Tầm nhìn chung cho một thế giới tốt đẹp hơn. Ảnh: Internet
Mở đầu
Nhân Ngày Tiêu chuẩn Thế giới 14/10/2026, Ủy ban Kỹ thuật Điện Quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) và Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) đã
chọn chủ đề tiêu chuẩn phục vụ các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) và tập
trung vào SDG 7 về năng lượng sạch và có khả năng chi trả. Có thể nói, nguồn điện
sạch phục vụ mục đích sử dụng thường xuyên cần được bảo đảm về độ an toàn, có
thể được đo lường và có thể hòa vào lưới điện quá gia nhằm phục vụ kết nối hạ tầng
số. Như vậy, nguồn điện sạch được sản xuất cần bám sát các tiêu chuẩn quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam hiện là thành viên của cả ba tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
hàng đầu là ISO, IEC và ITU, và từ năm 2026 là thành viên đầy đủ của IEC. Bài
viết xem xét tư cách thành viên tại các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế sẽ hỗ trợ
lộ trình thực hiện SDG 7 của Việt Nam như thế nào, đồng thời chỉ ra những vướng
mắc trong quá trình thực hiện SDG 7, hướng đến chuyển đổi xanh, chuyển đổi số sẽ
được tháo gỡ như thế nào thông qua tư cách thành viên của Việt Nam tại các tổ
chức nêu trên.
1. Việt Nam và quá trình tham gia các tổ chức
tiêu chuẩn hóa quốc tế
Tiêu chuẩn quốc tế là điều
kiện kỹ thuật để Việt Nam biến cam kết về năng lượng sạch, đáng tin cậy và có
khả năng chi trả (SDG 7) thành điện năng vận hành an toàn, đo lường được và kết
nối được. Trên thực tế, năng lượng sạch có nhiều giá trị vượt khỏi mục tiêu
cung cấp điện. Cụ thể, nguồn năng lượng này giữ cho các cộng đồng được kết nối,
mở ra cơ hội kinh tế thông qua dịch vụ và thanh toán số, đồng thời góp phần
kiến tạo tương lai bền vững hơn cho con người và hành tinh. Muốn vậy, hạ tầng
năng lượng phải vận hành an toàn, hiệu quả và tích hợp liền mạch với công nghệ
số, truyền thông. Theo thông điệp chung của IEC, ISO và ITU, hệ thống tiêu
chuẩn quốc tế là điều kiện bảo đảm các yêu cầu này.
Trong quá trình hội nhập
và tham gia định hình luật chơi quốc tế, Việt Nam đã không ngừng nâng cao sức
ảnh hưởng của mình tại các thiết chế xây dựng tiêu chuẩn toàn cầu. Biểu hiện rõ
nhất nằm ở việc Việt Nam hiện đang là thành viên của cả ba tổ chức tiêu chuẩn
hóa quốc tế hàng đầu: Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO), Ủy ban Kỹ thuật
Điện Quốc tế (IEC) và Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU).
Tại ISO, Việt Nam là thành
viên từ năm 1977, ba lần tham gia Hội đồng ISO (1997-1998, 2001-2002,
2004-2005); năm 2009, Chính phủ đề nghị ISO hỗ trợ đào tạo 50 chuyên gia và cam
kết tăng chuyển đổi tiêu chuẩn ISO thành tiêu chuẩn quốc gia nhằm giảm rào cản
kỹ thuật trong thương mại.
Việt Nam gia nhập IEC từ tháng 4/2002 với tư cách thành viên liên kết và từ năm
2026 là thành viên đầy đủ; bước chuyển này có ý nghĩa thực chất, vì chỉ thành
viên đầy đủ mới tham gia mọi hoạt động với lá phiếu ngang nhau, trong khi thành
viên liên kết bị hạn chế và không có quyền biểu quyết. Tại ITU, Việt Nam là
thành viên từ năm 1951, đã đắc cử ba nhiệm kỳ liên tiếp trong Hội đồng ITU
(1994-2006) và có sáng kiến trở thành Nghị quyết 123 về thu hẹp khoảng cách
tiêu chuẩn hóa viễn thông; từ năm 2010, Việt Nam tập trung phát huy chuyên môn trong
các nhóm nghiên cứu.
Dấu ấn của Việt Nam được thể hiện rõ nhất khi lần đầu tiên trúng cử Ủy ban Thể
lệ vô tuyến (RRB), giữ hai nhiệm kỳ 2015-2022, trong bối cảnh khu vực châu Á -
châu Đại Dương chỉ có 3 trong 12 ghế cho 53 quốc gia thành viên.
Cuối cùng, bước chuyển với tư cách thành viên đầy đủ của IEC năm 2026 có ý
nghĩa đặc biệt với SDG 7, vì IEC chính là tổ chức xây dựng tiêu chuẩn cho thiết
bị và hệ thống điện.
2. Tiêu chuẩn hóa hỗ trợ thực hiện SDG 7 tại Việt
Nam
Cả bốn chỉ tiêu SDG 7
trong Lộ trình quốc gia (Lộ trình) được ban hành trong Quyết định số 841/QĐ-TTg
ngày 14/7/2023 do Bộ Công Thương chủ trì đều có một hệ thống tiêu chuẩn quốc tế
đứng phía sau, và việc Việt Nam là thành viên của ISO, IEC, ITU giúp đưa hệ
thống đó vào các chỉ tiêu một cách chủ động thay vì chỉ tiếp nhận thụ động.
Quyết định số 841/QĐ-TTg đã
đặt ra bốn chỉ tiêu cho SDG 7 (chỉ tiêu 60 đến 63).
Trong đó, (i) chỉ tiêu 60 yêu cầu 100% hộ gia đình tiếp cận điện vào năm 2025
và 2030; (ii) chỉ tiêu 61 đặt tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng
lượng sơ cấp ở mức 15-20% vào năm 2030; (iii) chỉ tiêu 62 yêu cầu giảm tiêu hao
năng lượng trên GDP 1-1,5% mỗi năm trong giai đoạn 2021-2030; và (iv) chỉ tiêu
63 đặt công suất điện tái tạo năm 2030 gồm điện mặt trời 12.836 MW, điện gió
27.880 MW, sinh khối 2.270 MW và thủy điện 29.346 MW.
Về chỉ tiêu 60, 100% hộ
tiếp cận điện chỉ có ý nghĩa khi nguồn điện đó an toàn và thiết bị dùng chung
được với lưới. Đây là phạm vi của các tiêu chuẩn IEC. Với chỉ tiêu 61 và 63,
IEC vừa xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho thiết bị điện mặt trời, điện gió hay
sinh khối, vừa vận hành hệ thống chứng nhận IECRE cho thiết bị và dự án năng
lượng tái tạo; hệ thống này đã cấp 6.559 chứng chỉ cho 16 quốc gia thành viên.
Với chỉ tiêu 62, ISO 50001 giúp tổ chức cải thiện hiệu suất năng lượng, giảm
chi phí và đạt mục tiêu giảm carbon,
tức là đưa mục tiêu quốc gia xuống cấp doanh nghiệp, nơi tiêu hao năng lượng
thực sự xảy ra.
Tiêu chuẩn thứ ba thuộc về
ITU. Hiện nay, ITU-R quản lý tần số, còn các khuyến nghị ITU-T tuy không bắt
buộc nhưng thường được tuân thủ vì là cơ sở bảo đảm tương thích hệ thống. Lộ
trình đặt mục tiêu tới năm 2030 có tối thiểu 500.000 điểm chấp nhận thanh toán
không dùng tiền mặt, phủ sóng di động 100% dân số và cáp quang 100% hộ gia đình
(chỉ tiêu 76, 85, 86, thuộc SDG 8 và SDG 9).
Giá trị rộng hơn của điện, vượt ra khỏi nội dung SDG 7, chỉ có thể được hiện
thực hóa khi tiêu chuẩn điện (IEC) và viễn thông (ITU) được thiết kế đồng bộ.
Tư cách thành viên mang
lại cho lộ trình SDG 7 ba lợi ích chính: Thứ nhất là quyền tham gia định hình
tiêu chuẩn. Từ năm 2026, Việt Nam có lá phiếu ngang hàng với các thành viên đầy
đủ khác tại IEC, tổ chức xây dựng tiêu chuẩn cho thiết bị và hệ thống điện liên
quan đến các chỉ tiêu 60, 61 và 63. Đây là điểm khác biệt giữa việc chỉ áp dụng
và việc được tham gia xây dựng tiêu chuẩn. Thứ hai là giảm rào cản kỹ thuật và
chi phí tuân thủ. Từ năm 2009, Chính phủ đã cam kết tăng chuyển đổi tiêu chuẩn
ISO thành tiêu chuẩn quốc gia để giảm rào cản kỹ thuật trong thương mại,
và Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia giai đoạn 2026-2035 vẫn tiếp tục triển khai
theo định hướng này với mục tiêu hài hòa 75% tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn
quốc tế, khu vực hoặc của các nước phát triển vào năm 2030 và 80% vào năm 2035.
Theo nhận định của nghiên cứu, tiêu chuẩn được hài hòa còn giúp thiết bị và dự
án được công nhận kết quả thử nghiệm, chứng nhận giữa các thị trường, qua đó có
thể giảm chi phí kiểm định lặp lại. Thứ ba là nâng cao năng lực của các chuyên
gia trong nước. Việc đề nghị ISO đào tạo 50 chuyên gia năm 2009
và kinh nghiệm của chuyên gia Việt Nam tại RRB của ITU
cho thấy tư cách thành viên là kênh đào tạo nguồn nhân lực, và Chiến lược
2026-2035 đặt mục tiêu đào tạo 300 chuyên gia tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc
tế vào năm 2030.
3. Những vướng mắc còn tồn tại và hướng cải thiện
thông qua tư cách thành viên
Nghiên cứu nhận thấy hai
vướng mắc đặt ra yêu cầu mới đối với hệ thống tiêu chuẩn: (i) mục tiêu đang
được nâng lên và (ii) vốn. Các vướng mắc này có thể được tháo gỡ nếu Việt Nam
tham gia tích cực vào ISO, ITU và IEC.
Vướng mắc đầu tiên là việc
các mục tiêu đang được nâng lên. Báo cáo phân tích quốc gia của Liên Hợp Quốc
đánh giá chỉ tiêu tiếp cận điện và cường độ năng lượng đang đi đúng lộ trình,
nhưng nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo vẫn là thách thức lớn. Báo
cáo tổng hợp từ các nghị quyết của Bộ Chính trị nhắc tới mục tiêu 25-30% năng
lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp vào năm 2030,
cao
hơn mức 15-20% của Lộ trình theo Quyết định số 841/QĐ-TTg.
Trong khi năm 2023 nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm khoảng 80% tiêu thụ năng
lượng sơ cấp.
Như
vậy, Lộ trình cần được cập nhật, và nhu cầu tiêu chuẩn, chứng nhận cho năng
lượng tái tạo sẽ tăng theo. Để ứng phó, nên ưu tiên có chọn lọc: chọn một số
ban kỹ thuật về năng lượng tái tạo, lưới điện và quản lý năng lượng để nâng từ
thành viên quan sát (O) lên thành viên tham gia (P), tận dụng quyền biểu quyết
tại IEC từ năm 2026, tiến tới đề cử vị trí chủ tọa hoặc thư ký.
Vướng mắc thứ hai là vốn
cho chuyển đổi năng lượng. Nhu cầu đầu tư đến năm 2030 ước khoảng 134,7 tỷ USD,
trong đó 119,8 tỷ cho phát điện và 14,9 tỷ cho lưới điện. Cam kết ban đầu 15,5
tỷ USD của Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) chịu tác động
khi Hoa Kỳ rút khỏi chương trình tháng 5/2025. Tín dụng xanh đạt khoảng 26,6 tỷ
USD (4,5% tổng tín dụng) và trái phiếu bền vững khoảng 800 triệu USD (tháng
9/2024).
Các
số liệu nghiên cứu hiện nay cho thấy trên 40 quốc gia châu Á - Thái Bình Dương
(2000-2021) ước lượng chỉ số tài chính xanh (green finance) có tác động tích
cực đến hiệu quả sử dụng năng lượng, nhưng riêng trái phiếu xanh chưa có tác
động đáng kể do công cụ này chưa phổ biến.
Đây là kết quả mang tính khu vực, không riêng Việt Nam. Từ đó đặt ra nhu cầu
kiểm chứng rằng tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp (conformity assessment) có
thể giảm chi phí xác minh và tạo niềm tin cho thị trường tài chính xanh hay
không.
Để tháo gỡ vướng mắc về
vốn, có thể gắn tiêu chuẩn với pháp luật và tài chính xanh, nên cân nhắc cơ chế
viện dẫn tiêu chuẩn quốc tế trong quy chuẩn kỹ thuật và điều kiện dự án năng
lượng tái tạo, nâng tỷ lệ hài hòa trong lĩnh vực năng lượng vượt mức chung 63%
khi cập nhật Lộ trình, và gắn danh mục phân loại xanh với đánh giá sự phù hợp.
4. Tổng kết
Mặc dù các tiêu chuẩn
không tự tạo ra điện sạch, nhưng lại quyết định điện đó có an toàn, đo lường
được, huy động được vốn và kết nối được với hệ thống số hay không. Nghiên cứu
cho rằng các chỉ tiêu SDG 7 của Việt Nam phụ thuộc vào tiêu chuẩn ở ba khía cạnh:
(i) kỹ thuật (IEC, ISO), (ii) tài chính và (iii) kết nối số (ITU). Mục tiêu
càng cao thì yêu cầu đặt ra cho hệ thống tiêu chuẩn càng lớn.
Việt Nam đã có nền tảng
thể chế vững chắc, là thành viên đầy đủ của IEC từ năm 2026 và có vị thế ngày
càng cao tại ITU. Vì vậy, nghiên cứu cho rằng Việt Nam nên chuyển từ việc áp
dụng tiêu chuẩn sang việc cùng tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế nhằm sớm
hiện thực hóa SDG 7.