Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết của NCV. Trần Ngọc Bảo (Phòng Lý luận - Luật Hiến pháp - Luật Hành chính, Viện Nhà nước và Pháp luật), nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/2026). Bài viết góp phần ôn lại sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, làm sâu sắc hơn nhận thức về ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.
Hình ảnh chiến sỹ cảm tử quân, đoàn viên Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu ôm bom ba càng, sẵn sàng tiêu diệt xe tăng địch trên đường phố Hà Nội ngày 23.12.1946. Ảnh: Nguyễn Bá Khoản/Tư liệu TTXVN
Cách đây 80 năm, đêm 19 tháng 12 năm 1946, cả dân tộc Việt Nam nhất
tề đứng dậy. Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang
lên như mệnh lệnh thiêng liêng, khẳng định ý chí sắt đá: thà hy sinh tất cả chứ
nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Đó là bước ngoặt lịch sử,
thể hiện tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh vĩ đại.
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng...
Cách mạng Tháng Tám đã đập tan ách thống
trị của thực dân, phát xít, đồng thời chấm dứt chế độ quân chủ ở Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng
trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, long trọng
tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự
thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Từ đây, nhân dân Việt Nam bước
vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với quyền làm chủ của
nhân dân. Tuy nhiên niềm vui độc lập chưa trọn vẹn
thì Chính quyền non trẻ đã phải đương đầu với tình thế thù trong giặc ngoài bao
vây tứ phía.
Từ vĩ tuyến
16 trở ra Bắc, gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch kéo vào
dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật. Chúng không chỉ gây áp lực quân sự mà còn
đưa ra hàng loạt yêu sách ngang ngược đối với chính quyền cách mạng: đòi cung cấp
lương thực, vàng bạc, tiền bạc với số lượng lớn; bắt chúng ta phải sử dụng quan
kim, quốc tệ với tỉ giá do chúng đặt ra; đồng thời “hà hơi tiếp sức” cho đám Việt
Quốc, Việt Cách theo chân về nước, cùng đám Đại Việt trong nước, gây sức ép để
đưa chúng giữ các vị trí trọng yếu trong chính quyền cách mạng.
Từ vĩ tuyến
16 trở vào Nam, quân Anh tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại hòng tái
thiết lập chế độ thuộc địa ở Đông Dương; chỉ hơn hai tuần sau ngày tuyên bố độc
lập, đêm 22 rạng sáng 23 tháng 9 năm 1945, chúng đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn,
mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai. Ngoài Pháp và Trung Hoa Dân quốc,
trên cả nước lúc đó vẫn còn hàng chục nghìn quân Nhật đang chờ giải giáp.
Bên cạnh ngoại xâm và nội phản, hậu quả nặng nề của chế độ cũ vẫn
còn tồn tại dai dẳng. Nạn đói Ất Dậu năm 1945 đã cướp đi sinh mạng hơn hai triệu
đồng bào miền Bắc, sản xuất nông nghiệp bị tàn phá nặng nề, nhân dân thiếu ăn
triền miên, hơn
90% dân
chúng không biết chữ. Ngân sách nhà nước gần như trống rỗng,
kho bạc chỉ còn hơn 1,25 triệu đồng Đông Dương, gần một nửa trong số đó là giấy bạc rách
trong khi nhu cầu chi tiêu rất lớn. “Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” trở
thành ba hiểm họa lớn đe dọa trực tiếp sự tồn vong của chế độ mới
Trước tình
hình ấy, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ: muốn giữ vững nền độc lập vừa
giành được, muốn bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, chúng ta phải nhân nhượng
để tranh thủ thời gian quý báu để củng cố lực lượng, ổn định tình hình trong nước,
chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài nếu buộc phải tiến hành. Đó là sách lược
“dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra về nguyên tắc độc lập,
chủ quyền, nhưng mềm dẻo, linh hoạt về sách lược.
Chính vì phải nhân nhượng, chúng ta đã chấp nhận nhiều điều kiện
khó khăn với quân Tưởng: cung cấp một phần lương thực, tiền bạc theo yêu cầu của
chúng, nhường một số ghế trong bộ máy chính quyền và chấp nhận việc chúng ép
lưu hành quan kim, quốc tệ.
Tuy nhiên, ngày 28 tháng 2 năm 1946, Pháp và Trung Hoa Dân quốc đã ký Hiệp ước Hoa - Pháp, thực chất là sự bắt
tay nhằm tạo điều kiện cho quân Pháp được đưa ra miền Bắc Việt Nam để thay thế quân Tưởng. Trước tình thế lưỡng
đầu thọ địch ngày càng rõ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đàm phán với
Pháp.
Đối
với Pháp, ban đầu chúng chỉ muốn công nhận Việt Nam như một “nhà nước tự trị” lệ
thuộc hoàn toàn vào chúng. Nhưng nhờ sự kiên trì, khéo léo và bản lĩnh ngoại
giao, Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 đã buộc Pháp phải công nhận nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, nghị viện
riêng, quân đội riêng và tài chính riêng, nằm trong khối Liên hiệp Pháp; đồng
thời chấp nhận tổ chức trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ. Quan trọng hơn, Hiệp định Sơ bộ đã mở đường để từng bước buộc
quân Tưởng rút khỏi miền Bắc, giúp ta thoát khỏi thế lưỡng đầu thọ địch, tranh
thủ thêm thời gian hòa bình để củng cố chính quyền và xây dựng lực lượng.
Tiếp đó,
ngày 14 tháng 9 năm 1946, tại Paris, Tạm ước đã được ký kết. Dù phải nhân nhượng
thêm một số điểm về kinh tế và - văn hóa, nhưng Tạm ước đã giúp ta kéo dài thêm thời gian hòa
bình, tạo điều kiện củng cố lực lượng.
Song song với
việc nhân nhượng về đối ngoại, Chính phủ đã tập trung giải quyết những khó khăn
cấp bách trong nước. Đối với giặc đói, phát động phong trào “Tăng gia sản xuất”,
“Nhường cơm sẻ áo”; thực hiện giảm tô, giảm tức; tạm thời miễn thuế cho nông
dân nghèo; tổ chức quyên góp và phân phối lương thực đến tận tay người đói. Nhờ
vậy, chỉ trong thời gian ngắn, nạn đói cơ bản được đẩy lùi. Đối với giặc dốt,
ngày 8 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Nha Bình
dân học vụ, phát động phong trào xóa nạn mù chữ sôi nổi trong cả nước. Hàng triệu
người đã được học chữ. Về ngân sách, Chính phủ phát hành tiền Việt Nam, vận động
nhân dân đóng góp “Quỹ độc lập”, “Quỹ kháng chiến”, thực hành tiết kiệm triệt để.
Những biện pháp quyết liệt ấy đã giúp chính quyền cách mạng đứng vững, tạo niềm
tin sâu sắc trong nhân dân, chứng minh rằng việc nhân nhượng là cần thiết và
đúng đắn trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới...
Thế nhưng,
thiện chí hòa bình và sự nhân nhượng của chúng ta đã bị thực dân Pháp đáp lại bằng
sự phản bội trắng trợn. Chúng càng nhân nhượng bao nhiêu thì càng lấn tới bấy
nhiêu, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Ngay sau
khi ký Hiệp định Sơ bộ, Pháp đã ráo riết thực hiện âm mưu chia cắt đất nước.
Ngày 1 tháng 6 năm 1946, chúng ngang nhiên thành lập cái gọi là “Cộng hòa tự trị
Nam Kỳ” dưới sự điều khiển của bù nhìn Nguyễn Văn Thinh. Đây là một hành động
khiêu khích trắng trợn, nhằm tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, phá hoại chủ trương
thống nhất đất nước mà chính chúng đã cam kết trong Hiệp định Sơ bộ. Chúng muốn
biến miền Nam thành thuộc địa riêng, ngăn cản ý chí thống nhất thiêng liêng của
dân tộc ta.
Không dừng
lại ở đó, thực dân Pháp liên tục gây hấn, khiêu khích và mở rộng các hoạt động
quân sự nhằm uy hiếp chính quyền cách mạng. Tháng 11 năm 1946, quân Pháp dùng
vũ lực chiếm đóng Hải Phòng và Lạng Sơn. Đầu tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội,
chúng liên tiếp dùng đại bác, súng cối bắn phá các khu phố, sát hại dân thường
và chiếm đóng một số trụ sở của các cơ quan cách mạng. Đặc biệt, trong hai ngày
18 và 19 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp liên tiếp gửi ba tối hậu thư với những
yêu sách ngày càng trắng trợn. Trưa ngày 18 tháng 12, chúng đòi chiếm đóng Sở
Tài chính và nhà Giám đốc Sở Giao thông trên đường Pátxkiê (nay là đường Điện
Biên Phủ), đồng thời yêu cầu ta phá bỏ các công sự và chướng ngại vật trên đường
phố. Chiều cùng ngày, chúng tiếp tục gửi tối hậu thư, vu cáo lực lượng công an
Hà Nội không bảo đảm an ninh, trật tự, từ đó đòi quân Pháp tự đảm nhiệm việc trị
an trong thành phố. Sáng sớm ngày 19 tháng 12, chúng gửi tối hậu thư thứ ba,
đòi ta tước vũ khí của lực lượng tự vệ, đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị kháng
chiến và trao cho quân Pháp quyền duy trì an ninh, trật tự tại Hà Nội; nếu
không chấp nhận, quân Pháp sẽ tự do hành động. Những yêu sách ngang ngược cùng
các hành động quân sự liên tiếp của thực dân Pháp đã xâm phạm nghiêm trọng chủ
quyền của Việt Nam, đẩy tình hình đến giới hạn không thể tiếp tục nhân nhượng,
đặt dân tộc ta trước yêu cầu kiên quyết đứng lên bảo vệ nền độc lập vừa giành
được.
Trước những
bước tiến công ngày càng trắng trợn ấy, chúng ta vẫn kiên trì thiện chí đến
phút cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ vẫn tiếp tục trao đổi, vẫn gọi
họ bằng những lời lẽ hòa bình. Nhưng mọi nỗ lực đều vô vọng. Thực dân Pháp đã lộ
rõ dã tâm: chúng không muốn hòa bình, chúng chỉ muốn dùng vũ lực để tái lập ách
thống trị thuộc địa. Với những hành động bội ước và khiêu khích liên tiếp như vậy,
chiến tranh nổ ra chỉ còn là vấn đề sớm hay muộn. Dân tộc ta không còn con đường
nào khác ngoài việc đứng lên cầm súng, bảo vệ nền độc lập thiêng liêng vừa
giành được.
Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu
mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...
Ngày 18 và
19 tháng 12 năm 1946, tại Vạn Phúc (Hà Đông), Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp
dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa ra quyết định lịch sử: phát động
Toàn quốc kháng chiến. Ngày 19 tháng 12
năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự tay hoàn thành
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến:
“Hỡi đồng
bào toàn quốc. Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng
ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước
ta lần nữa!
Không!
Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ…”
Khoảng 20
giờ 03 phút đêm 19 tháng 12 năm 1946, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ dũng cảm
phá máy, cả thành phố Hà Nội chìm trong bóng tối. Từ Pháo đài Láng, những loạt
đại bác nổ vang trời, báo hiệu giờ phút toàn quốc kháng chiến đã điểm. Từ Hà Nội, tiếng súng kháng
chiến nhanh chóng lan rộng, mở đầu cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước. Tiếng súng kháng chiến vang vọng khắp non sông. Sáng
ngày 20 tháng 12, Lời kêu gọi của Bác được Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi toàn
quốc, trở thành mệnh lệnh thiêng liêng thôi thúc hàng triệu người Việt Nam.
Sự kiện đêm
19 tháng 12 năm 1946 là sự lựa chọn tất yếu của Dân tộc. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa, tự vệ của một
dân tộc yêu hòa bình nhưng không chịu khuất phục. Đó là sự bùng nổ của ý chí
“Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - bất
kỳ đàn ông, đàn bà, già trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ
là người Việt Nam thì đều đứng lên đánh giặc cứu nước. Đó còn là sự khẳng định
đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính của
Đảng ta. Tiếng súng đầu tiên ở Hà Nội đã mở ra cuộc kháng chiến trường kỳ “Chín
năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” cùng với chiến
thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt
Nam (2009), “Lịch sử Biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III (1945–1954):
Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc”, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật,
Hà Nội. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/lich-su-dang/lich-su-bien-nien-dang-cong-san-viet-nam-tap-3-176?utml.
NCV. Trần Ngọc Bảo (Viện Nhà nước và Pháp luật)