Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết số 04-NQ/TW
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết của PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa (Viện Nhà nước và Pháp luật). Bài viết nhằm hưởng ứng Chương trình hành động số 1050-CTr/ĐU ngày 10/6/2026 của Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới. Bài viết tập trung phân tích chủ trương của Đảng trong Nghị quyết số 04-NQ/TW; đồng thời nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết trong thời gian tới.
Nguồn ảnh: Internet
Mở đầu
Công
tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực luôn được Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
Trong
bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất
lượng quản trị quốc gia, minh bạch và trách nhiệm giải trình, việc tiếp tục
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này càng trở nên cấp thiết, có
ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Ngày
01/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số
04-NQ/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới. Nghị quyết thể hiện rõ quyết
tâm chính trị rất cao của Đảng trong việc đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực một cách toàn diện, đồng bộ, kiên quyết, kiên trì, với
phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu
hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu quả phòng ngừa từ sớm,
từ xa.
Thực
tiễn thời gian qua cho thấy, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng,
công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã đạt được nhiều kết quả
quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, nâng cao uy tín của Đảng và
Nhà nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình mới, các hành vi tham nhũng, tiêu
cực ngày càng tinh vi, phức tạp, gắn với lợi ích nhóm, với sự vận động của kinh
tế thị trường và quá trình chuyển đổi số, đặt ra những yêu cầu mới đối với vai
trò lãnh đạo của Đảng.
Bên
cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động cũng gia tăng các hoạt động xuyên tạc,
bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực, nhằm gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Do đó, việc
làm rõ cơ sở lý luận, nội dung chủ trương của Đảng theo Nghị quyết số 04-NQ/TW,
đồng thời nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái là yêu cầu cần thiết cả
về phương diện lý luận và thực tiễn.
Trên
cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích chủ trương của Đảng về phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới theo Nghị quyết số 04-NQ/TW; đồng
thời nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, và đề xuất một số giải
pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết trong thời gian tới.
1. Chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực theo Nghị quyết số 04-NQ/TW
Nghị
quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã
xác định rõ mục tiêu tổng quát là kiên quyết, kiên trì phòng ngừa, kiểm soát,
ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng Đảng và hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với
Đảng, Nhà nước và chế độ; phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần
thực hiện mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập
cao, quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện đại.
Trước
hết, Nghị quyết khẳng định phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự giám sát của Nhân
dân, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã
hội, được tiến hành kiên quyết, kiên trì, thường xuyên, liên tục từ cơ sở, chi
bộ đảng. Điểm nhấn rất đáng chú ý là Nghị quyết yêu cầu thực hiện đồng bộ, hiệu
quả các biện pháp để “không thể, không dám, không muốn, không cần” tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực, thể hiện tư duy ngày càng toàn diện hơn trong cả phòng ngừa
lẫn xử lý.
Thứ
hai, Nghị quyết nhấn mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực phải đặt lợi ích quốc gia- dân tộc, lợi ích của Nhân dân lên trên hết,
trước hết, đồng thời gắn chặt với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Đây là định hướng rất quan trọng, bởi Nghị quyết không chỉ đặt ra yêu cầu kiên
quyết đấu tranh mà còn nhấn mạnh phải kiến tạo phát triển, khuyến khích và bảo
vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, bảo đảm hài hòa
giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người dân.
Thứ
ba, Nghị quyết xác định rõ phương châm đẩy mạnh phòng ngừa, trong đó
“phòng ngừa từ gốc là cơ bản, kiểm soát quyền lực là cốt lõi, ứng dụng khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trọng tâm”, đồng thời kết hợp
chặt chẽ giữa phòng ngừa với phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh,
có trọng tâm, trọng điểm. Quan điểm này cho thấy sự nhấn mạnh mạnh mẽ hơn vào
quản trị rủi ro, chủ động nhận diện, dự báo, cảnh báo và xử lý vi phạm từ sớm,
từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, nhất là ở các lĩnh vực
then chốt, trọng yếu và các lĩnh vực mới tiềm ẩn nguy cơ cao.
Thứ
tư, Nghị quyết tiếp tục khẳng định nguyên tắc xử lý nghiêm minh, kịp
thời, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, nhưng đồng thời nhấn mạnh yêu cầu
bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ bối cảnh lịch sử cụ thể, lấy hiệu quả
chính trị, kinh tế, xã hội và lợi ích quốc gia- dân tộc làm căn cứ để xử lý phù
hợp. Nghị quyết cũng nêu rõ định hướng ưu tiên thu hồi tối đa tài sản và khuyến
khích chủ động khắc phục hậu quả. Điều này cho thấy chủ trương của Đảng không
chỉ nghiêm khắc mà còn đề cao tính nhân văn, thuyết phục và hiệu quả thực chất
trong xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Thứ
năm, Nghị quyết nhấn mạnh việc kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức,
văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh; chú trọng tổng
kết thực tiễn, phát triển lý luận về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
chủ động hội nhập và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều
kiện Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để công tác phòng, chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực không chỉ được nhìn nhận như một hoạt động kiểm tra, xử lý
vi phạm, mà còn là quá trình xây dựng văn hóa liêm chính, chuẩn mực đạo đức
công vụ và nền quản trị quốc gia hiện đại.
Từ
các quan điểm nêu trên, Nghị quyết triển khai thành nhiều nhóm nhiệm vụ, giải
pháp đồng bộ, nổi bật là: nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương
mẫu và thực hành văn hóa liêm chính của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và
cán bộ, đảng viên; hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống
nhất, khả thi; kiểm soát quyền lực chặt chẽ và thực hiện hiệu quả các giải pháp
phòng ngừa; phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, công bằng, khách quan, nghiêm
minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn
xã hội; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, huy động sức mạnh của cả hệ thống
chính trị và Nhân dân; đồng thời tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường
phối hợp giữa các cơ quan chức năng và mở rộng hợp tác quốc tế về phòng, chống
tham nhũng.
Có
thể thấy, Nghị quyết số 04-NQ/TW đã bổ sung và phát triển nhiều nội dung mới
trong chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thể
hiện rõ tư duy lãnh đạo toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, giữa kỷ
luật, kỷ cương với khuyến khích đổi mới sáng tạo, giữa phòng ngừa từ sớm, từ xa
với xử lý nghiêm minh, hiệu quả. Đây là định hướng chính trị có ý nghĩa nền tảng
để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
2. Nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái, thù
địch về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Trong
quá trình Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết số 04-NQ/TW, các thế lực thù địch, phản
động và phần tử cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng một số vụ việc cụ thể để
xuyên tạc, bóp méo bản chất, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoài nghi
trong xã hội. Việc nhận diện đúng các luận điệu này và phản bác một cách có căn
cứ, thuyết phục là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng
cố niềm tin của Nhân dân và tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện Nghị quyết.
Một
là, chúng cho rằng công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực ở Việt Nam thực chất chỉ là “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe phái”, không
xuất phát từ yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và làm trong sạch bộ máy. Đây là
luận điệu xuyên tạc có chủ đích. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy công tác này
được tiến hành kiên quyết, kiên trì, đồng bộ, toàn diện, “không có vùng cấm,
không có ngoại lệ”, xử lý nghiêm cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu,
trên cơ sở quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Chính Nghị quyết
04-NQ/TW tiếp tục khẳng định rõ yêu cầu xử lý nghiêm minh, kịp thời, khách
quan, toàn diện, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, qua đó cho thấy đây là
chủ trương nhất quán, không phải là hiện tượng nhất thời hay phục vụ động cơ
phe phái.
Hai
là, chúng xuyên tạc rằng Đảng “vừa lãnh đạo, vừa kiểm tra, giám sát”
nên không thể bảo đảm khách quan, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Lập luận này cố tình
bỏ qua nguyên tắc hiến định về vai trò lãnh đạo của Đảng và không hiểu đúng cơ
chế vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam. Nghị quyết 04-NQ/TW xác định rõ
công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đặt dưới sự lãnh đạo
trực tiếp, toàn diện của Đảng, đồng thời có sự giám sát của Nhân dân, phát huy
sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Điều đó có nghĩa là
Đảng giữ vai trò lãnh đạo về đường lối, định hướng, kiểm soát quyền lực trong hệ
thống chính trị, chứ không thay thế các cơ quan nhà nước trong hoạt động thanh
tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử.
Ba
là, chúng rêu rao rằng công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực ở nước ta chỉ mang tính hình thức, chủ yếu đánh trống ghi tên, không tạo
được chuyển biến thực chất. Luận điệu này bị bác bỏ ngay bởi chính những kết quả
mà Nghị quyết 04-NQ/TW đã tổng kết: sau 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương
3 khóa X, công tác này đã đạt “nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, có bước
tiến mạnh, đột phá lớn”, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch,
vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và củng
cố niềm tin của Nhân dân. Việc Nghị quyết tiếp tục đề ra các mục tiêu, quan điểm,
nhiệm vụ, giải pháp rất cụ thể cũng cho thấy đây là một quá trình hành động có
chiến lược, có lộ trình, có cơ chế tổ chức thực hiện rõ ràng, chứ không phải khẩu
hiệu hình thức.
Bốn
là, chúng cố tình đồng nhất hiện tượng tham nhũng với bản chất của
chế độ, từ đó quy kết rằng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là thuộc tính tất yếu
của hệ thống chính trị ở Việt Nam; đồng thời vu cáo rằng đấu tranh chống tham
nhũng sẽ cản trở phát triển, làm cán bộ sợ sai, không dám làm. Đây là kiểu lập
luận ngụy biện, đánh tráo giữa hiện tượng và bản chất. Nghị quyết 04-NQ/TW nhìn
thẳng vào thực trạng, chỉ rõ hạn chế, bất cập và nguy cơ, nhưng đồng thời khẳng
định công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đặt lợi ích quốc
gia- dân tộc, lợi ích của Nhân dân lên trên hết, gắn với yêu cầu phát triển
nhanh và bền vững; vừa kiên quyết đấu tranh, vừa kiến tạo phát triển, khuyến
khích và bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Điều
đó cho thấy chủ trương của Đảng không phải là kìm hãm phát triển, mà là làm cho
phát triển lành mạnh hơn, minh bạch hơn, bền vững hơn.
Năm
là, trên không gian mạng và trong một số diễn đàn thiếu thiện chí,
chúng còn bóp méo rằng việc phản bác các quan điểm sai trái về phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là che giấu sự thật, còn việc xử lý hiện nay chỉ
thiên về trừng phạt, thiếu nhân văn. Nhận định này trái với tinh thần của Nghị
quyết 04-NQ/TW. Nghị quyết yêu cầu đẩy mạnh, đổi mới, hiện đại hóa công tác
thông tin, tuyên truyền, giáo dục; tạo sự lan tỏa, đồng thuận, thống nhất cao
trong toàn xã hội; đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả các quan điểm sai
trái, thù địch; đồng thời nhấn mạnh phải xử lý nghiêm minh, kịp thời nhưng nhân
văn, thuyết phục, khách quan, toàn diện, ưu tiên thu hồi tối đa tài sản và khuyến
khích chủ động khắc phục hậu quả. Như vậy, phản bác luận điệu sai trái không phải
là né tránh thông tin, mà là bảo vệ sự thật; còn xử lý nghiêm minh không tách rời
yêu cầu nhân văn và hiệu quả thực chất.
Từ
những phân tích trên có thể thấy, các luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tuy khác nhau về cách biểu đạt nhưng đều có điểm
chung là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin xã hội và cản
trở việc thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW. Vì vậy, cùng với việc tiếp tục nâng
cao hiệu quả thực chất của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,
cần chủ động nhận diện, đấu tranh và phản bác kịp thời, thuyết phục các quan điểm
sai trái, thù địch, coi đây là một nội dung quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng trong giai đoạn mới.
3. Một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết
số 04-NQ/TW trong giai đoạn mới
Để thực hiện hiệu quả Nghị
quyết số 04-NQ/TW trong giai đoạn mới, vấn đề không chỉ là tiếp tục khẳng định
quyết tâm chính trị, mà quan trọng hơn là chuyển quyết tâm đó thành các cơ chế
kiểm soát quyền lực hữu hiệu, các chuẩn mực liêm chính có khả năng chi phối
hành vi công vụ và các phương thức tổ chức thực hiện phù hợp với bối cảnh phát
triển mới của đất nước. Nói cách khác, giải pháp cần được đặt trong yêu cầu xử
lý đúng các điểm nghẽn mà Nghị quyết đã chỉ ra, từ hạn chế trong năng lực lãnh
đạo, bất cập thể chế, đến sự thiếu hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa và
kiểm soát quyền lực trong một số lĩnh vực.
Một là, cần chuyển mạnh từ tư duy
chống tham nhũng theo vụ việc sang tư duy quản trị rủi ro về tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực.
Nếu chỉ tập trung xử lý khi sai phạm đã xảy ra thì hiệu quả
răn đe tuy cần thiết nhưng chưa đủ để ngăn chặn tận gốc các điều kiện phát sinh
vi phạm. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế nhận diện sớm các lĩnh vực, khâu công
việc, nhóm vị trí dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thiết lập các
chỉ dấu cảnh báo sớm trong quản lý đất đai, đầu tư công, tài sản công, tài
chính công, công tác cán bộ và các lĩnh vực mới gắn với chuyển đổi số. Hướng
tiếp cận này phù hợp với tinh thần Nghị quyết khi nhấn mạnh phòng ngừa từ gốc
là căn bản, kiểm soát quyền lực là cốt lõi và xử lý vi phạm từ sớm, từ xa,
không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.
Hai là, cần đổi mới cách thức kiểm
soát quyền lực theo hướng cụ thể hóa trách nhiệm, cá thể hóa thẩm quyền và đo
lường được trách nhiệm giải trình.
Một trong những nguyên nhân khiến phòng, chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực ở một số nơi chưa đạt hiệu quả mong muốn là quyền lực có lúc
vẫn được trao khá rộng nhưng trách nhiệm lại còn phân tán, dẫn đến tình trạng
không rõ ai chịu trách nhiệm cuối cùng. Do đó, cùng với hoàn thiện pháp luật,
cần thiết kế rõ hơn cơ chế ràng buộc trách nhiệm của từng chủ thể có thẩm
quyền, nhất là người đứng đầu; mọi quyết định liên quan đến phân bổ nguồn lực,
tuyển dụng, bổ nhiệm, phê duyệt dự án, quản lý tài sản công cần được đặt trong
chuỗi trách nhiệm có thể truy vết, đánh giá và kiểm chứng. Khi trách nhiệm giải
trình trở thành yêu cầu thực chất chứ không chỉ là thủ tục hình thức, thì kiểm
soát quyền lực mới thực sự có hiệu quả và mới tạo được cơ sở để ngăn ngừa tình
trạng đùn đẩy, né tránh, bao che hoặc hợp thức hóa sai phạm. Nghị quyết
04-NQ/TW cũng đặt trọng tâm vào tăng cường kiểm soát quyền lực, nâng cao trách
nhiệm người đứng đầu và bảo đảm sự liêm chính trong bộ máy công quyền.
Ba là, cần đặt trọng tâm nhiều hơn
vào xây dựng văn hóa liêm chính trong Đảng, trong bộ máy nhà nước và trong đời
sống xã hội, coi đây là nền tảng mềm nhưng có ý nghĩa lâu dài đối với phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trên thực tế, không thể chỉ dựa vào kỷ luật và chế tài để duy
trì tính trong sạch của bộ máy; điều quan trọng hơn là hình thành được môi
trường chính trị công vụ mà ở đó liêm chính trở thành chuẩn mực ứng xử, thành
áp lực đạo đức tích cực đối với cán bộ, đảng viên và người có chức vụ, quyền
hạn. Vì vậy, cần gắn việc thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TW với xây dựng văn hóa
nêu gương, văn hóa từ chức, văn hóa không dung túng cho sai phạm, đồng thời đẩy
mạnh giáo dục liêm chính trong hệ thống giáo dục và trong đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ. Chính Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu thực hành văn hóa liêm chính,
xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính và phát huy các giá trị đạo
đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc cùng tư tưởng Hồ Chí Minh trong
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Bốn là, cần kết hợp chặt chẽ giữa
yêu cầu xử lý nghiêm minh với yêu cầu bảo vệ đổi mới sáng tạo, khắc phục tâm lý
sợ sai, né tránh trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Đây là vấn đề rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay bởi nếu
không phân định rạch ròi giữa sai phạm vụ lợi với rủi ro trong quá trình thực
thi công vụ vì lợi ích chung thì rất dễ xuất hiện tâm lý co cụm, không dám
quyết, không dám chịu trách nhiệm, làm chậm quá trình phát triển. Do đó, bên
cạnh việc xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cần tiếp tục
hoàn thiện tiêu chí pháp lý và cơ chế đánh giá để phân biệt rõ giữa hành vi cố
ý trục lợi với sai sót khách quan trong đổi mới, sáng tạo; đồng thời có cơ chế
bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Cách
tiếp cận này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của Nghị quyết là vừa kiên
quyết, kiên trì đấu tranh, vừa kiến tạo phát triển, khuyến khích và bảo vệ
người đổi mới, sáng tạo, đồng thời xử lý nghiêm minh nhưng nhân văn, thuyết
phục, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc.
Năm là, cần phát huy mạnh hơn vai
trò của xã hội, báo chí và Nhân dân trong giám sát quyền lực, đồng thời chủ
động chiếm lĩnh không gian thông tin để phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch.
Trong điều kiện hiện nay, phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực sẽ khó đạt hiệu quả bền vững nếu chỉ được nhìn như nhiệm vụ nội bộ của
các cơ quan có thẩm quyền. Muốn tạo sức mạnh tổng hợp, cần mở rộng các kênh
tiếp nhận phản ánh, kiến nghị, tố giác; nâng cao hiệu quả bảo vệ người đấu
tranh chống tham nhũng; tăng tính công khai, minh bạch của quá trình xử lý;
đồng thời cung cấp thông tin chính thống kịp thời, có chiều sâu, có sức thuyết
phục. Điều này không chỉ giúp huy động sự tham gia của toàn xã hội mà còn trực
tiếp làm thất bại các luận điệu xuyên tạc kiểu “đấu đá nội bộ”, “chống tham
nhũng hình thức” hay “chống tham nhũng để cản trở phát triển”. Nghị quyết
04-NQ/TW cũng xác định rõ phải phát huy sự giám sát của Nhân dân, đẩy mạnh
thông tin, tuyên truyền, đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả các quan điểm
sai trái, thù địch và hoàn thiện cơ chế để Nhân dân tích cực tham gia phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
(PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa, Chi bộ Viện Nhà nước và Pháp luật)