Hội thảo “Bảo đảm quyền tài sản: Nền tảng pháp lý cho phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên số”
Đây là hoạt động khoa học trong khuôn khổ của Đề tài cấp Bộ do PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa làm chủ nhiệm: “Hoàn thiện pháp luật bảo đảm và bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới”. Hội thảo diễn ra chiều ngày 21/10/2026 tại trụ sở cơ quan chủ trì Viện Nhà nước và Pháp luật, số 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Đến dự hội thảo có TS. Chu Thị Hoa
(Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp), TS. Đào Trọng
Khôi (Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội), các thành viên đề tài cùng
các nhà khoa học của Viện Nhà nước và Pháp luật và các em sinh viên luật Trường
Đại học Thủy lợi.
PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa, Chủ nhiệm đề tài, phát biểu đề dẫn hội thảo
Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS.TS.
Dương Quỳnh Hoa nhấn mạnh vai trò của việc hoàn thiện thể chế quyền tài
sản trong việc bảo đảm an toàn pháp lý, củng cố niềm tin và thúc đẩy đầu tư,
phát triển kinh tế tư nhân. Việc bảo đảm quyền tài sản không chỉ dừng lại ở ghi
nhận quyền trong pháp luật mà còn phải bảo đảm khả năng thực thi, chuyển giao,
khai thác giá trị tài sản và bảo vệ quyền khi xảy ra vi phạm. Trước sự xuất hiện
của các loại tài sản mới, đặc biệt là dữ liệu và tài sản số, cần làm rõ nội
hàm, phạm vi bảo đảm quyền tài sản và giới hạn của việc tài sản hóa. Trên cơ sở
đó, cần hoàn thiện chính sách, pháp luật theo hướng xác định rõ vai trò của Nhà
nước, bảo đảm giá trị kinh tế của quyền tài sản và đánh giá hiệu quả bảo vệ quyền
từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.
TS. Chu Thị Hoa với phần trình bày tham luận của mình
Có 05 tham luận
được trình bày tại hội thảo. Tham luận đầu tiên là của TS. Chu Thị Hoa có tiêu
đề “Thể chế quyền tài sản trước những yêu cầu mới về thúc đẩy phát triển
kinh tế tư nhân”. Báo cáo tập trung phân tích vai trò của thể chế quyền tài
sản trong việc củng cố niềm tin, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy khu vực kinh
tế tư nhân phát triển. Mặc dù Việt Nam đã có những nền tảng pháp lý quan trọng
về quyền sở hữu và quyền tài sản, việc thực thi trên thực tế vẫn còn những hạn
chế liên quan đến đăng ký tài sản, minh bạch thông tin, bảo vệ quyền tự do kinh
doanh và thực thi hợp đồng. Trước yêu cầu phát triển mới, tham luận nhấn mạnh
ba định hướng lớn: Xây dựng hệ sinh thái quyền tài sản phù hợp với nền kinh tế
số; đa dạng hóa các quyền khai thác tài sản nhằm mở rộng khả năng huy động vốn;
và tăng cường minh bạch thị trường, kiểm soát rủi ro, bảo vệ quyền lợi của các
bên liên quan.
Trên cơ sở đó,
tác giả đề xuất tám nhóm giải pháp, bao gồm hoàn thiện Bộ luật Dân sự, xây dựng
Luật Đăng ký tài sản, nâng cao khả năng khai thác và huy động vốn từ tài sản,
hoàn thiện cơ chế đối với tài sản mới, bảo đảm quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật.
Tham luận thứ
hai có chủ đề “Giới hạn sự can thiệp của Nhà nước đối với quyền tài sản và
yêu cầu bảo đảm quyền tài sản của doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới” của TS.
Nguyễn Thị Phương Châm (Khoa Luật tư - Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội). Tác giả cho rằng, quyền tài sản cần được tiếp cận theo giá trị kinh tế,
bao gồm tài sản hữu hình, quyền và lợi ích kinh tế, dữ liệu và tài sản số. Sự
can thiệp của Nhà nước có thể xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích công, khắc phục
thất bại thị trường và kiểm soát quyền lực kinh tế, nhưng phải đáp ứng các tiêu
chuẩn về tính hợp pháp, mục đích chính đáng, tính phù hợp, cần thiết, tương xứng,
thủ tục công bằng và cơ chế bồi thường, khắc phục hiệu quả. Báo cáo chỉ ra những
khoảng trống trong pháp luật và thực tiễn thực thi hiện nay, đặc biệt là việc bảo
vệ quyền tài sản của doanh nghiệp, tài sản số và kiểm soát tính cần thiết,
tương xứng của các biện pháp can thiệp, đồng thời nhấn mạnh những thách thức mới
từ trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh và các biện pháp cưỡng chế tài sản.
Trên cơ sở đó,
tác giả đề xuất 06 ưu tiên hoàn thiện thể chế, hướng tới luật hóa các tiêu chuẩn
can thiệp, tăng cường trách nhiệm giải trình và nghĩa vụ chứng minh của cơ quan
công quyền, bảo đảm cơ chế định giá, bồi thường thực chất, qua đó bảo vệ quyền
tài sản, củng cố niềm tin của doanh nghiệp và thúc đẩy đầu tư, đổi mới sáng tạo
dài hạn.
ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương (Viện Nhà nước và Pháp luật)
Tiếp theo, hội thảo lắng nghe ThS.
Ngô Vĩnh Bạch Dương (Viện Nhà nước và Pháp luật) trình bày tham luận “Khai
thác giá trị kinh tế của quyền tài sản: Những yêu cầu pháp lý đối với chuyển
giao, vốn hóa và tiếp cận tín dụng của khu vực kinh tế tư nhân”.
Bài viết tập trung phân tích
các điều kiện pháp lý nhằm phát huy giá trị kinh tế của quyền tài sản, với trọng
tâm là khả năng giao dịch và thực thi quyền đối với khoản phải thu, sáng chế và
quyền thuê đất. Thông qua sáu vấn đề thảo luận, ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương làm rõ
sự cần thiết phải phân biệt những trở ngại xuất phát từ quy định pháp luật với
rủi ro thị trường và rủi ro nội tại của tài sản, đồng thời nhấn mạnh rằng việc
hoàn thiện cơ chế thế chấp không thể loại bỏ các rủi ro về khả năng sinh lời và
trả nợ của doanh nghiệp. Tác giả đặt ra các vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện
như điều kiện chuyển nhượng khoản phải thu, cơ chế công khai giao dịch và xác định
thứ tự ưu tiên, góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế có thời hạn, cũng như trách
nhiệm của các bên khi quyền tài sản góp vốn bị mất hiệu lực.
Bên cạnh đó,
tham luận phân tích sự cần thiết phải cân nhắc giữa xử lý tài sản ngay và tạm dừng
xử lý để phục hồi hoạt động doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh giá trị thu hồi,
chi phí, thời gian và khả năng bảo toàn giá trị tài sản. Từ đó, tác giả gợi mở
việc lựa chọn các ưu tiên hoàn thiện pháp luật dựa trên bằng chứng thực tiễn,
hướng tới giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao giá trị
thực tế thu hồi từ quyền tài sản, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng
và phát triển hoạt động kinh doanh.
Toàn cảnh hội thảo
Bình luận về
tham luận của TS. Chu Thị Hoa, TS. Đào Trọng Khôi thể hiện sự quan tâm đến vấn
đề quyền bề mặt và quyền đối với không gian trên và dưới mặt đất khi liên tưởng
đến khái niệm “quyền không gian” (space right). Tuy nhiên, vấn đề ở đây không
phải là không gian vũ trụ, mà là việc xác định quyền đối với các khoảng không
gian gắn với mặt đất và mặt nước, bao gồm cả không gian phía trên và phần không
gian nằm dưới lòng đất.
Sự phát triển
kinh tế – xã hội đặt ra nhiều tình huống pháp lý mới, chẳng hạn việc xây dựng
đường dây tải điện 500KV phía trên mặt đất hoặc các tuyến đường sắt đô thị như
metro đi dưới lòng đất. Trong những trường hợp này, vấn đề cần làm rõ là giới hạn
không gian của quyền sử dụng đất được xác định như thế nào. Trên thực tế, giấy
tờ về quyền sử dụng đất có thể xác định ranh giới thửa đất theo các hướng
ngang, nhưng giới hạn theo chiều cao và chiều sâu cũng như quyền của người sử dụng
đất đối với các khoảng không gian đó cần được nghiên cứu cụ thể hơn. Đây là vấn
đề có mối liên hệ trực tiếp với quyền bề mặt và việc xác lập các quyền tài sản
đối với không gian.
PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa, Chủ nhiệm đề tài
Thảo luận tại
hội thảo, PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa cho rằng, cần làm rõ và phân biệt giữa những
khó khăn xuất phát từ quy định pháp luật và những khó khăn liên quan đến đặc
tính của tài sản cũng như khả năng khai thác giá trị của tài sản trong thực tiễn.
Việc phân biệt rõ các nhóm vấn đề này sẽ giúp xác định đúng bản chất của những
vướng mắc, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phù hợp và có tính khả
thi. Trên cơ sở đó, Chủ nhiệm đề tài gợi mở những vấn đề cần tiếp tục thảo luận
như: Xác định rõ những điểm nghẽn pháp lý thực sự đang cản trở việc khai thác
giá trị tài sản và khả năng chuyển giao các quyền tài sản; nghiên cứu cơ chế
đăng ký và công khai thông tin nhằm bảo đảm tính minh bạch, an toàn và độ tin cậy
của các giao dịch liên quan đến quyền tài sản…
TS. Đào Trọng Khôi (Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)
Tham luận thứ
ba tại hội thảo là của TS. Đào Trọng Khôi có chủ đề “Dữ liệu có tính chất
tài sản và giới hạn của việc tài sản hóa dữ liệu trong pháp luật Việt Nam”.
Tác giả chỉ ra những đặc tính riêng của dữ liệu, đồng thời làm rõ các mâu thuẫn
cần giải quyết giữa bảo vệ quyền riêng tư và khai thác thương mại, phân chia lợi
ích giữa chủ thể tạo lập và chủ thể lưu trữ dữ liệu, cũng như giữa bảo vệ quyền
tài sản và bảo đảm lợi ích cộng đồng. Trên cơ sở phân tích ba mô hình pháp lý gồm
giữ nguyên hiện trạng, xác lập quyền sở hữu dữ liệu và xây dựng quyền dữ liệu
theo hướng không loại trừ, tham luận đánh giá ưu điểm, hạn chế của từng mô hình
trong việc bảo đảm quyền lợi các bên và thúc đẩy khai thác hiệu quả nguồn lực dữ
liệu.
Từ đó, tác giả
đề xuất hoàn thiện nền tảng pháp luật dân sự, xây dựng chính sách thống nhất về
dữ liệu, thiết kế quy chế phù hợp với từng loại dữ liệu và ban hành các quy định
cụ thể về thu thập, xử lý, chuyển giao, kinh doanh dữ liệu, nhằm hài hòa lợi
ích giữa các chủ thể và thúc đẩy phát triển kinh tế số tại Việt Nam.
TS. Chu Thị Thanh An (bìa trái) với tham luận bàn về khả năng tiếp cận cơ chế bảo vệ quyền tài sản của các chủ thể kinh doanh tại Việt Nam
Tác giả của
tham luận cuối là TS. Chu Thị Thanh An (Viện Nhà nước và Pháp luật) với tham luận
bàn về khả năng tiếp cận cơ chế bảo vệ quyền tài sản của các chủ thể kinh doanh
tại Việt Nam, tập trung vào mối quan hệ giữa chi phí bảo vệ quyền, khả năng tiếp
cận các thiết chế pháp lý và tính hữu hiệu của kết quả bảo vệ, đặc biệt đối với
tài sản vô hình, tài sản số và quyền sở hữu trí tuệ. Tác giả chỉ ra ba nhóm rào
cản chủ yếu gồm khó khăn trong xác định quyền và chứng minh hành vi xâm phạm,
chi phí và hạn chế trong quá trình sử dụng cơ chế bảo vệ, cùng những thách thức
trong thực thi kết quả giải quyết tranh chấp.
Thông qua phân
tích các quy định pháp luật, số liệu tham khảo và một số vụ án thực tiễn, báo
cáo nhấn mạnh rằng việc quyền tài sản được pháp luật ghi nhận hoặc có phán quyết
có lợi chưa đồng nghĩa với quyền được bảo vệ hiệu quả trên thực tế. Trên cơ sở
đó, tác giả đề xuất hoàn thiện quy định và hướng dẫn áp dụng pháp luật, nâng
cao hiệu quả thu thập và đánh giá chứng cứ điện tử, phát triển các phương thức
giải quyết tranh chấp phù hợp, tăng cường hỗ trợ pháp lý theo nhu cầu của từng
nhóm chủ thể và theo dõi kết quả thi hành, nhằm giảm chi phí không cần thiết, bảo
đảm công bằng và củng cố niềm tin đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân.
Hội thảo cũng
thu nhận ý kiến trao đổi của ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương. Ông cho rằng, cần thận
trọng khi sử dụng các chỉ số và số liệu để đánh giá chất lượng thể chế, hiệu quả
thực thi pháp luật hoặc khả năng tiếp cận các cơ chế giải quyết tranh chấp. Các
chỉ số có thể cung cấp thông tin tham khảo hữu ích, nhưng cần xem xét phương
pháp xây dựng, phạm vi dữ liệu và đặc điểm của từng loại vụ việc. Chẳng hạn, kết
quả đánh giá trong lĩnh vực phá sản có thể không phản ánh đầy đủ thực tiễn giải
quyết tranh chấp hợp đồng, bởi mỗi lĩnh vực có đặc điểm và yêu cầu khác nhau.
Vì vậy, việc sử dụng số liệu cần đi kèm với phân tích bối cảnh và những giới hạn
của dữ liệu.
Hội thảo cũng đón nhận
những ý kiến trao đổi, thảo luận về các vấn đề khác. Thay mặt Ban Chủ nhiệm đề
tài, PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa cảm ơn sự tham gia nhiệt tình của các đại biểu,
nhà khoa học và các bạn sinh viên và khẳng định sẽ tiếp thu các ý kiến phát biểu
tại hội thảo.