để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước... Thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở”[22]. Đại hội yêu cầu tạo điều kiện để quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện trên thực tế.

Tóm lại: Sinh thời, Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ nghĩa là: “Dân là chủ”, “dân làm chủ”, “dân là gốc”. Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Tư tưởng này là nền tảng quan trọng được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng trong suốt quá trình đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay. Thực tiễn cho thấy, ở Việt Nam trong 40 năm đổi mới và hơn nửa thế kỷ làm theo tư tưởng của Người đã minh chứng “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Vị trí của dân chủ trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng được khẳng định, nhận thức ngày càng rõ ràng, sâu sắc và toàn diện hơn, phản ánh những bước tiến quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của Đảng. Trong kỷ nguyên mới, việc tiếp tục quán triệt và thực hiện nhất quán tư tưởng “dân là chủ, dân làm chủ” có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân trong toàn bộ tiến trình phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai.

(ThS. Mai Thị Minh Ngọc, Viện Nhà nước và Pháp luật)

Tài liệu tham khảo

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 325.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 13, tr. 83.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 434.

[4], [13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 6, tr. 232, tr. 397.

[5], [8], [11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 64-65, tr. 153, tr. 7.

[6]; [7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 263, tr. 565.

[9], [10], [12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 75, tr. 60, tr. 328.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tậpNxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 710.  

[15], [16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 305, tr. 125.  

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 70.

[18] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 38.

[19], [20], [21] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 1, tr. 118, tr. 173, tr. 71.

[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.1, tr. 121.
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1