Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức sinh hoạt khoa học ngày 07/7/2026 để báo cáo kết quả nghiên cứu của 02 đề tài cơ sở thực hiện năm 2026.
Đề tài đầu
tiên báo cáo kết quả nghiên cứu do ThS. Lê Thị Hồng Xuân làm chủ nhiệm, có tiêu
đề “Chính sách pháp luật hình sự đối với các tội phạm trong lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh, thương mại”. Hai thành viên còn lại của đề tài là
ThS. Nguyễn Ngọc Mai và TS. Trần Tuấn Minh.
ThS. Lê Thị Hồng Xuân báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài
Mở đầu,
ThS. Lê Thị Hồng Xuân tập trung trình bày những vấn đề lý luận về chính
sách pháp luật hình sự đối với các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh, thương mại, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa và nội dung cơ
bản của chính sách này. Nhóm tội phạm được xác định là các hành vi xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế, có tính chất vụ lợi, phương thức thực hiện ngày càng tinh
vi, có sự tham gia của cả cá nhân và pháp nhân thương mại, gây ảnh hưởng đến
môi trường kinh doanh và quyền lợi người tiêu dùng. Tác giả cũng làm rõ chính sách pháp luật
hình sự hiện hành theo hướng phân hóa trách nhiệm giữa cá nhân và pháp nhân
thương mại, đẩy mạnh nội luật hóa các cam kết quốc tế, tăng cường phân định
ranh giới giữa xử lý hành chính và hình sự, đồng thời khuyến khích khắc phục hậu
quả.
Bên cạnh đó, chính sách hình phạt được định hướng theo xu hướng
"kinh tế hóa", ưu tiên phạt tiền, thu hồi tài sản, hạn chế áp dụng
hình phạt tù trong những trường hợp phù hợp và tạo cơ chế miễn hoặc giảm trách
nhiệm hình sự đối với chủ thể tích cực khắc phục hậu quả.
Tiếp theo,
ThS. Nguyễn Ngọc Mai đi vào phân tích thực trạng và thực tiễn thực hiện chính sách pháp luật
hình sự đối với nhóm tội phạm này qua các giai đoạn lập pháp. Tác giả khái quát quá trình
phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam từ trước năm 1985 đến Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cho thấy xu hướng thu hẹp phạm vi hình sự
hóa, tôn trọng quyền tự do kinh doanh và định lượng hóa rõ ràng ranh giới giữa
vi phạm hành chính với tội phạm.
Toàn cảnh buổi tọa đàm
Đề tài
cũng phân tích các quy định hiện hành về nhóm tội buôn lậu, hàng cấm, hàng giả,
đầu cơ, quảng cáo gian dối và lừa dối khách hàng, đồng thời minh họa bằng nhiều
vụ án điển hình xảy ra trong giai đoạn 2023
– 2025. ThS. Nguyễn Ngọc Mai nhấn mạnh, việc lần đầu tiên Nhà nước ghi nhận pháp
nhân thương mại là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự đã tăng cường hiệu quả đấu tranh với
các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh. Về hình phạt, chính sách hiện
nay chuyển mạnh từ việc tước tự do sang tước lợi ích kinh tế thông qua tăng mức
phạt tiền, đình chỉ hoạt động và các biện pháp thu hồi tài sản nhằm bảo đảm
tính răn đe và phòng ngừa. Thực tiễn áp dụng cho thấy, công tác phát hiện, điều tra và xử lý
các tội phạm kinh tế đã đạt nhiều kết quả tích cực nhờ cơ chế phối hợp giữa các
cơ quan chức năng và việc thích ứng với các phương thức phạm tội trên môi trường
số. Tuy nhiên, đề tài
cũng chỉ ra nhiều khó khăn như chồng lấn trong định tội, vướng mắc về trách nhiệm
hình sự của pháp nhân, bất cập trong giám định, định giá tài sản, xử lý vật chứng
và thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Những hạn chế này chủ yếu xuất phát từ
các quy định tố tụng và thiếu hướng dẫn áp dụng thống nhất, làm ảnh hưởng đến
hiệu quả xử lý các vụ án kinh tế phức tạp.
Trên cơ sở đó, chuyên đề khẳng định, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách
pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng, nâng cao hiệu quả thực thi, bảo đảm môi
trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tăng cường an
ninh kinh tế trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số.
Ba thành viên của đề tài (từ trái sang): TS. Trần Tuấn Minh, ThS. Nguyễn Ngọc Mai, ThS. Lê Thị Hồng Xuân
Trong
chuyên đề cuối, TS. Trần Tuấn Minh phân tích xu hướng gia tăng của tội
phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và thương mại ở Việt Nam theo hướng
ngày càng tinh vi, có tổ chức, dịch chuyển sang môi trường số và gắn với tài sản
mã hóa, từ đó đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách pháp luật hình sự. Từ đó, tác giả đề xuất năm
yêu cầu và ba định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng cân bằng giữa khoan hồng
với sai phạm kinh tế thuần túy và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại sức khỏe cộng
đồng, đồng thời mở rộng chế tài kinh tế, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản và
hoàn thiện trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Cuối cùng, tác giả kiến
nghị bốn nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi, bao gồm: Tháo gỡ điểm nghẽn giám định
tư pháp và định giá tài sản; nâng cao chất lượng đội ngũ và cơ chế phối hợp liên ngành; hiện
đại hóa biện pháp nghiệp vụ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đồng thời xây dựng cơ
chế phòng ngừa tội phạm từ sớm thông qua cải cách thể chế, nâng cao văn hóa
tuân thủ pháp luật và hiện đại hóa công tác quản lý.
Trong đó, để hiện đại hóa biện pháp nghiệp vụ
thì cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn nhằm rà soát dòng tiền bất minh, phát hiện
giao dịch thương mại điện tử có dấu hiệu trốn thuế, kinh doanh hàng giả trực
tuyến. Việc đẩy mạnh hợp tác
quốc tế cũng cần được coi trọng, thông qua việc ký kết, thực hiện hiệu
quả các hiệp định tương trợ tư pháp hình sự, tập trung vào chia sẻ chứng cứ điện
tử, dẫn độ và phong tỏa, tịch thu tài sản tẩu tán ra nước ngoài.
PGS.TS. Phạm Thị Thúy Nga phát biểu góp ý cho đề tài
Góp ý cho đề
tài, PGS.TS. Phạm Thị Thúy Nga cho rằng, về mặt lý luận, đề tài cần làm rõ tiêu
chí, căn cứ để xác định nhóm đối tượng là tội phạm trong lĩnh vực sản xuất,
kinh doanh, thương mại. Đề tài cũng nhận được những trao đổi, thảo luận về các
vấn đề: Công cụ để lượng hóa tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi; chế
tài tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự; triết lý nào để phân chia, xác định
giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính…
Đề tài thứ
hai báo cáo kết quả nghiên cứu có chủ đề “Tái cơ cấu bộ máy hành chính
nhà nước ở trung ương trong kỷ nguyên mới ở Việt Nam” do ThS. Nguyễn Thị
Hưng làm chủ nhiệm. Các thành viên đề tài gồm ThS. Nguyễn Thanh Tùng, ThS. Nguyễn
Lê Dân, ThS. Lê Phương Hoa và ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương.
ThS. Nguyễn Thanh Tùng trình bày kết quả nghiên cứu chuyên đề “Nhận thức lý luận về tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương”
Đầu tiên,
ThS. Nguyễn Thanh Tùng trình bày kết quả nghiên cứu của chuyên đề “Nhận thức
lý luận về tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương”. Tác giả
nhìn nhận tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương là quá
trình sắp xếp, đổi mới tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động nhằm
xây dựng nền hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển
trong kỷ nguyên mới. Quá trình này hướng đến chuyển đổi từ mô hình quản lý hành
chính truyền thống sang quản trị hiện đại dựa trên công nghệ số, đồng thời bảo
đảm các nguyên tắc tinh gọn tổ chức, phân công, phân cấp hợp lý, tăng cường phối
hợp và trách nhiệm giải trình giữa các cơ quan nhà nước. Việc đánh giá mô hình tổ chức bộ máy hành chính
trung ương dự trên 06 tiêu chí cốt lõi: (i) Rõ chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền; (ii) Cơ cấu tinh gọn, hợp lý; (iii) Hiệu quả vận hành và thực
thi chính sách; (iv) Sử dụng hiệu quả nguồn lực công; (v) Trách nhiệm gải trình
và và kiểm soát quyền lực; (vi) Khả năng thích ứng và phản ứng chính sách.
Trong đó, việc thích ứng và phản ứng chính sách thể hiện qua việc cần linh hoạt
trước chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các thách thức mới trong bối cảnh khoa
học công nghệ phát triển, đổi mới liên tục.
Về những
yêu cầu và bối cảnh mới đặt ra đối với việc tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước
ở trung ương, ThS. Nguyễn
Thanh Tùng nhấn mạnh,
tác động của chuyển đổi số, toàn cầu hóa, yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại và
kỳ vọng ngày càng cao của người dân, doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ
công. Trên cơ sở đó, đề tài
chỉ ra sự cần thiết phải đánh giá toàn diện mối quan hệ giữa cải cách tổ chức bộ
máy với cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản trị và khắc phục những bất cập còn tồn tại trong quá trình vận
hành bộ máy. Từ đó, đề tài
khẳng định tái cơ cấu bộ máy hành chính cần được thực hiện theo hướng tinh gọn,
hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, đồng thời gắn với
đổi mới thể chế, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức để đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.
ThS. Nguyễn Lê Dân phân tích thực trạng tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương và đánh giá tác động trong kỷ nguyên mới
Tiếp theo,
ThS. Nguyễn Lê Dân phân tích thực trạng tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở
trung ương và đánh giá tác động trong kỷ nguyên mới. Tác giả nhấn mạnh
xu hướng xây dựng mô hình quản trị hiện đại thông qua tinh gọn tổ chức, hợp nhất
các bộ đa ngành, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và tăng cường điều phối liên
ngành nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Quá trình tái cơ cấu
đã thúc đẩy đổi mới phương thức vận hành trên nền tảng chuyển đổi số, mở rộng
phân cấp, phân quyền, tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu và nâng cao chất lượng
cung ứng dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp. Đề tài cũng chỉ ra những kết quả tích cực
như giảm đầu mối tổ chức, nâng cao trách nhiệm giải trình, cải thiện năng lực
hoạch định chính sách và xây dựng nền hành chính kiến tạo, phục vụ. Tuy nhiên,
quá trình triển khai vẫn còn nhiều thách thức như khó khăn trong giai đoạn chuyển
tiếp sau sáp nhập, sự chồng lấn ở các lĩnh vực mới, hạ tầng dữ liệu chưa đồng bộ
và yêu cầu đổi mới tư duy, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức. Trên cơ sở
đó, ThS. Nguyễn Lê Dân nhận
định, việc tiếp tục
hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đẩy mạnh chuyển
đổi số là những điều kiện quan trọng để xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp,
hiện đại, liêm chính và phục vụ Nhân dân trong kỷ nguyên mới.
Toàn cảnh buổi sinh hoạt khoa học của đề tài "Tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương trong kỷ nguyên mới ở Việt Nam"
Đề tài cũng
tìm hiểu, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế với các quốc gia được lựa chọn là Nhật
Bản, Trung Quốc, Singapore và Cộng hòa Pháp. Phần này do ThS. Lê Phương Hoa thực
hiện. Trong đó, tại Cộng hòa Pháp, tiến trình tái cơ cấu bộ máy hành chính trung ương Pháp giai
đoạn 2007 -
2012 dưới sự soi chiếu từ báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế OECD là
một bài học sâu sắc về tính đồng bộ trong quản trị công. Nó chứng minh rằng, một
cuộc cải cách tổ chức cấu trúc thượng tầng (thành lập siêu bộ) chỉ có thể thành
công khi được liên kết mạch lạc với sự tái cấu trúc bộ máy thực thi ở địa
phương (liên ngành hóa), được thúc đẩy bằng kỷ luật nhân sự nghiêm ngặt và phải được cân bằng bằng
một cơ chế đối thoại xã hội phù hợp để đảm bảo tính bền vững của toàn bộ hệ
thống.
Các thành viên còn lại của đề tài (từ phải sang): ThS. Nguyễn Thị Hưng, ThS. Lê Phương Hoa, ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương
Từ việc
phân tích những vấn đề lý luận, thực trạng tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước
ở trung ương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế, ThS. Nguyễn Thị Hưng đưa ra một
số định hướng tiếp tục tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương trong
kỷ nguyên mới, đó là:
- Tiếp
tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức các bộ, cơ quan ngang bộ theo nguyên tắc quản lý
đa ngành, đa lĩnh vực;
- Xây dựng Chính phủ số và Chính phủ
kiến tạo phát triển;
- Hoàn thiện thể chế; tiếp tục đẩy mạnh
phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính;
- Tái
cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu quản trị hiện đại.
Sau đó, ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương đề xuất các nhóm giải
pháp chính
để tiếp tục tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà
nước ở trung ương ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới, trong đó nhóm giải pháp về nhận
thức bao gồm: (i) Tiếp tục thống nhất việc tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà
nước ở trung ương là quá trình thiết kế và hoàn thiện năng lực quản trị, không
chỉ là sắp xếp tổ chức; (ii) Chuyển đổi tư duy quản lý tổ chức sang tư duy quản
trị chức năng và chuỗi chính sách; (iii) Thống nhất nhận thức về mô hình bộ quản
lý đa ngành, đa lĩnh vực; (iv) Thay đổi nhận thức về chuyển đổi số trong tái cơ
cấu bộ máy; (v) Đề cao quản trị theo kết quả và trách nhiệm giải trình; (vi) Nhận thức đầy đủ về yêu cầu ổn
định tổ chức và quản trị giai đoạn chuyển tiếp.
TS. Nguyễn Thu Dung (bên phải) và TS. Phạm Thị Hương Lan trao đổi, góp ý cho đề tài
Trao đổi tại tọa đàm, TS. Nguyễn
Thu Dung băn khoăn, trên thực tế có nhiều lĩnh vực có sự giao thoa về thẩm quyền
giữa các Bộ khác nhau. Vậy khi có sự chồng chéo về thẩm quyền như vậy thì có cơ
chế nào để xác định đâu là cơ quan chịu trách nhiệm chính.
Thảo luận góp ý cho đề tài, TS. Phạm
Thị Hương Lan cho rằng, việc tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương
không có nghĩa là tái cơ cấu về mặt cơ học mà cần xem xét toàn diện xem chức
năng, nhiệm vụ các cơ quan của Chính phủ đã hợp lý, hoàn thiện chưa. Ngoài ra,
đề tài nên có sự tìm hiểu về việc tái cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước ở trung
ương có mối quan hệ và tác động thế nào đến cơ quan thực hiện quyền lập pháp
cũng như cơ quan thực hiện quyền tư pháp.