image banner
VI | EN
Sinh hoạt khoa học đề tài cơ sở tổ chức ngày 16/7/2026
Ngày 16/7/2026, tại Hội trường tầng 2, trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội, hai đề tài cơ sở thực hiện năm 2026 đã tổ chức báo cáo kết quả nghiên cứu nhằm đón nhận những ý kiến thảo luận, góp ý của các nhà khoa học trong Viện trước khi nghiệm thu. 

Buổi sáng, đề tài cơ sở tiến hành báo cáo kết quả nghiên cứu có tiêu đề “Chính sách pháp luật về khuyến khích tái chế rác thải nhựa tại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” do ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga làm chủ nhiệm. Thành  viên còn lại của đề tài là PGS.TS. Hoàng Kim Khuyên. Chủ trì buổi sinh hoạt khoa học là TS. Phạm Thị Hương Lan.

Anh-tin-bai
ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga báo cáo kết quả nghiên cứu trong  Chương 1 của đề tài

ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga báo cáo về Chương 1 của đề tài với nội dung làm rõ cơ sở lý luận về chính sách pháp luật khuyến khích tái chế rác thải nhựa tại doanh nghiệp, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò của chính sách pháp luật về khuyến khích tái chế rác thải nhựa tại doanh nghiệp, đồng thời phân tích mối quan hệ giữa các khái niệm này trong bối cảnh phát triển kinh tế tuần hoàn. Đề tài khẳng định chính sách pháp luật về khuyến khích tái chế rác thải nhựa có đặc điểm nổi bật là lấy doanh nghiệp làm trung tâm, kết hợp các công cụ pháp lý và kinh tế nhằm tạo động lực đầu tư, đổi mới công nghệ và thúc đẩy phát triển bền vững thay vì chỉ dựa vào cơ chế cưỡng chế.

Tác giả cũng phân tích vai trò của chính sách này trong việc định hướng hành vi thân thiện với môi trường, phát triển thị trường tái chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thực hiện các cam kết quốc tế và hoàn thiện thể chế kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả xác định hai nhóm chính sách trọng tâm cần ưu tiên nghiên cứu là chính sách hỗ trợ tài chính – kinh tế (ưu đãi thuế, tín dụng xanh, mua sắm công xanh...) và chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật, công nghệ tái chế nhằm nâng cao năng lực của doanh nghiệp. Qua đó, chương này xây dựng nền tảng lý luận cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật nhằm thúc đẩy hoạt động tái chế rác thải nhựa tại doanh nghiệp theo hướng xanh, hiện đại và bền vững.

Anh-tin-bai
PGS.TS. Hoàng Kim Khuyên báo cáo kết quả nghiên cứu trong Chương 2 của đề tài

Tọa đàm tiếp tục lắng nghe PGS.TS. Hoàng Kim Khuyên báo cáo kết quả nghiên cứu Chương 2 của đề tài về thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật về khuyến khích tái chế rác thải nhựa tại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Tác giả đưa ra ví dụ về năng lực làm chủ công nghệ lõi qua lăng kính từ Duy Tân Recycling. Doanh nghiệp này đã vận hành thành công dây chuyền tái chế khép kín theo công nghệ Bottle-to-Bottle, đạt chuẩn kiểm định khắt khe của FDA (Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) và được chấp thuận bởi EFSA (Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu). Điều này cho thấy, rào cản lớn nhất đối với ngành tái chế nhựa ở Việt Nam hiện nay không nằm ở năng lực công nghệ của doanh nghiệp mà ở chất lượng của môi trường thể chế và sự thiếu đồng bộ giữa các chính sách pháp luật, từ đó đề tài tập trung phân tích các khoảng trống trong hệ thống chính sách hiện hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Anh-tin-bai
Toàn cảnh buổi sinh hoạt khoa học của đề tài

Đề tài chỉ ra rằng, các chính sách ưu đãi hiện nay chủ yếu dựa trên lĩnh vực đầu tư, chưa gắn với kết quả môi trường nên chưa tạo động lực để doanh nghiệp nâng cao hiệu quả tái chế, trong khi nhiều quốc gia đã chuyển sang cơ chế ưu đãi dựa trên hiệu quả thực tế. Đề tài đồng thời phân tích những bất cập về chi phí giao dịch thể chế, khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh và thị trường đầu ra, nhấn mạnh vai trò của cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), tín dụng xanh và mua sắm công xanh trong việc thúc đẩy phát triển ngành tái chế. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất hoàn thiện chính sách thuế, hỗ trợ công nghệ cốt lõi, xây dựng cơ chế phí môi trường mang tính khuyến khích và thiết lập bộ tiêu chí pháp lý thống nhất để đánh giá hiệu quả tái chế, làm căn cứ thực hiện các chính sách ưu đãi. Thông điệp xuyên suốt là cần chuyển từ tư duy ưu đãi doanh nghiệp chỉ vì tham gia ngành tái chế sang ưu đãi dựa trên giá trị môi trường mà doanh nghiệp tạo ra, qua đó thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển kinh tế tuần hoàn và nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường.

Anh-tin-bai
TS. Phạm Thị Hương Lan bình luận về đề tài

TS. Phạm Thị Hương Lan đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của nhóm nghiên cứu cũng như cách tiếp cận đề tài theo hướng chính sách pháp luật thay vì chỉ phân tích các quy định pháp luật hiện hành. Theo TS. Hương Lan, đây là hướng nghiên cứu phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn hiện nay, khi Nhà nước chuyển mạnh từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị phát triển.

TS. Hương Lan đề xuất nhóm nghiên cứu cần tiếp tục nhấn mạnh hơn bản chất của chính sách pháp luật như là tầng định hướng cho quá trình xây dựng và thực thi pháp luật. Nếu chỉ dừng ở việc phân tích các quy định hiện hành thì đề tài sẽ khó tạo ra giá trị khoa học mới. Điều quan trọng là phải chỉ ra được Nhà nước cần thiết kế các công cụ chính sách nào để thay đổi hành vi của doanh nghiệp, thay vì chỉ đặt ra thêm các nghĩa vụ pháp lý. Đối với khái niệm doanh nghiệp, TS. Hương Lan đồng tình với việc mở rộng phạm vi nghiên cứu, không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp xử lý chất thải mà bao gồm toàn bộ các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị của nhựa, từ sản xuất nguyên liệu, sản xuất sản phẩm, tiêu dùng nguyên liệu tái chế đến thu gom, phân loại và tái chế. Đây là cách tiếp cận phù hợp với bản chất của kinh tế tuần hoàn, trong đó mọi chủ thể trong vòng đời sản phẩm đều có vai trò nhất định đối với hiệu quả tái chế.

Anh-tin-bai
ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương trao đổi về tính mới của đề tài và cách tiếp cận nghiên cứu

Bình luận về đề tài, ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương tập trung trao đổi về tính mới của đề tài và cách tiếp cận nghiên cứu. Trong thời gian qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường hoặc hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải. Vì vậy, nhóm tác giả đề tài cần làm nổi bật sự khác biệt giữa nghiên cứu "hoàn thiện pháp luật về tái chế rác thải nhựa" với nghiên cứu "chính sách pháp luật về khuyến khích tái chế rác thải nhựa". Đây là hai hướng tiếp cận hoàn toàn khác nhau. Ngoài ra, ThS. Bạch Dương đề nghị đề tài nên tiếp cận sâu hơn dưới góc độ kinh tế học thể chế. Theo đó, hoạt động tái chế không đơn thuần là vấn đề môi trường mà là vấn đề phân bổ nguồn lực xã hội. Chính sách pháp luật cần được thiết kế nhằm giảm chi phí giao dịch, tạo động lực đầu tư và bảo đảm lợi ích kinh tế đủ lớn để doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ.

Đề tài cũng nhận được những ý kiến trao đổi, thảo luận của các nhà khoa học về các vấn đề khác liên quan đến chủ đề của đề tài.

Buổi chiều, đề tài thứ hai báo cáo kết quả nghiên cứu có chủ đề “Pháp luật về bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân trong môi trường số” do ThS. Bùi Thị Hường làm chủ nhiệm. ThS. Trần Thị Loan là thành viên của đề tài. Chủ trì buổi sinh hoạt khoa học là TS. Nguyễn Thu Hương.

Anh-tin-bai
ThS. Trần Thị Loan trình bày làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân trong môi trường số

Mở đầu, ThS. Trần Thị Loan trình bày làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân trong môi trường số, từ khái niệm truyền thống “quyền được yên thân” đến quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân trong kỷ nguyên AI. Tác giả phân tích bản chất, đặc điểm của quyền riêng tư và vai trò của việc bảo đảm quyền riêng tư số, nội dung của quyền riêng tư trong môi trường số. Đồng thời, tác giả nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền này thông qua mô hình 4 lớp bổ trợ lẫn nhau: Pháp lý, thể chế - tổ chức, kỹ thuật - công nghệ và cơ chế tự bảo vệ của cá nhân và xã hội.

Về khái niệm, nhóm nghiên cứu cho rằng, pháp luật về bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân trong môi trường số là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ, chia sẻ, chuyển giao và bảo vệ thông tin riêng tư, dữ liệu cá nhân trên môi trường điện tử - nhằm xác lập quyền của chủ thể dữ liệu, xác định nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan, trách nhiệm quản lý nhà nước và chế tài xử lý vi phạm. Về nội dung pháp luật, đề tài hệ thống hóa các quyền của chủ thể dữ liệu, các điều kiện thu thập, xử lý dữ liệu, nghĩa vụ của tổ chức xử lý dữ liệu và các chế tài đối với hành vi vi phạm.

Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra 06 yếu tố tác động đến việc xây dựng và thực thi pháp luật về quyền riêng tư trong bối cảnh chuyển đổi số: (1) Công nghệ; (ii) Kinh tế - thị trường dữ liệu; (iii) Chính tri – an ninh quốc gia; (iv) Văn hóa – xã hội; (v) Hội nhập quốc tế; (vi) Năng lực thể chế và nguồn lực. Trong đó, với công nghệ, AI tạo sinh, big data, blockchain… liên tục làm phát sinh phương thức thu thập mới mà pháp luật chưa dự liệu trước được. Nhưng chính công nghệ (PETs – công nghệ tăng cường quyền riêng tư trong bảo mật dữ liệu) cũng là công cụ hiện thực hóa yêu cầu pháp lý.

Từ những phân tích trên, chuyên đề kết luận quyền riêng tư là quyền nhân thân có tính động, cần được cân bằng với an ninh quốc gia, tự do thông tin và phát triển kinh tế số, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và trong thời gian tới cần ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn để hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền riêng tư ở Việt Nam.

Anh-tin-bai
Chủ nhiệm đề tài, ThS. Bùi Thị Hường phân tích thực trạng bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân trong môi trường số tại Việt Nam

Tiếp theo, ThS. Bùi Thị Hường phân tích thực trạng bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân trong môi trường số tại Việt Nam, làm rõ quá trình phát triển của hệ thống pháp luật từ các quy định nền tảng trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 đến Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các văn bản chuyên ngành mới, qua đó từng bước hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư. Nội dung cũng đánh giá việc thực thi pháp luật trên thực tế, cho thấy nhận thức và mức độ tuân thủ của cơ quan, doanh nghiệp và người dân đã được nâng lên nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế như tình trạng rò rỉ, mua bán dữ liệu cá nhân, nguy cơ từ AI, IoT, Deepfake và việc người dùng thiếu ý thức bảo vệ thông tin của mình. Tác giả chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành, bao gồm việc chưa thống nhất khái niệm quyền riêng tư, quy định về “quyền được lãng quên” còn chưa đầy đủ, phạm vi giới hạn quyền còn rộng và chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ số.

Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, lấy con người làm trung tâm, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân trong nền kinh tế số. Đồng thời, đề tài kiến nghị xây dựng các quy định cụ thể về quyền xóa dữ liệu, kiểm soát hoạt động giám sát số, bổ sung chế tài đối với các hành vi xâm phạm quyền riêng tư, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp cũng như tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật. Qua đó, nhóm tác giả khẳng định, bảo đảm quyền riêng tư là nền tảng quan trọng để xây dựng môi trường số an toàn, thúc đẩy chuyển đổi số bền vững và bảo vệ quyền con người trong kỷ nguyên số.

Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Tiến Đức phát biểu góp ý cho đề tài

Tại phiên thảo luận, phát biểu góp ý cho đề tài, TS. Nguyễn Tiến Đức cho rằng, phần lý luận cần được làm dày hơn nữa, cần làm nổi bật lên tầm quan trọng của quyền riêng tư, quyền riêng tư là của ai, đặt trong mối quan hệ với ai. Bởi lẽ luôn có những chủ thể có xu hướng lạm dụng. Vì thế, quyền riêng tư là không gian an toàn cho cá nhân có sự tự chủ, tự đưa ra quyết định của mình mà không bị can thiệp bởi các yếu tố bên ngoài. TS. Nguyễn Tiến Đức nhìn nhận, đề tài đã đóng góp về mặt học thuật khi đưa ra được khung phân tích về quyền riêng tư đặt trong môi trường số với các yếu tố bao gồm thư tín, điện thoại, “chỗ ở” của cá nhân trên môi trường số.

Bên cạnh đó, theo TS. Nguyễn Tiến Đức, phần trình bày của ThS. Bùi Thị Hường đưa ra góc nhìn về quyền riêng tư rộng hơn khi không đồng nhất với quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trên thực tế, quyền này có liên quan đến nhiều đạo luật như Luật Bảo vệ trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Các tổ chức tín dụng và một đạo luật nữa chưa được đề tài đánh giá về mối tương quan với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân là Luật Bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh đầu năm 2026, Zalo và Tiktok đã bị Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia áp dụng điều luật của Luật Bảo vệ người tiêu dùng nhắc nhở, xử phạt chứ không phải từ điều luật của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Anh-tin-bai
TS. Lê Thương Huyền (đứng) chia sẻ thông tin thực tế với nhóm nghiên cứu đề tài

TS. Lê Thương Huyền chia sẻ thông tin thực tế về thực hiện Báo cáo chuyển dữ liệu cá nhân qua biên giới (DTIA) khi nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam không muốn làm hoặc chưa biết cách làm. Báo cáo này vì chưa nhận thức được tầm quan trọng của nó dù mức phạt không hề nhỏ, nhất là với các công ty có sử dụng người nước ngoài hoặc tư vấn cho cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Ngoài ra, đề tài còn nhận được các ý kiến trao đổi, thảo luận của TS. Phạm Thị Hương Lan, ThS. Nguyễn Thanh Tùng, ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương và các nhà khoa học khác.

Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1