Kinh tế sáng tạo góp phần mục tiêu tăng trưởng hai con sổ ở Việt Nam: Góc nhìn từ thể chế
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của TS. Nguyễn Thu Dung (phòng Pháp luật Kinh tế, Viện Nhà nước và Pháp luật). Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ do Chi bộ Viện Nhà nước và Pháp luật giao nhằm tuyên truyền về Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công 05 năm giai đoạn 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.
Tóm tắt
Bài viết tiếp cận vai trò
của kinh tế sáng tạo đối với mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số của
Việt Nam giai đoạn 2026 – 2030 từ góc độ thể
chế, vai trò của thể chế đối với hiệu quả kinh tế. Bài viết cho rằng, khoảng
cách giữa tiềm năng văn hóa – sáng tạo và giá trị kinh tế thực tế của Việt Nam
chủ yếu bắt nguồn từ các điểm nghẽn thể chế như
pháp luật còn phân tán, thực thi quyền sở hữu trí tuệ chưa hiệu quả, thiếu công
cụ tài chính cho tài sản vô hình và bộ máy thực thi pháp luật yếu, hơn là do thiếu tài nguyên sáng tạo. Trên cơ sở rà
soát các nghị quyết của Bộ Chính trị (các Nghị quyết số 57-NQ/TW, 66-NQ/TW,
68-NQ/TW và 80-NQ/TW); Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15; Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15 và quá
trình lập pháp đối với dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, bài viết luận
giải các cơ chế pháp lý có
thể hỗ trợ chuyển hóa dư địa của kinh tế sáng tạo
thành đóng góp thực chất cho tăng trưởng hai con số, từ đó đề xuất các khuyến nghị cụ thể.
Từ khóa: kinh tế sáng tạo, kinh tế thể chế, tăng
trưởng hai con số, công nghiệp văn hóa, sở hữu trí tuệ, tài sản số, Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết Đại hội XIV của
Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở
lên.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, giới chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã thống nhất rằng các động lực tăng trưởng
mới như khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số có thể giúp GDP tăng thêm khoảng 2,8–3,7 điểm phần trăm mỗi năm,
và bài học lớn nhất rút ra là tăng trưởng cao phải đi cùng năng lực thực thi.
Nói cách khác, vấn đề trung tâm không còn là xác định động lực tăng trưởng, mà
là năng lực thể chế để chuyển hóa động lực đó thành kết quả.
Việt Nam sở hữu nguồn tài
nguyên văn hóa phong phú, dân số trẻ, tốc độ số hóa nhanh và lực lượng sáng tạo
dồi dào, nhưng đóng góp thực tế của khu vực công nghiệp văn hóa – sáng tạo vào
GDP hiện chỉ khoảng 3%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu chính sách (7% GDP vào
năm 2030 theo Nghị quyết số 80-NQ/TW) ,. Bài viết này đặt câu hỏi: dưới góc nhìn
thể chế, đâu là những điểm nghẽn khiến công nghiệp văn hóa – sáng tạo Việt Nam chưa chuyển hóa được tiềm năng thành giá trị
kinh tế, và cải cách thể chế nào có thể giúp khu vực này đóng góp thực chất vào
mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kinh tế sáng tạo là khái
niệm rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực từ thiết kế, phần mềm, quảng cáo đến kiến
trúc và nội dung số; trong đó, công nghiệp văn hóa –
sáng tạo - nơi giá trị kinh tế dựa đáng kể vào tri
thức, sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ là bộ phận cấu thành của kinh tế sáng tạo, đồng thời cũng là bộ phận có chủ trương,
chính sách, số liệu thống kê và văn bản pháp luật được xây dựng rõ nét nhất tại
Việt Nam hiện nay. Do vậy, trong phạm vi bài viết này, ngành công nghiệp văn
hóa và sáng tạo được lấy làm ví dụ điển hình để nghiên cứu về kinh tế sáng tạo.
Tỷ lệ đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào GDP. Ảnh: Website Bộ VH-TT-DL
2. Khung pháp lý đang
định hình cho kinh tế sáng tạo Việt Nam
2.1. Các nghị quyết
của Bộ Chính trị
Giai đoạn 2024–2026, Bộ
Chính trị đã ban hành các nghị quyết được xem là những trụ cột thể chế cho phát
triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong đó ba nghị quyết có liên hệ trực tiếp
đến kinh tế sáng tạo. Nghị
quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định đây là đột phá chiến lược
hàng đầu, là động lực chủ yếu để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh
tranh quốc gia, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày
30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đặt mục tiêu đến
năm 2030 có hệ thống pháp luật dân chủ, đồng bộ, minh bạch, khả thi, “mở đường
cho kiến tạo phát triển”, đồng thời yêu cầu năm 2025 cơ bản hoàn thành việc
tháo gỡ các điểm nghẽn do quy định pháp luật.
Nghị quyết thừa nhận thực trạng tư duy xây dựng pháp luật còn thiên về quản lý,
chất lượng một số quy định còn chồng chéo, thủ tục hành chính còn rườm rà – đây cũng là những điểm nghẽn được ghi
nhận trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày
4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân xác định kinh tế tư nhân là động lực
quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, với quan điểm “Đảng lãnh đạo, Nhà
nước kiến tạo, doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể”.
Nghị quyết yêu cầu rà soát, hoàn thiện và thực thi hiệu quả quy định pháp luật
về bảo vệ quyền sở hữu tài sản, trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô
hình; xây dựng chính sách hỗ trợ định giá, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; áp dụng
chế tài nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, đặc biệt trên không
gian thương mại điện tử; và bảo đảm thực hiện trực tuyến toàn trình thủ tục xác
lập quyền sở hữu công nghiệp. Đây là những nội dung thể chế cơ bản đối với
doanh nghiệp kinh tế sáng tạo, vốn là các doanh nghiệp có tài sản chủ yếu là
tài sản trí tuệ.
2.2. Quy định pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ và tài sản
số
Bên cạnh các nghị quyết mang
tính chủ trương, từ cuối năm 2025 đến đầu năm 2026, khung pháp luật thực định
điều chỉnh trực tiếp tài sản trí tuệ và tài sản số của khu vực kinh tế sáng tạo
đã có hai thay đổi quan trọng.
Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số 131/2025/QH15) được Quốc hội
khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/4/2026.
Đáng chú ý đối với kinh tế sáng tạo, Luật bổ sung Điều 8a về quản lý, khai thác
quyền sở hữu trí tuệ, lần đầu tiên cho phép chủ thể quyền sử dụng quyền sở hữu
trí tuệ trong các giao dịch dân sự, thương mại, góp vốn, thế chấp; bổ sung Điều
11b về chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ, nhấn mạnh phát triển hạ tầng số,
cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong quản lý quyền; đồng thời sửa đổi Điều
205 theo hướng cho phép Tòa án ấn định mức bồi thường thiệt hại khi không thể
xác định thiệt hại thực tế, với mức tối đa không quá 1 tỷ đồng. Đây là những
thay đổi thể chế trực tiếp hướng tới giải quyết một phần các điểm nghẽn về thị
trường hóa tài sản trí tuệ và thực thi quyền.
Thứ hai, Luật Công nghiệp
công nghệ số (Luật số 71/2025/QH15), được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025 và
có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, lần đầu tiên xác lập khung pháp lý chuyên ngành
về công nghiệp công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và tài sản số. Chương V của Luật
định nghĩa tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể
hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác
thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử (Điều 46), đồng thời quy định về
phân loại và nội dung quản lý tài sản số (Điều 47, Điều 48). Đối với kinh tế
sáng tạo – lĩnh vực mà nội dung số, dữ liệu và các sản phẩm sáng tạo số đang là
cấu phần tăng trưởng nhanh – việc lần đầu tiên có một khung pháp lý xác định rõ
khái niệm và cơ chế quản lý tài sản số có ý nghĩa quan trọng, dù hiệu quả thực thi trên thực tế còn cần thời gian
kiểm chứng, do cả hai đạo luật vừa nêu mới bắt đầu có hiệu lực trong năm 2026.
2.3. Quy định pháp luật điều chỉnh đối
với công nghiệp
văn hóa – sáng tạo
Song song với các quy định pháp luật điều chỉnh
chung, Việt Nam đang xây dựng chính sách, pháp luật chuyên biệt cho công nghiệp văn hóa – sáng tạo. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ
Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới đặt mục tiêu đến
năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành 5–10
thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, và đến năm 2045 công nghiệp văn
hóa, kinh tế sáng tạo phấn đấu đóng góp khoảng 9% GDP. Trước đó, Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp
văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045, lần đầu tiên đưa công nghiệp văn hóa và
sáng tạo vào vị trí chiến lược trong cơ cấu phát triển kinh tế quốc gia. Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội khóa XVI về phát triển văn hóa Việt Nam,
được thông qua tại Kỳ họp thứ nhất, gồm 13 điều với 10 nhóm chính sách cụ thể,
trong đó có nội dung hình thành các mô hình cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn
hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa, kèm theo các chính sách ưu đãi về mặt bằng sản
xuất, kinh doanh và thuế.
Về tiến trình xây dựng dự án
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – với vai
trò cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam –
đã tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đối với hồ sơ dự thảo Luật trong tháng 8/2026,
nhằm kịp trình Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội theo đúng tiến
độ. Ngày 15/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 237/NQ-CP về việc bổ
sung dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vào Chương trình lập pháp năm
2026 của Quốc hội. Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị
quyết số 18/2026/UBTVQH16 điều chỉnh Chương trình lập pháp năm 2026, chính thức
bổ sung dự án Luật để trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 2
(tháng 10/2026) theo trình tự, thủ tục rút gọn. Theo cơ quan chủ trì soạn thảo,
việc xây dựng Luật xuất phát từ ba yêu cầu: thể chế hóa kịp thời chủ trương tại
Nghị quyết số 80-NQ/TW; ứng phó với xu hướng tái cấu trúc của công nghiệp văn
hóa toàn cầu theo hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và khai thác tài sản trí tuệ;
và thúc đẩy chuyển hóa di sản, vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ và
sản phẩm sáng tạo có giá trị thương mại. So với giai đoạn trước – khi Luật mới
dừng ở chủ trương giao xây dựng – đây là bước tiến thể chế cụ thể, có giá trị pháp
lý rõ ràng về lộ trình ban hành.
Nhiều điểm đến của Việt Nam trở nên nổi tiếng trên bản đồ du lịch thế giới khi là bối cảnh quay của các bộ phim. Ảnh: Website Bộ VH-TT-DL
3. Điểm nghẽn thể chế đối
với kinh tế sáng tạo Việt Nam
Thứ nhất, thể chế và pháp
luật chưa đồng bộ, quản lý nhiều đầu mối. Các ngành công nghiệp văn hóa – sáng
tạo hiện liên quan đến nhiều bộ, ngành (Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Khoa học
và Công nghệ; Tài chính…) nhưng thiếu cơ quan điều phối đủ thẩm quyền, dẫn đến
khoảng trống pháp lý và chồng chéo trách nhiệm. Trong khi đó, mặc dù Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú nhưng
giá trị kinh tế chưa tương xứng, với điểm nghẽn nằm ở những mắt xích chưa liền
mạch trong chuỗi giá trị: sáng tạo có, thị trường có, nhưng giá trị gia tăng
không tương xứng.
Thứ hai, thực thi quyền sở
hữu trí tuệ còn yếu, dù khung pháp lý đã có cải thiện đáng kể. Về mặt số lượng,
năm 2025 cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp tiếp nhận 183.700 đơn
đăng ký quyền sở hữu công nghiệp (tăng 20,4%), cấp 83.000 văn bằng bảo hộ (tăng
54,6%),
phản ánh nhu cầu bảo hộ tài sản trí tuệ tăng nhanh. Tuy nhiên, về mặt thực thi,
tình trạng vi phạm bản quyền trong một số lĩnh vực (ví dụ âm nhạc số) vẫn ở mức
cao. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ
số 131/2025/QH15 mới có hiệu lực từ 1/4/2026 nên hiệu quả thực thi trên thực tế
– đặc biệt là các quy định mới về bồi thường thiệt hại tại Điều 205 – còn cần
thời gian kiểm chứng. Khoảng cách giữa số lượng đăng ký và mức độ thực thi hiệu
quả cho thấy điểm nghẽn thể chế không chỉ nằm ở việc ban hành quy định, mà còn
ở năng lực tổ chức thực thi quy định.
Thứ ba, thiếu công cụ tài
chính – tín dụng phù hợp với đặc thù tài sản trí tuệ. Doanh nghiệp sáng tạo
phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa với tài sản chủ yếu là bản quyền, thương
hiệu, dữ liệu – những tài sản trước đây khó được chấp nhận làm tài sản thế chấp
ngân hàng, trong khi Việt Nam cũng chưa có thị trường định giá tài sản trí tuệ
chuyên nghiệp. Điều 8a Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi năm 2025) đã chính thức cho
phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong các giao dịch góp vốn, thế chấp, qua đó
tháo gỡ một phần rào cản pháp lý. Tuy nhiên, khoảng cách giữa việc “được phép
về mặt pháp lý” và việc “được chấp nhận trên thực tế” bởi hệ thống tổ chức tín
dụng, thị trường định giá và các quy định hướng dẫn thi hành vẫn là một điểm
nghẽn thể chế điển hình, đòi hỏi Chính phủ sớm ban hành các văn bản hướng dẫn
cụ thể.
Thứ tư, thiếu hệ thống thống
kê và đo lường chuẩn hóa. Việt Nam hiện chưa có thống kê chính xác, nhất quán
về tỷ trọng đóng góp GDP hay tốc độ tăng trưởng hằng năm của công nghiệp văn
hóa – sáng tạo theo chuẩn mực quốc tế. Bộ chỉ
tiêu thống kê chuyên ngành hiện vẫn đang trong quá trình xây dựng và hoàn
thiện. Đây không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật thống kê mà là một điểm nghẽn thể
chế: nếu một thị
trường thiếu thông tin đáng
tin cậy có thể làm tăng chi phí giao dịch cho nhà đầu tư
và làm giảm chất lượng hoạch định chính sách.
4. Cơ chế thể chế tác
động đến mục tiêu tăng trưởng hai con số
Có thể thấy, cải cách thể chế trong lĩnh vực kinh tế
sáng tạo không còn
là sự lựa chọn nữa mà là hướng đi bắt buộc, góp phần quan trọng cho cho
mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam giai đoạn 2026–2030.
Cơ chế thứ nhất là giảm chi
phí giao dịch, tăng niềm tin đầu tư. Thể chế, môi trường pháp lý minh bạch,
nhất quán và được thực thi nghiêm sẽ giảm chi phí giao dịch và rủi ro pháp lý,
qua đó khuyến khích đầu tư dài hạn. Nghị quyết số 68-NQ/TW yêu cầu hoàn thiện
hệ thống pháp luật, xóa bỏ rào cản tiếp cận thị trường, bảo đảm môi trường kinh
doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp, đồng
thời đặt mục tiêu cụ thể là trong năm 2025 cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý
thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật và ít nhất 30% điều
kiện kinh doanh. Khi áp dụng cho lĩnh vực sáng tạo – vốn có đặc thù giao dịch
quyền sở hữu trí tuệ thường xuyên và xuyên biên giới – việc giảm chi phí giao
dịch có tác động đặc biệt lớn đến quyết định đầu tư của cả doanh nghiệp trong
nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Cơ chế thứ hai là kích hoạt
tài sản trí tuệ và tài sản số thành nguồn lực tài chính, qua đó nâng cao năng
suất các nhân tố tổng hợp. Điểm nghẽn lớn nhất trong mô hình tăng trưởng hiện
nay của Việt Nam là năng suất lao động, bình quân giai đoạn 2021–2025 chỉ tăng
khoảng 5,2%/năm, thấp hơn mục tiêu đề ra.
Với việc Điều 8a Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) chính thức thừa nhận quyền sở
hữu trí tuệ có thể dùng trong giao dịch góp vốn, thế chấp, và Luật Công nghiệp
công nghệ số xác lập khung pháp lý cho tài sản số, các tiền đề pháp lý cho việc
kích hoạt tài sản vô hình thành nguồn vốn đã bước đầu được thiết lập. Nếu các
văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành kịp thời và hệ thống tổ chức tín dụng
thích ứng hiệu quả, nguồn vốn cho khu vực kinh tế sáng tạo sẽ được khơi thông,
cho phép doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào thiết kế, thương hiệu và nội dung số –
chuyển hóa cải cách thể chế thành tăng năng suất, nền tảng của chất lượng tăng
trưởng mà mục tiêu hai con số đòi hỏi, thay vì chỉ dựa vào mở rộng đầu tư.
Cơ chế thứ ba là giữ lại giá
trị gia tăng trong nền kinh tế nội địa. Một phần đáng kể doanh thu từ nội dung
số của Việt Nam hiện chảy ra nước ngoài qua các nền tảng công nghệ quốc tế,
trong khi năng lực đàm phán và bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo trong nước
còn hạn chế. Việc hoàn thiện thể chế bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ
trên môi trường số – theo các quy định mới về chuyển đổi số hoạt động sở hữu
trí tuệ tại Điều 11b Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) – kết hợp với chiến lược
phát triển nền tảng nội dung số trong nước theo Luật Công nghiệp công nghệ số,
là điều kiện để phần giá trị gia tăng lớn hơn được giữ lại trong nước thay vì
bị hút ra ngoài, qua đó đóng góp trực tiếp hơn vào GDP.
Nền tảng Google Arts & Culture - bách khoa toàn thư về văn hóa và nghệ thuật toàn cầu chứng kiến sự góp mặt của Bát Tràng Museum. Đây cũng là bảo tàng đầu tiên tại Việt Nam được xuất hiện trên nền tảng nghệ thuật số hóa của Google. Ảnh: Internet
5. Khuyến nghị
Một là, bảo đảm tiến độ và
chất lượng xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa để trình Quốc hội thông
qua tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026) như định hướng tại Nghị quyết số 237/NQ-CP
và Nghị quyết số 18/2026/UBTVQH16, theo hướng một đạo luật thúc đẩy thị trường,
thay vì thiên về quản lý, kiểm soát. Trong quá trình hoàn thiện dự thảo, cần
làm rõ định nghĩa pháp lý về công nghiệp văn hóa, cơ chế phối hợp liên ngành,
và các công cụ ưu đãi thuế – tài chính đặc thù cho lĩnh vực sáng tạo, phù hợp
với tinh thần “mở đường cho kiến tạo phát triển” của Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Hai là, khẩn trương ban hành
văn bản hướng dẫn thi hành Điều 8a, Điều 11b Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) và
các quy định về tài sản số tại Luật Công nghiệp công nghệ số, trong đó cần có
cơ chế định giá tài sản trí tuệ chuyên nghiệp, tiêu chí và quy trình để tổ chức
tín dụng chấp nhận tài sản trí tuệ, tài sản số làm tài sản bảo đảm, cùng các
quỹ đầu tư mạo hiểm với vốn mồi từ ngân sách nhà nước – cụ thể hóa định hướng
của Nghị quyết số 68-NQ/TW về bảo đảm và bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu, quyền
tài sản đối với tài sản trí tuệ.
Ba là, đẩy nhanh việc hoàn
thiện và ban hành Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp
văn hóa đối với phát triển kinh tế theo thông lệ quốc tế, làm cơ sở khoa học và
minh bạch cho hoạch định chính sách, giám sát thực thi và đánh giá hiệu quả đầu
tư công vào lĩnh vực văn hóa – sáng tạo.
Bốn là, theo dõi, đánh giá
hiệu quả thực thi của Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) và Luật Công nghiệp công
nghệ số ngay từ năm đầu có hiệu lực (2026), gắn với chế tài đủ mạnh đối với vi
phạm bản quyền trên nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội, đồng thời thúc
đẩy khung pháp lý cho việc chia sẻ doanh thu giữa nền tảng số quốc tế và người
sáng tạo nội dung trong nước, nhằm giữ lại giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
6. Kết luận
Từ góc nhìn thể chế, kinh tế
sáng tạo Việt Nam – tiếp cận qua công nghiệp văn hóa và sáng tạo – đang trong
giai đoạn bản lề: khung chủ trương (các Nghị quyết số 57, 66, 68 và 80-NQ/TW)
đã cơ bản định hình đúng hướng, khung pháp luật thực định vừa có bước tiến quan
trọng với Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) và Luật Công nghiệp công nghệ số có
hiệu lực trong năm 2026, và dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã có lộ
trình lập pháp cụ thể để trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026). Tuy
vậy, khoảng cách giữa chủ trương, quy định pháp luật và năng lực thực thi trên
thực tế vẫn là điểm nghẽn lớn nhất. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng
trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030, việc bảo đảm chất lượng và tiến độ ban
hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, khẩn trương hướng dẫn thi hành các
quy định mới về tài sản trí tuệ và tài sản số, cùng việc chuẩn hóa hệ thống
thống kê chuyên ngành, không chỉ là yêu cầu riêng của ngành công nghiệp văn hóa, mà là một phần của yêu cầu tổng thể về cải
cách thể chế nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng của quốc gia.
(TS. Nguyễn Thu Dung, Viện Nhà nước và Pháp luật)