Hội thảo khoa học “Khung chính sách pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới”
Đây là hội thảo cấp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam do Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức ngày 15/9/2026 tại Hội trường tầng 2, trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đồng chủ trì hội thảo là TS. Phạm Thị Hương Lan, Trưởng phòng Phòng Pháp luật Kinh tế và ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật.
Tham dự hội thảo có các đại biểu,
chuyên gia đến từ Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật (Đại học Quốc
gia Hà Nội), Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (Bộ Tài chính), Viện Kinh tế
Việt Nam và Thế giới, Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự cùng đông đảo nhà
khoa học của Viện Nhà nước và Pháp luật.
TS. Phạm Thị Hương Lan phát biểu đề dẫn hội thảo
Phát biểu đề dẫn hội thảo, TS. Phạm
Thị Hương Lan cho rằng, sự phát triển và ứng dụng của các công nghệ mới
đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong đời sống xã hội. Công nghệ không chỉ tạo
ra những phương thức mới để tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin mà còn tác
động trực tiếp đến nhiều quan hệ xã hội, trong đó có những vấn đề liên quan đến
gia đình và đời sống của mỗi cá nhân. Chúng
ta cần nhìn nhận một cách đầy đủ rằng, bên cạnh khả năng hỗ trợ và tạo thuận lợi cho con người, công
nghệ cũng có thể làm phát sinh những cách thức tác động mới mà pháp luật và các
thiết chế hiện hành chưa phải lúc nào cũng có thể xử lý một cách đầy đủ, rõ
ràng.
Khi xem xét những tác động của
công nghệ, chúng ta không chỉ nhìn vào những lợi ích trước mắt mà cần đồng thời
quan tâm đến cơ chế bảo đảm quyền và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan. Điều đó cho thấy nhu cầu tiếp tục
nghiên cứu, nhận diện đầy đủ các vấn đề pháp lý phát sinh và từng bước hoàn thiện
cách thức bảo đảm quyền trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển.
CN. Phạm Anh Bảo trình bày tham luận mở đầu hội thảo
Tham luận mở đầu hội thảo là của ThS.NCS.
Dương Hiểu Phong và CN. Phạm Anh Bảo có chủ đề “Bảo đảm quyền gia nhập thị
trường của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong bối cảnh phát triển khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay”. Bài viết
phân tích cơ sở lý luận và thực trạng bảo đảm quyền gia nhập thị trường của
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (DNKNST) trong bối cảnh khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngày
càng trở thành động lực phát triển kinh tế.
Các tác giả cho rằng,
quyền gia nhập thị trường không chỉ dừng ở việc thành lập doanh nghiệp mà còn
bao gồm khả năng thực hiện các thủ tục đầu tư, đáp ứng điều kiện kinh doanh và
đưa sản phẩm, công nghệ, mô hình kinh doanh mới vào thị trường trong một môi
trường pháp lý minh bạch, dễ dự liệu, linh hoạt và thích ứng.
Pháp luật Việt
Nam đã có những bước tiến tích cực trong việc nhận diện DNKNST, số hóa và rút
ngắn thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đồng thời hình thành một số cơ chế thuận lợi
nhằm thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, quy định về DNKNST chưa thống nhất, thủ tục đầu tư đối
với doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài còn phức tạp, cơ chế ưu đãi chưa được áp
dụng rộng rãi và sự chênh lệch về điều kiện thực thi giữa các địa phương. Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị cần thống nhất khái niệm DNKNST, đơn giản
hóa thủ tục đầu tư có yếu tố nước ngoài, mở rộng các cơ chế tạo thuận lợi và
tăng cường số hóa, chuẩn hóa việc thực thi pháp luật giữa các địa phương, qua
đó tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho DNKNST gia nhập và phát triển trên
thị trường.
PGS.TS. Phan Quốc Nguyên với phần trình bày tham luận "Pháp luật về tài sản trí tuệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật"
Tiếp theo, PGS.TS. Phan Quốc Nguyên
(Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) trình bày tham luận “Pháp
luật về tài sản trí tuệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay: Thực
trạng và định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật”. Bài viết phân tích
vai trò của pháp luật về tài sản trí tuệ trong thúc đẩy ĐMST ở Việt Nam, đồng
thời khái quát khung pháp lý hiện hành liên quan đến sở hữu trí tuệ, khoa học công nghệ, chuyển
giao công nghệ, trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao và chuyển đổi số. Thực tiễn cho
thấy hoạt động tạo lập, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ, đặc biệt
trong các trường đại học, đã có những chuyển biến tích cực, song vẫn còn những
hạn chế trong việc xác định chủ sở hữu, quyền sử dụng và định giá tài sản trí
tuệ.
Bài viết cũng
chỉ ra những bất cập của pháp luật đối với các loại tài sản mới như tài sản số,
AI và Blockchain, cũng như những rào cản trong việc góp vốn, chuyển giao và
thương mại hóa tài sản trí tuệ. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất tăng cường tính
liên kết, đồng bộ của hệ thống pháp luật, bổ sung tiêu chí xác định chủ sở hữu
và người sử dụng tài sản trí tuệ mới, hoàn thiện quy định về quyền sử dụng tài
sản trí tuệ để góp vốn và cụ thể hóa cơ chế định giá, nhất là đối với tài sản
trí tuệ được hình thành từ ngân sách nhà nước.
Bà Phan Thị Thùy Vân (Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia) trao đổi tại hội thảo
Trao đổi tại hội thảo, bà Phan Thị
Thùy Vân (Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, Bộ Tài chính) cho rằng, chúng
ta có thể thấy vai trò và sự tác động của công nghệ, đặc biệt là những công nghệ
mới, đối với đời sống xã hội và gia đình. Việc ứng dụng công nghệ có thể mang lại
nhiều lợi ích, đồng thời cũng đặt ra những vấn đề mới cần được quan tâm và làm
rõ. Đặc biệt, một câu hỏi quan trọng
cần được đặt ra là: Làm
thế nào để bảo đảm được các quyền trong quá trình ứng dụng và phát triển công
nghệ? Đây là một trong những vấn đề cần được tiếp tục trao đổi, bởi việc phát
triển công nghệ phải đồng thời gắn với yêu cầu bảo đảm quyền của các chủ thể có
liên quan.
PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa (Viện Nhà nước và Pháp luật) phát biểu thảo luận
Theo PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa (Viện
Nhà nước và Pháp luật), hiện nay, các trường đại học và cơ sở nghiên cứu
đã tạo ra khá nhiều sản phẩm từ hoạt động nghiên cứu. Trong đó, một số sản phẩm được chuyển
giao, thương mại hóa và trở thành những sản phẩm có giá trị. Tuy nhiên, trong
quá trình này, vẫn còn
những vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng tài sản trí tuệ
cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện. Từ thực tiễn đó, chúng ta cần có những chính sách về sử dụng tài
sản trí tuệ theo hướng cởi mở và phù hợp hơn. Nếu có thể hoàn thiện được cơ chế,
chính sách liên quan đến việc sử dụng và khai thác tài sản trí tuệ thì sẽ góp
phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc chuyển giao, thương mại hóa các kết
quả nghiên cứu.
Luật sư Nguyễn Hưng Quang (Văn phòng Luật sư NHQuang & Cộng sự) trình bày tham luận
Hội thảo tiếp tục lắng nghe Luật sư
Nguyễn Hưng Quang (Văn phòng Luật sư NHQuang & Cộng sự) trình bày tham luận
“Mô hình huy động vốn từ cộng đồng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo: Kinh
nghiệm quốc tế và đề xuất chính sách cho Việt Nam”. Các nền tảng
gọi vốn cộng đồng không chỉ kết nối người có ý tưởng với cộng đồng và nhà đầu
tư mà còn có thể tham gia sàng lọc, đánh giá ý tưởng và hỗ trợ phát triển dự
án. Thực tiễn quốc tế cho thấy gọi vốn cộng đồng có nhiều hình thức như tài trợ,
cho vay và đầu tư, trong khi Việt Nam vẫn còn những khoảng trống và bất cập về
khuôn khổ pháp lý đối với các mô hình này. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện pháp
luật theo hướng tạo không gian cho các mô hình huy động vốn mới, đồng thời quy
định rõ điều kiện hoạt động, trách nhiệm của các bên và cơ chế bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của người tham gia.
ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương trình bày tham luận của mình
Sau đó, ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương
trình bày tham luận “Từ hỗ trợ năng lực đổi mới đến kiến tạo thị trường:
Vai trò của pháp luật mua sắm công trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo”. Bài
viết nhấn mạnh, hỗ trợ
năng lực nghiên cứu, công nghệ chỉ là một phần, còn cần tạo điều kiện để các sản
phẩm, giải pháp mới tiếp cận thị trường và có khách hàng đầu tiên. Thực tiễn
pháp luật Việt Nam đã hình thành khá nhiều cơ chế như ưu đãi đối với doanh nghiệp
và sản phẩm đổi mới, tham vấn thị trường, hỗ trợ thử nghiệm, phương thức đấu thầu
hai giai đoạn và các hình thức lựa chọn phù hợp với công nghệ mới, nhưng các cơ
chế này chưa được liên kết thành một quy trình thống nhất. Kinh nghiệm của Liên
minh Châu Âu và Hàn Quốc
cho thấy, có thể tạo cầu
cho đổi mới thông qua tham vấn thị trường, mô tả yêu cầu theo chức năng, đối
tác đổi mới, công nhận sản phẩm và mua thử.
Tác giả cho rằng, hiệu quả của ưu đãi phụ thuộc
vào đúng vị trí tác động trong chuỗi lựa chọn nhà thầu, bởi một giải pháp mới nếu
bị loại từ khâu yêu cầu kỹ thuật hoặc điều kiện năng lực thì ưu đãi ở bước xếp
hạng sau đó sẽ không còn tác dụng. Vì vậy, cần hoàn thiện sự liên kết giữa tham
vấn thị trường, mô tả yêu cầu, phát triển – thử nghiệm – mua sản phẩm, đồng thời
bảo đảm cạnh tranh, minh bạch, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm giải trình để
mua sắm công thực sự trở thành công cụ kiến tạo thị trường cho ĐMST.
TS. Nguyễn Thu Dung (Viện Nhà nước và Pháp luật) với tham luận về mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Tham luận cuối tại hội thảo là của
TS. Nguyễn Thu Dung (Viện Nhà nước và Pháp luật), “Mô hình hợp tác công
tư trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Thách thức và kiến
nghị hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay”. Bài viết phân
tích vai trò và đặc điểm của hợp tác công – tư trong lĩnh vực khoa học, công
nghệ và ĐMST (STI-PPP),
nhấn mạnh khả năng kết hợp nguồn lực, tri thức, năng lực và chia sẻ rủi ro giữa
Nhà nước với khu vực tư nhân. Tác
giả làm rõ các mô hình STI-PPP, đồng thời chỉ ra những vấn đề pháp lý quan trọng
như phân bổ rủi ro, cân bằng lợi ích công – tư, sự tham gia của doanh nghiệp nhỏ
và vừa, quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế quản trị dự án theo từng giai đoạn.
Về kinh nghiệm quốc tế, chẳng hạn mô hình VINN
Excellence Center của Thụy Điển cho
thấy, cần có cơ chế hợp
tác linh hoạt, đồng đầu tư, quản trị đa bên, đánh giá định kỳ và thỏa thuận rõ
ràng về quyền sở hữu, khai thác kết quả nghiên cứu. Đối với Việt Nam, pháp luật hiện hành đã hình thành nhiều cơ chế
hỗ trợ STI-PPP như chia sẻ rủi ro tài chính, ưu đãi thuế, khai thác tài sản
công cho nghiên cứu và cơ chế chấp nhận rủi ro trong hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).
Tuy nhiên, tác
giả cho rằng, cần tiếp
tục hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường cạnh tranh và đánh giá chuyên
môn độc lập, hướng dẫn rõ về sở hữu trí tuệ, giảm hành chính hóa trong quản trị
và bảo đảm cân bằng giữa lợi ích công với động lực tham gia của khu vực tư
nhân.
TS. Nguyễn Tiến Đức (Viện Nhà nước và Pháp luật) bình luận tại hội thảo
Bình luận tại hội thảo, TS. Nguyễn
Tiến Đức (Viện Nhà nước và Pháp luật) nhìn nhận, có một câu hỏi quan trọng là khó khăn thực
sự nằm ở đâu khi doanh nghiệp đang rất thiếu vốn, trong khi một lượng vốn đáng
kể lại đang “ngủ yên” trong xã hội và chưa tìm được kênh kết nối phù hợp với
nhu cầu của doanh nghiệp. Từ đó, TS. Tiến Đức cho rằng, cần nhìn nhận vai trò của pháp luật như một cây cầu kết nối giữa
cung và cầu, đồng thời tạo ra một hành lang pháp lý đủ an toàn để người dân,
doanh nghiệp và các nhà đầu tư có thể tham gia vào những hoạt động nghiên cứu,
phát triển khoa học, công nghệ và ĐMST. Vì thế, cần
có một cách tiếp cận tổng thể về pháp luật trong lĩnh vực này. Đặc biệt, đối với
doanh nghiệp tư nhân, khi tham gia thị trường, có lẽ cần giảm bớt những quy định
và thủ tục không thực sự cần thiết, để doanh nghiệp có không gian tự chủ và
sáng tạo nhiều hơn.
Phát biểu kết thúc hội thảo, ThS.
Ngô Vĩnh Bạch Dương nhìn nhận, nội dung những tham luận và trao đổi, thảo luận
tại hội thảo đã chỉ ra mấy quan điểm, phát hiện chính. Đầu tiên là điểm nghẽn của
ĐMST ở Việt Nam đang dần chuyển từ câu hỏi “có tạo ra được cái mới hay không”
sang “cái mới có đi được vào nền kinh tế hay không”. Bên cạnh đó, số lượng công
cụ pháp lý không còn là thước đo đầy đủ về chất lượng thể chế của ĐMST. Tư duy
từ ưu đãi chung sang thiết kế thể chế theo chức năng và thiết kế theo rủi ro. Và
cuối cùng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới này không chỉ tài trợ mà còn tạo lập
giao dịch, là người mua, là đối tác đồng đầu tư và là chủ thể kiến tạo thị trường.