Sinh hoạt khoa học Đề tài cơ sở “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về điều chỉnh pháp luật đối với thị trường hàng hóa phái sinh ở Việt Nam”
Viện Nhà nước và Pháp luật tiếp tục tổ chức buổi sinh hoạt khoa học vào ngày 13/7/2026 tại Hội trường tầng 2, trụ sở 27 Trần Xuân Soạn để báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài cơ sở “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về điều chỉnh pháp luật đối với thị trường hàng hóa phái sinh ở Việt Nam”.
Đề tài do
ThS. Phạm Thị Hiền làm chủ nhiệm, hai thành viên của đề tài là TS. Chu Thị
Thanh An và TS. Nguyễn Thu Dung. Người chủ trì buổi sinh hoạt khoa học là TS.
Phạm Thị Hương Lan, Trưởng phòng Phòng Pháp luật Kinh tế.
Đề tài bao
gồm 03 nội dung chính:
- Những vấn đề lý luận về điều chỉnh pháp luật đối với thị
trường hàng hóa phái sinh ở Việt Nam;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp
luật điều chỉnh thị trường hàng hóa phái sinh ở Việt Nam;
- Khuyến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh thị trường
hàng hóa phái sinh ở Việt Nam hiện nay.
ThS. Phạm Thị Hiền (bên phải), Chủ nhiệm đề tài và TS. Chu Thị Thanh An, thành viên đề tài
Ở nội dung
thứ nhất, ThS. Phạm Thị Hiền làm rõ quá trình hình thành, khái niệm, đặc
điểm, vai trò của thị trường hàng
hóa phái sinh cũng như sự cần thiết phải có một khuôn khổ pháp lý chuyên
biệt để quản lý lĩnh vực này. Hàng hóa phái sinh là các công cụ tài chính được thể hiện dưới
dạng hợp đồng, có giá trị phụ thuộc vào sự biến động giá của một loại hàng hóa
cơ sở. Các công cụ này bao gồm chủ yếu hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp
đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi. Đặc điểm nổi bật của hàng hóa phái sinh
là các bên giao dịch không nhất thiết phải sở hữu hàng hóa cơ sở tại thời điểm
xác lập hợp đồng; giá trị của hợp đồng được xác định và biến động theo giá của
hàng hóa cơ sở cho đến khi hợp đồng được thực hiện hoặc thanh toán.
Thị
trường hàng hóa phái sinh có tính chất đặc thù khi kết hợp giữa hoạt động
thương mại hàng hóa và hoạt động tài chính, đồng thời vận hành trên các cơ chế
như ký quỹ, thanh toán bù trừ, quản lý vị thế và đòn bẩy tài chính. Chính những
đặc điểm này làm phát sinh rủi ro đối tác, rủi ro hệ thống, nguy cơ thao túng
giá và lạm dụng thị trường nếu thiếu cơ chế điều tiết phù hợp. Vì vậy, pháp luật
cần thiết lập khuôn khổ điều chỉnh nhằm bảo đảm thị trường thực hiện đúng chức
năng phòng hộ rủi ro, duy trì tính minh bạch, công bằng và ổn định của thị trường.
Mục
tiêu của pháp luật không phải là hạn chế sự phát triển của thị trường mà là xây
dựng một khuôn khổ pháp lý minh bạch, an toàn và hiệu quả. Theo đó, pháp luật cần
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường; kiểm
soát và hạn chế rủi ro; phòng ngừa gian lận và thao túng giá; đồng thời tạo điều
kiện để thị trường phát huy các chức năng phòng hộ giá, xác lập giá và hỗ trợ
phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là những nội dung
được trình bày trong Dự thảo Tờ trình Chính
sách của Dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh do
Bộ Công Thương chủ trì xây dựng ở nước ta hiện nay.
Trong
bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số, pháp luật cần chuyển từ tư duy quản lý giao
dịch sang quản lý rủi ro, tăng cường giám sát bằng công nghệ, thúc đẩy đổi mới
sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường hàng hóa phái sinh Việt
Nam. Trên cơ sở đó, đề tài
xác định pháp luật điều chỉnh thị trường hàng hóa phái sinh là hệ thống quy phạm
liên ngành, kết hợp giữa pháp luật thương mại và tài chính để điều chỉnh toàn
diện hoạt động giao dịch, quản trị rủi ro, giám sát và quản lý nhà nước. Cuối
cùng, tác giả đề xuất nội dung pháp luật nên được cấu trúc thành bốn nhóm chính
sách gồm: Tạo lập thị
trường, vận hành thị trường, bảo đảm tính toàn vẹn của thị trường và hội nhập
quốc tế, qua đó hình thành khuôn khổ pháp lý toàn diện, minh bạch, an toàn và
phù hợp với thông lệ quốc tế.
TS. Nguyễn Thu Dung trình bày nội dung thứ hai của đề tài
Tiếp theo,
TS. Nguyễn Thu Dung trình bày tóm tắt nội dung thứ hai của đề tài. Tác giả phân
tích thực trạng phát triển của thị trường hàng hóa phái sinh ở Việt Nam,
trong đó nhấn mạnh vai trò của Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), sự gia
tăng về quy mô giao dịch và xu hướng liên thông với các sở giao dịch quốc tế, đồng
thời chỉ ra những hạn chế về thanh khoản, sản phẩm và hàng hóa cơ sở. Đề tài hệ thống hóa khung
pháp luật hiện hành điều chỉnh thị trường hàng hóa phái sinh, bao gồm Luật
Thương mại năm 2005, các nghị định, thông tư hướng dẫn (Nghị định số 158/2006/NĐ-CP, Nghị định số 51/2018/NĐ-CP,
Thông tư số 15/2023/TT-BCT…) và phân tích các quy định về sở giao dịch,
hàng hóa cơ sở, sản phẩm phái sinh, thanh toán bù trừ, quản lý rủi ro, thành
viên giao dịch và giao nhận hàng hóa.
Tác giả đồng thời chỉ ra nhiều bất cập của pháp luật hiện
hành như sự nhầm lẫn giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai, quy định chưa
đầy đủ về thành viên môi giới, cơ chế giao dịch còn hạn chế và hệ thống giám
sát thị trường chưa hiện đại, làm giảm hiệu quả vận hành và sức hấp dẫn của thị
trường.
TS. Nguyễn
Thu Dung cũng phân tích nguyên nhân khiến thị trường phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng, đặc biệt là chất lượng và tính minh bạch của hàng hóa
cơ sở còn thấp, sản phẩm giao dịch chưa đa dạng, doanh nghiệp tham gia phòng ngừa
rủi ro còn ít và thị trường vẫn phụ thuộc nhiều vào các sở giao dịch nước
ngoài. Từ đó, tác giả
kiến nghị hoàn thiện Luật về giao dịch hàng hóa phái sinh theo hướng xây dựng
khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế; phát triển
hàng hóa cơ sở, đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường ứng dụng công nghệ trong giám
sát và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy thị trường phát triển bền
vững.
Sau đó, tọa
đàm lắng nghe TS. Chu Thị Thanh An phân tích kinh nghiệm quốc tế về điều chỉnh pháp
luật đối với thị trường hàng hóa phái sinh và gợi mở cho Việt Nam. Tác giả lựa
chọn ba quốc gia để tìm hiểu là Malaysia, Singapore và Hoa Kỳ, những quốc gia có
những thành công nhất định trong việc điều chỉnh pháp luật theo nhóm chính sách
mà đề tài đã nêu ở nội dung thứ nhất. Trong đó, Malaysia là một ví dụ thành công
trong việc tạo lập thị trường từ một ngành hàng vật chất đặc trưng là dầu cọ. Hợp
đồng tương lai dầu cọ thô (FCPO) đã được đưa vào giao dịch từ những năm 1980 và
dần trở thành giá tham chiếu quan trọng trong thương mại dầu cọ quốc tế. Pháp
luật Malaysia về tạo lập thị trường có các quy định về cấp phép thị trường với đạo
luật điều chỉnh thị trường hàng hóa phái sinh là đạo luật về thị trường vốn và
dịch vụ (CMSA) năm 2007. Đạo luật này đặt hoạt động phái sinh trong khuôn khổ
thống nhất của thị trường vốn.
Quang cảnh buổi sinh hoạt khoa học
Việc hợp nhất
thị trường vốn và dịch vụ nằm trong sự quản lý của Ủy ban Chứng khoán Malaysia.
Theo đạo luật CMSA, việc phê chuẩn của Sở giao dịch phái sinh phụ thuộc vào khả
năng của tổ chức đề nghị hình thành thị trường có trật tự, công bằng, có khả năng
quản lý, có hành động vì lợi ích công cộng, bảo vệ nhà đầu tư, xử lý thành viên
vi phạm đồng thời duy trì các nguồn lực tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất và công
nghệ. Các tiêu chí này cho thấy mối liên hệ giữa tạo lập thị trường và năng lực
vận hành. Ngoài ra, cơ chế phê chuẩn dựa trên các tiêu chí này còn giúp hạn chế
nguy cơ tạo lập thị trường bằng một quyết định hành chính, trong đó Sở giao dịch
được thành lập trước khi xác định rõ sản phẩm, nhóm người sử dụng và thanh khoản.
Về việc phê
duyệt sản phẩm, Ủy ban Chứng khoán Malaysia là cơ quan đầu mối phê duyệt quy tắc
và sản phẩm. Hàng hóa cơ sở cần được tham vấn cơ quan ngành hàng. Về hạ tầng
giao nhận, như đã giới thiệu, từ bài học của sản phẩm cơ sở là dầu cọ thô với hợp
đồng tương lai dầu cọ dần trở thành giá tham chiếu trong thương mại dầu cọ quốc
tế, việc chuẩn hóa quy mô, chất lượng, thời gian giao hàng, địa điểm giao nhận đã
làm giảm chi phí thương lượng riêng lẻ đồng thời cho phép nhu cầu của nhiều chủ
thể tập trung vào cùng một hợp đồng. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành thanh
khoản.
Từ những
nghiên cứu trên, tác giả đưa ra một số gợi mở cho Việt Nam. Trong việc chọn hàng
hóa cơ sở, quy mô thị trường vật chất cần phải đủ lớn; chất lượng có thể tiêu
chuẩn hóa; dự đoán được giá biến động để từ đó thiết kế phòng ngừa rủi ro và
nguồn cung có thể giao nhận đủ rộng. Về hệ sinh thái hỗ trợ tạo lập thị trường,
cần có cơ chế phê duyệt dựa trên dữ liệu ngành hàng; có các tiêu chuẩn liên
quan đến kho, kiểm định, chứng từ, địa điểm giao nhận; trung gian hiểu chuỗi ngành
hàng và đo được hiệu quả bằng hội tụ giá và phòng ngừa rủi ro. Nội dung khuyến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật điều chỉnh thị trường hàng hóa phái sinh ở
Việt Nam sẽ được các thành viên đề tài sớm thống nhất và hoàn thiện.
TS. Phạm Thị Hương Lan
phát biểu góp ý cho đề tài
Trao đổi tại
tọa đàm, theo TS. Phạm Thị Hương Lan, đề tài cần làm rõ nội dung pháp luật điều
chỉnh về thị trường hàng hóa phái sinh. Hiện nay, các doanh nghiệp ở Việt Nam đã
tham gia thị trường này rồi, với sự điều chỉnh bằng luật của Nghị định số
158/2006/BCT và một số thông tư. Tuy nhiên, vẫn cần có các quy định được đưa lên
thành luật. Vì thế, đề tài phải nghiên cứu rõ, cụ thể hơn nữa thị trường này cần
được pháp luật điều chỉnh như thế nào.
ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương trao đổi tại buổi sinh hoạt khoa học
Đề tài cũng
đón nhận ý kiến của ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương. Ông cho rằng, về thực trạng pháp
luật, ngoài việc bàn về Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 158/2006/NĐ-CP,
Nghị định số 51/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 158/2006/NĐ-CP và một số thông
tư liên quan mà thành viên đề tài đã tìm hiểu thì hiện không còn văn bản quy phạm
nào để nêu ra nữa. Trên thực tế, nhu cầu của thị trường là có nhưng chưa có đủ luật
để điều chỉnh. Đó chính là lý do Dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh rất được
quan tâm không chỉ từ giới tài chính học mà còn từ giới kinh tế học thể chế và đặc
biệt là các doanh nghiệp lớn. Đề tài cũng nên tìm hiểu về hoạt động của Sở Giao
dịch hàng hóa và Cục Quản lý thị trường trong nước (Bộ Công Thương) trong 3 năm
qua để có thêm nguồn tài liệu tham khảo.