Nghị quyết số 05-NQ/TW và những vấn đề đặt ra đối với hoạt động nghiên cứu ở Viện Nhà nước và Pháp luật
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của ThS. Mai Thị Minh Ngọc (Viện Nhà nước và Pháp luật). Bài viết phân tích những yêu cầu của Nghị quyết số 05-NQ/TW đối với hoạt động nghiên cứu tại Viện Nhà nước và Pháp luật, nhấn mạnh việc gắn nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, tăng cường nghiên cứu liên ngành, dự báo và chủ động nhận diện các vấn đề về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, chuyển đổi số và hoàn thiện pháp luật. Từ đó, bài viết đề xuất đổi mới nội dung, phương thức nghiên cứu và tăng cường chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành luận cứ khoa học, tư vấn chính sách, góp phần xây dựng, hoàn thiện thể chế và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Nghị quyết số 05-NQ/TW về đổi
mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng được Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành tại Hội nghị lần thứ hai ngày 07/4/2026. Nghị quyết ra đời trong
bối cảnh yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực và nâng cao năng lực quản lý, quản trị quốc gia đặt ra ngày càng cao.
Một nội dung có ý nghĩa đặc
biệt đối với các cơ quan nghiên cứu là Nghị quyết đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng
kết thực tiễn, đồng thời hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng về kiểm tra,
giám sát và kỷ luật đảng. Nghị
quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật của
Nhà nước nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, liên thông trong kiểm tra, giám sát,
kiểm soát quyền lực và xử lý vi phạm.
Đối với Viện Nhà nước và
Pháp luật – một cơ quan nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam – những yêu cầu trên đặt ra không chỉ đối với một lĩnh vực nghiên
cứu cụ thể mà còn đối với phương thức
tổ chức nghiên cứu, lựa chọn vấn đề nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và chuyển
hóa kết quả nghiên cứu thành luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách,
xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
1. Nghị quyết số 05-NQ/TW đặt ra yêu cầu mới đối với
nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn
Nghị quyết số 05-NQ/TW xác định nghiên cứu lý luận và
tổng kết thực tiễn là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tiếp tục hoàn
thiện hệ thống quy định về kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Điều đáng quan
tâm là nghiên cứu lý luận không được tách rời tổng kết thực tiễn; hơn nữa, kết
quả nghiên cứu phải được đặt trong mối quan hệ với yêu cầu hoàn thiện thể chế
và giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
Yêu cầu này đòi hỏi tiếp tục đổi mới phương thức
nghiên cứu theo hướng gắn kết chặt chẽ hơn nữa giữa nghiên cứu lý luận, nghiên cứu chính sách pháp luật và tổng kết thực tiễn. Thực tế cho thấy, khoa học pháp lý
không chỉ dừng lại ở việc bình luận, giải thích các quy định pháp luật hiện
hành mà cần chủ động nhận diện những vấn đề mới phát sinh trong tổ chức, hoạt động
của Nhà nước, trong kiểm soát quyền lực và trong quá trình vận hành của hệ thống
pháp luật.
Trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện mô hình
chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và
quản trị dựa trên dữ liệu ngày càng phát triển, nhiều mối quan hệ xã hội và
phương thức thực thi quyền lực mới xuất hiện. Điều đó đòi hỏi hoạt động nghiên
cứu Nhà nước và pháp luật phải có khả năng nhận diện sớm các vấn đề pháp lý mới,
dự báo những nguy cơ phát sinh và cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình hoạch
định chính sách.
2. Đổi mới nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn,
nhận diện sớm các vấn đề cần được nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn luôn có quan
hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Lý luận giúp nhận diện bản chất, quy
luật và những vấn đề có tính phổ quát, ngược lại thực tiễn là cơ sở để kiểm
nghiệm lý luận, phát hiện những điểm chưa phù hợp và bổ sung những nhận thức mới. Đổi mới nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn
là một yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm lý luận không xa rời cuộc sống, đồng thời
thực tiễn được soi sáng và định hướng bằng lý luận.
Chính vì thế, yêu cầu này đối với Viện Nhà nước và
Pháp luật càng có ý nghĩa bởi hoạt động nghiên cứu của Viện không chỉ hướng tới
các công trình học thuật mà còn góp ý xây dựng pháp luật, trực tiếp tham gia tư
vấn chính sách, cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan Đảng, Nhà nước.
Trong thời gian qua, thực tiễn hoạt động của Viện cho
thấy định hướng này đã được chú trọng. Chỉ tính riêng năm 2025, Viện đã tham
gia góp ý 119 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, chuẩn bị gần 100 hồ sơ góp ý
cho các phiên họp Chính phủ, đồng thời triển khai nhiều nhiệm vụ nghiên cứu về
cơ chế thi hành pháp luật, nhà nước pháp quyền trong bối cảnh chuyển đổi số,
dân chủ và quyền con người.
Từ yêu cầu của Nghị quyết số 05-NQ/TW, vấn đề đặt ra
là cần tiếp tục nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn, coi đây không chỉ là một
khâu của nhiệm vụ nghiên cứu mà là phương
thức phát hiện vấn đề nghiên cứu.
Tổng kết thực tiễn cần đi sâu tìm hiểu nguyên nhân của
những bất cập trong xây dựng và thi hành pháp luật; nhận diện các mô hình, cách
làm hiệu quả; đánh giá tác động thực tế của các chính sách; đồng thời phát hiện
những vấn đề mới cần được nghiên cứu, thử nghiệm hoặc điều chỉnh bằng chính
sách và pháp luật.
3. Nghiên cứu phải bám sát những vấn đề thực tiễn đang
đặt ra, theo hướng chủ động, phòng ngừa và cảnh báo sớm
Hiện nay, quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp,
phân quyền, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần
hoàn và những thay đổi trong phương thức quản trị đặt ra những yêu cầu mới đối
với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Nghị quyết số 05-NQ/TW quan
tâm nhiều đến những vi phạm mới ngày càng tinh vi, thậm chí khó dự đoán, đồng
thời yêu cầu đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát theo hướng chủ động, phòng
ngừa và cảnh báo sớm.
Điều đó đặt ra yêu cầu quan trọng đối với hoạt động
nghiên cứu tại Viện Nhà nước và Pháp luật là phải xuất phát từ thực tiễn vận
hành của Nhà nước và đời sống pháp luật. Cụ thể, nghiên cứu phải nhận diện được vấn đề trước khi vấn đề đó trở
thành điểm nghẽn lớn của thể chế.
Nghiên cứu không chỉ trả lời câu hỏi quy định pháp luật
hiện hành như thế nào, mà quan trọng hơn là phải tiếp tục trả lời những câu hỏi:
Quy định pháp luật đó được thực hiện đến đâu? Có phù hợp với thực tiễn không?
Nguyên nhân nào xuất hiện tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, khoảng trống pháp
luật? Cơ chế kiểm soát quyền lực có thực sự phát huy hiệu quả không? Những vấn
đề mới nào đang hình thành và cần được pháp luật điều chỉnh? Trách nhiệm của
các chủ thể được xác định rõ ràng chưa? Đây chính là sự chuyển biến từ nghiên cứu cái đang có sang nghiên cứu cái
đang vận động và cái sẽ xuất hiện.
4. Nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước cần được
đặt ở vị trí trọng tâm, tăng cường kiểm soát ngay từ đầu, chuyển mạnh sang
phòng ngừa, cảnh báo vi phạm
Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm
tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực là một trong những mục tiêu quan trọng
được Nghị quyết số 05-NQ/TW xác định. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu đổi mới
phương pháp kiểm tra, giám sát, tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát ngay
từ đầu, chuyển mạnh sang phòng ngừa, cảnh báo vi phạm và kiểm tra, giám sát
trên dữ liệu.
Đây là một trong những hướng có ý nghĩa trực tiếp đối
với hoạt động nghiên cứu của Viện Nhà nước và Pháp luật. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hệ thống. Cụ thể từ kiểm
soát trong nội bộ từng cơ quan nhà nước đến kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; từ kiểm soát bằng pháp luật đến các cơ chế
kiểm tra, giám sát của Đảng, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính
trị - xã hội và Nhân dân.
Một vấn đề cần được quan tâm là làm thế nào để các cơ
chế kiểm soát quyền lực vận hành đồng bộ, bổ trợ cho nhau, vừa bảo đảm hiệu quả
kiểm soát quyền lực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, vừa bảo đảm nguyên tắc pháp
quyền, vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể chịu sự kiểm tra,
giám sát.
Từ góc độ nghiên cứu, đây là lĩnh vực cần có sự kết hợp
giữa nghiên cứu lý luận về nhà nước pháp quyền với nghiên cứu thể chế và khảo
sát thực tiễn tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước.
5. Tăng cường nghiên cứu pháp luật về phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và trách nhiệm giải trình, chuyển mạnh từ tư duy
“xử lý vi phạm” sang kết hợp giữa phòng ngừa – cảnh báo – phát hiện sớm – xử lý
– khắc phục hậu quả
Nghị quyết số 05-NQ/TW đặt công tác kiểm tra, giám sát
trong mối quan hệ chặt chẽ với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực; đồng thời yêu cầu tập trung vào những lĩnh vực trọng yếu,
nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm.
Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện
pháp luật về phòng ngừa và xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm soát tài
sản, thu nhập; thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; trách nhiệm của
người đứng đầu; trách nhiệm giải trình và công khai, minh bạch trong hoạt động
công vụ.
Đối với Viện Nhà nước và Pháp luật, cần chú trọng hơn
nữa những nghiên cứu có khả năng nhận diện nguyên nhân thể chế của tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thay vì
chỉ nghiên cứu cơ chế xử lý sau khi vi phạm đã xảy ra.
Theo hướng này, nghiên cứu pháp luật cần chuyển mạnh từ
tư duy “xử lý vi phạm” sang kết hợp giữa phòng ngừa – cảnh báo – phát hiện sớm – xử lý – khắc phục hậu quả,
qua đó góp phần hoàn thiện cơ chế quản trị nhà nước theo hướng minh bạch, trách
nhiệm và hiệu quả.
6. Làm rõ mối quan hệ giữa kỷ luật đảng và pháp luật của
Nhà nước
Một trong những yêu cầu đáng chú ý của Nghị quyết số
05-NQ/TW là kết hợp việc hoàn thiện quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát và kỷ
luật đảng với rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật nhà nước. Qua đó, bảo
đảm đồng bộ, thống nhất, liên thông và khắc phục chồng chéo, khoảng trống, bất
cập giữa kỷ luật đảng và pháp luật nhà nước. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn sâu sắc đối với nghiên cứu trong lĩnh vực Nhà nước và pháp luật.
Trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ
hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý
và Nhân dân làm chủ; giữa các quy định của Đảng với pháp luật nhà nước;
giữa trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trước tổ chức đảng với trách nhiệm pháp
lý trước Nhà nước.
Một hướng nghiên cứu quan trọng là nhận diện những trường
hợp một hành vi vi phạm đồng thời có thể làm phát sinh trách nhiệm về Đảng và
trách nhiệm pháp lý theo quy định của Nhà nước. Từ đó, nghiên cứu cơ chế phối hợp,
chia sẻ thông tin, xử lý và khắc phục hậu quả nhằm bảo đảm tính thống nhất,
minh bạch, chặt chẽ của hệ thống thể chế. Đây cũng là lĩnh vực mà nghiên cứu
khoa học pháp lý có thể đóng góp trực tiếp vào quá trình rà soát, hoàn thiện
pháp luật theo yêu cầu của Nghị quyết số 05-NQ/TW.
7. Nâng cao khả năng dự báo của nghiên cứu, chủ động
nhận diện những rủi ro
Hoạt động nghiên cứu nếu chỉ tập trung tổng kết những
gì đã xảy ra thì kết quả nghiên cứu mới chủ yếu có giá trị giải thích. Trong
khi đó, yêu cầu của hoạch định chính sách hiện nay đòi hỏi khoa học phải có khả
năng cảnh báo và dự báo.
Nghị quyết số 05-NQ/TW yêu cầu đổi mới phương thức kiểm
tra, giám sát theo hướng chủ động phòng ngừa, cảnh báo vi phạm; tăng cường giám
sát trên dữ liệu và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Từ yêu cầu đó có thể đặt ra một định hướng tương tự đối
với nghiên cứu Nhà nước và pháp luật: Không
chờ đến khi xuất hiện bất cập rõ ràng mới nghiên cứu, mà cần chủ động nhận diện
những rủi ro thể chế ngay từ khi chúng mới hình thành.
Chẳng hạn, quá trình chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ
nhân tạo đang tạo ra hàng loạt vấn đề mới về quản trị dữ liệu, trách nhiệm của
cơ quan nhà nước, quyết định hành chính dựa trên thuật toán, bảo vệ quyền con
người, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Những vấn đề này cần được nghiên cứu
trước khi khoảng trống pháp lý trở thành trở ngại đối với phát triển.
Đặc biệt, cần tăng cường khả năng dự báo pháp lý. Nghiên cứu không chỉ trả
lời câu hỏi “pháp luật hiện hành quy định như thế nào?” mà cần trả lời cả những
câu hỏi: “Pháp luật còn thiếu gì?”, “những nguy cơ nào có thể phát sinh?”, “thể chế nào cần được thiết kế trước để phòng
ngừa?”, và “chính sách nào sẽ phù hợp
với yêu cầu phát triển trong tương lai?”.
Vì vậy, nghiên cứu khoa học của Viện Nhà nước và Pháp
luật cần tăng cường các nghiên cứu có tính dự báo, nghiên cứu những vấn đề mới,
vấn đề khó và những vấn đề có khả năng trở thành chính sách trong tương lai.
8. Đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành và nghiên cứu dựa
trên dữ liệu, chuyển mạnh từ phương thức bị động sang chủ động
Nghị quyết số 05-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ
kiểm tra, giám sát theo phương thức bị động sang chủ động; tăng cường giám sát
thường xuyên, giám sát trên dữ liệu và ứng dụng công nghệ số trong công tác kiểm
tra, giám sát. Những thay đổi này cũng gợi mở yêu cầu đổi mới phương pháp
nghiên cứu khoa học pháp lý.
Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu truyền thống, cần
tăng cường nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu thực chứng, khảo sát thực tiễn,
phân tích dữ liệu và đánh giá tác động của chính sách, pháp luật. Đối với những
vấn đề phức tạp liên quan đến quản trị quốc gia, kiểm soát quyền lực, chuyển đổi
số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và quản lý xã hội, nghiên cứu pháp luật cần được
đặt trong mối liên hệ với kinh tế học, chính trị học, xã hội học, quản trị công
và khoa học dữ liệu.
Kiểm soát quyền lực không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn
liên quan đến tổ chức chính trị, quản trị công, kinh tế, xã hội và hành vi của
các chủ thể. Chuyển đổi số trong Nhà nước cũng không chỉ đặt ra câu hỏi về quy
phạm pháp luật mà còn liên quan đến công nghệ, dữ liệu, an ninh, đạo đức và quyền
con người.
Do đó, nghiên cứu của Viện cần tiếp tục phát huy thế mạnh
của nghiên cứu liên ngành, chủ động kết hợp khoa học pháp lý với chính trị học,
xã hội học, kinh tế học, hành chính công và các lĩnh vực khoa học khác.
Đồng thời, cần quan tâm hơn đến nghiên cứu dựa trên dữ liệu. Dữ liệu
có thể cung cấp những bằng chứng quan trọng cho việc đánh giá hiệu quả của
chính sách và pháp luật. Việc khai thác dữ liệu không thay thế nghiên cứu lý luận.
Ngược lại, dữ liệu thực tiễn giúp kiểm nghiệm các giả thuyết khoa học, nâng cao
độ tin cậy của chúng tốt hơn.
9. Tăng cường chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành luận
cứ chính sách
Một vấn đề quan trọng khác đặt ra từ Nghị quyết số
05-NQ/TW là yêu cầu nâng cao hơn nữa giá
trị sử dụng của sản phẩm nghiên cứu.
Đối với một viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Nhà
nước và Pháp luật, sản phẩm nghiên cứu không nên chỉ dừng ở công trình khoa học,
bài báo hay báo cáo tổng kết. Giá trị quan trọng hơn là khả năng cung cấp luận
cứ cho quá trình xây dựng chính sách và hoàn thiện pháp luật. Cách tiếp cận này
sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên
cứu khoa học và hoạch định chính sách, đồng thời nâng cao vai trò của Viện
trong tư vấn chính sách.
Thực tiễn của Viện trong những năm qua cho thấy hoạt động
này đã có nền tảng đáng kể. Viện từng được giao chủ trì nghiên cứu về cơ chế kiểm
soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp…
đồng thời triển khai nhiều nhiệm vụ nghiên cứu và tư vấn chính sách có tính chất
quan trọng.
10. Một số nghiên cứu cần ưu tiên theo tinh thần
Nghị quyết số 05-NQ/TW
Từ những yêu cầu của Nghị quyết số 05-NQ/TW, trong thời
gian tới, Viện Nhà nước và Pháp luật có thể cân nhắc, ưu tiên một số hướng
nghiên cứu sau:
Một là, nghiên cứu
về kiểm soát quyền lực nhà nước và cơ chế phòng ngừa lạm quyền.
Hai là, nghiên cứu
về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện đổi mới tổ chức
bộ máy và quản trị quốc gia.
Ba là, nghiên cứu
mối quan hệ giữa quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, nhất là trong kiểm
soát quyền lực và xử lý trách nhiệm.
Bốn là, nghiên cứu
hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và trách
nhiệm giải trình.
Năm là, nghiên cứu
tác động của chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo đối với tổ chức quyền lực
nhà nước và hệ thống pháp luật.
Sáu là, tăng cường
nghiên cứu dự báo và tư vấn chính sách, bảo đảm kết quả nghiên cứu của Viện
không chỉ có giá trị về mặt học thuật mà còn có khả năng chuyển hóa thành các đề
xuất chính sách, pháp luật cụ thể.
Bảy là, tăng cường
tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và những lĩnh vực có tác động lớn đến quyền lực
công.
Kết luận
Nghị quyết số 05-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu đổi mới,
nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng mà còn đặt ra những
vấn đề có ý nghĩa rộng hơn đối với quá trình hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền
lực và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đối với Viện Nhà nước và Pháp luật, Nghị quyết là một
gợi mở quan trọng để tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức nghiên cứu, tăng
cường sự gắn kết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, giữa nghiên cứu
pháp luật với nghiên cứu chính sách, giữa nghiên cứu hiện trạng với dự báo và
kiến nghị hoàn thiện thể chế.
Trong thời gian tới,
việc tập trung nghiên cứu những vấn đề về kiểm soát quyền lực, mối quan hệ giữa
kỷ luật đảng và pháp luật nhà nước, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,
trách nhiệm giải trình và đổi mới quản trị quốc gia sẽ góp phần thực hiện tốt
vai trò cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế và
tổ chức thực hiện pháp luật ở Việt Nam.
(ThS. Mai Thị Minh Ngọc, Viện Nhà nước và Pháp luật)