Phân định trách nhiệm pháp lý khi xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW: Từ tư duy chính sách đến thực tiễn pháp luật
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết "Phân định trách nhiệm pháp lý khi xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW: Từ tư duy chính sách đến thực tiễn pháp luật" của ThS. Huỳnh Trung Hậu và ThS. Nguyễn Hoài Châu (Trường Đại học Cảnh sát nhân dân) đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1 (444) năm 2026. Phân định trách nhiệm hình sự với hành chính, dân sự là một trong những nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2024 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Bài viết luận giải cơ sở lý luận, nội hàm, ý nghĩa thực tiễn về việc phân định trách nhiệm pháp lý trong xử lý vi phạm kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW. Qua đó, các tác giả đề xuất và kiến nghị giải pháp góp phần triển khai có hiệu quả Nghị quyết 68-NQ/TW về vấn đề này, góp phần phát huy vai trò của kinh tế tư nhân, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
Nghị quyết 68-NQ/TW khẳng định vai trò của khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia và là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng. Ảnh: Chinhphu.vn
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết 68-NQ/TW đã xác lập
một tầm nhìn chiến lược, mang tính bước ngoặt trong tư duy của Đảng về vai trò
của khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết đã định vị lại một cách dứt khoát vai trò của kinh tế
tư nhân, khẳng định đây là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
quốc gia” và là “lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng”. Quan điểm này thể hiện một sự
chuyển biến sâu sắc, xóa bỏ triệt để những định kiến còn tồn tại và nâng tầm vị
thế của doanh nhân, xác định họ là những “chiến sĩ trên mặt trận kinh tế”. Có thể thấy, Nghị quyết
68-NQ/TW không chỉ coi cải cách pháp luật và phát triển kinh tế là hai nhiệm vụ
song hành, mà xác lập một mối quan hệ nhân-quả trực tiếp. Ngoài ra, Nghị quyết
cũng xác định rõ rào cản lớn nhất kìm hãm khu vực tư nhân chính là môi trường
pháp lý còn nhiều rủi ro, bất định và nỗi lo bị hình sự hóa các quan hệ kinh
tế, dân sự. Do đó, Nghị quyết đã dành một phần trọng yếu để đưa ra các giải
pháp pháp lý mang tính đột phá nhằm “tháo gỡ về mặt tâm lý và hành động cho
khối doanh nghiệp tư nhân”, tạo cơ hội cho họ “khắc phục sai phạm”
thay vì “hết cơ hội sửa sai” nếu bị xử lý hình sự. Như vậy, cải cách pháp luật
được xác định không phải là mục tiêu tự thân, mà là công cụ kinh tế chiến lược,
là điều kiện tiên quyết, là hạ tầng thiết yếu để các mục tiêu tăng trưởng có
thể trở thành hiện thực và là “bệ phóng” cho kinh tế tư nhân cất cánh.
Trên cơ sở đó, bài viết phân tích, làm rõ nguyên tắc phân định trách nhiệm hình
sự với hành chính, dân sự theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW, đồng thời có
những kiến nghị, hoàn thiện pháp luật nhằm góp phần triển khai thực hiện của
hiệu quả tinh thần của Nghị quyết.
2. Nội dung trọng tâm của nguyên tắc phân
định rõ trách nhiệm hình sự với hành chính, dân sự theo tinh thần Nghị quyết
68-NQ/TW
Một trong những nhiệm vụ, giải
pháp được Nghị quyết 68-NQ/TW xác định đó là đẩy
mạnh cải cách, hoàn thiện, nâng cao chất
lượng thể chế, chính sách, bảo đảm và bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu, quyền tài
sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân. Để
làm được điều đó thì việc phân định rõ trách nhiệm hình sự với hành chính, dân
sự giữa pháp nhân và cá nhân trong xử lý vi phạm là một trong những nguyên tắc
cần được tuân thủ trong quá trình triển khai thực hiện và thi hành pháp luật.
Theo đó, nội dung của nguyên tắc đã định hình lại cách tiếp cận của Nhà nước
đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế một cách tích cực như sau:
Thứ nhất, Nghị quyết 68-NQ/TW thiết lập một trật
tự ưu tiên mới trong áp dụng các chế tài pháp lý mệnh lệnh “ưu tiên áp dụng các biện pháp về dân sự, kinh
tế, hành chính trước”, đảo ngược tư duy truyền thống vốn có của xu hướng sử dụng công cụ hình sự như một
giải pháp đầu tiên và hiệu quả nhất, tinh thần này xuất phát từ việc nhìn nhận đúng bản chất và
động cơ của doanh nhân bởi sứ mệnh của họ là
“lợi nhuận”, góp phần tạo ra giá trị vật chất, tinh thần, tiềm lực kinh tế cho xã hội. Do vậy, Đảng ta xác định cần ưu tiên sử dụng “công cụ kinh tế” để giải quyết các
sai phạm kinh tế, thay vì vội vàng áp đặt chế tài hình sự - biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất trong xử lý hành vi vi phạm pháp luật. Đây không chỉ là một giải pháp
kỹ thuật lập pháp mà là một cam kết chính trị mạnh mẽ, một thông điệp rõ ràng
gửi tới cộng đồng doanh nghiệp nhằm kiến tạo một hành lang pháp lý vững chắc và
có thể dự báo được. Theo đó, Nghị quyết 68-NQ/TW chỉ đạo một
cách dứt khoát rằng: “Trường hợp thực tiễn áp dụng pháp luật có thể dẫn đến
xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự thì kiên quyết không áp dụng xử lý hình
sự”, quy định mang tính đột phá này nhằm giải quyết lo ngại lớn nhất là sự
bất định pháp lý, vốn là một rào cản vô hình nhưng đầy sức nặng, kìm hãm sự
phát triển của doanh nghiệp.
Thứ hai, Nghị quyết 68-NQ/TW mở ra một hướng đi mới mang tính xây dựng
thông qua việc “cho phép các doanh
nghiệp, doanh nhân được chủ động khắc phục sai phạm, thiệt hại”. Qua đó, khắc phục hậu quả kinh tế được xem là một thay đổi căn
bản, bởi không còn được xem là một tình
tiết giảm nhẹ hình phạt như trong tư duy pháp lý mà trở thành một “căn cứ quan trọng để
xem xét các biện pháp xử lý tiếp theo”. Có nghĩa là, nếu doanh nghiệp chủ động và khắc phục toàn
diện thiệt hại thì
cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét không xử lý hình sự nếu doanh nghiệp có hành vi vi
phạm pháp luật. Do vậy, cách tiếp cận này không
chỉ mang tính nhân văn mà còn phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi nó giúp thu hồi
được tối
đa tài sản cho Nhà nước, cơ quan, tổ chức và người bị thiệt hại; đồng thời giữ lại một đơn vị kinh tế có khả
năng tiếp tục tạo ra giá trị cho xã hội. Cùng với đó, sự chuyển dịch này
phản ánh một triết lý quản trị sâu sắc hơn, từ mô hình Nhà nước “cai trị” - sự ưu tiên hàng đầu là mệnh lệnh và trừng phạt, sang mô
hình nhà nước “kiến tạo phát triển” - sự ưu tiên duy trì ổn
định và vận hành hiệu quả của nền kinh tế. Ngoài ra, khi coi doanh nghiệp là “người chiến sĩ trên
mặt trận kinh tế”
thì Nhà
nước không thể dễ dàng loại bỏ “người lính” của mình chỉ vì một
sai lầm không đáng
có trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt khi sai lầm đó có thể khắc phục, sửa chữa bởi chính họ. Mặt khác, việc nhìn vào động cơ
của doanh nhân và hậu quả tiêu cực của việc hình sự hóa đã dẫn đến một lựa chọn
chính sách tối ưu hơn cho toàn xã hội là dùng công cụ kinh tế để sửa chữa sai lầm kinh tế, giữ
cho doanh nghiệp tồn tại để tiếp tục đóng góp tích cực cho nền kinh tế, đây chính là bản chất của tư duy kiến
tạo.
Thứ ba, Nghị quyết 68-NQ/TW đã thiết lập nguyên
tắc “phi hình sự hóa” và ưu tiên khắc phục hậu quả kinh tế. Đây có thể coi là định hướng đột phá và
có ý nghĩa quan trọng nhất của Nghị quyết đối với việc cải cách pháp luật hình
sự, bởi chủ trương “phi hình sự hóa” hay “không hình sự hóa” các quan hệ kinh tế, dân sự không phải là
mới. Theo đó, Nghị quyết số 35/NQ-CP
ngày 16/5/2016 của
Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 đã xác định: “Không
hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự, đồng thời xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm
pháp luật” và tinh thần đó tiếp tục được nhắc lại trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày
10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy
vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, trong một thời gian dài,
chủ trương này vẫn chỉ dừng lại ở mức độ định hướng, thiếu các quy tắc cụ thể
để triển khai, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trên thực tế vẫn còn nhiều bất
cập, điển hình là vụ án “quán cà phê Xin Chào” - minh chứng cho thấy khoảng cách giữa
chủ trương và thực tiễn, nơi một vi phạm hành chính nhỏ lại có nguy cơ bị đẩy
lên thành một vụ án hình sự, gây chấn động dư luận và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của người
dân, doanh nghiệp vào môi trường đầu tư kinh doanh.
Nghị quyết 68-NQ/TW
đã tạo ra một bước tiến đột phá bằng cách chi tiết hóa và nâng tầm chủ trương
này thành một mệnh lệnh chính trị rõ ràng và dứt khoát, nó không còn là một định hướng mang tính chung chung mà là
một chỉ thị trực tiếp cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Chủ trương của Nghị quyết 68-NQ/TW đã tác động vượt xa phạm vi của
một quy định pháp lý đơn thuần, giúp giải tỏa nỗi lo sợ cố hữu về “rủi ro thể chế” mà các doanh nghiệp luôn phải đối mặt. Từ đó, doanh nhân không còn
phải hoạt động đầu
tư kinh doanh trong tâm thế “biết rủi ro nhưng vẫn
phải chấp nhận để tồn tại”, họ sẽ yên tâm hơn để đầu tư dài hạn, mở rộng sản xuất kinh doanh, dám nghĩ lớn, làm
lớn và chấp nhận rủi ro kinh doanh có chủ định. Cùng với đó, chủ trương phân định trách nhiệm pháp lý theo tinh
thần Nghị quyết 68-NQ/TW đã giúp khơi thông các nguồn lực xã hội đang bị “đóng băng” bởi sự sợ hãi và do dự trong đầu tư kinh doanh. Qua đó, chủ trương của Nghị
quyết đã tạo ra một môi trường pháp lý có thể dự báo được, nơi các quy tắc rõ ràng
và sự can thiệp của Nhà nước được xem là hợp lý và có chừng mực
- đây
chính là nền tảng để kinh tế tư nhân thực sự cất cánh, trở thành động lực tăng
trưởng quan trọng của quốc gia.
3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về phân định
trách nhiệm hình sự với hành chính, dân sự
3.1. Một số tiêu chí phân định trách nhiệm pháp lý
Phân định trách nhiệm pháp lý hình sự: Trách nhiệm hình sự là loại
trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất mà người vi phạm pháp luật phải gánh chịu,
khi thực hiện hành vi cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Một hành vi được coi là tội phạm khi thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội
phạm bao gồm: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của
tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. Trong đó, dấu hiệu vật chất,
cốt lõi để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác là “tính nguy
hiểm cho xã hội”.
Theo đó, tội phạm là hành vi gây nguy hiểm đáng kể cho các quan hệ xã hội được
pháp luật luật hình sự bảo vệ do cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thương mại
thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý.
Phân định trách nhiệm pháp lý hành chính: Trách nhiệm hành chính phát
sinh khi có vi phạm hành chính, được điều chỉnh bởi Luật Xử lý vi phạm hành
chính. Theo quy định của pháp luật, Vi
phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy
định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
vi phạm hành chính.
Cụm từ “mà không phải là tội phạm” chính là ranh giới pháp lý về
mặt định nghĩa, cho thấy vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp
hơn so với vi phạm pháp luật hình sự và chủ thể của vi phạm hành chính cũng
rộng hơn vi phạm hình sự, bao gồm cả cá nhân và tổ chức, trong khi phần nhiều
tội phạm chỉ áp dụng đối với chủ thể là cá nhân.
Phân định trách nhiệm pháp lý dân sự: Trách nhiệm dân sự, đặc biệt là
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, được quy định trong Bộ luật
Dân sự. Mục đích chính của trách nhiệm dân sự không phải là trừng phạt mà để bù
đắp, khắc phục những tổn thất, thiệt hại về vật chất và tinh thần cho bên bị
thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh
khi có đủ các điều kiện bao gồm: Có thiệt hại thực tế xảy ra; có hành vi gây
thiệt hại là hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái
pháp luật và thiệt hại xảy ra; có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại.
3.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về
phân định trách nhiệm hình sự với hành chính, dân sự
Mặc dù trên lý thuyết, các tiêu chí phân
định trách nhiệm pháp lý khá rõ ràng, nhưng trong thực tiễn áp dụng pháp luật,
ranh giới giữa các loại trách nhiệm này, đặc biệt là giữa hình sự và hành chính
lại trở nên mong manh và tồn tại nhiều “vùng xám pháp lý” gây khó khăn
trong quá trình áp dụng pháp luật. Có thể khái quát một số khía cạnh cơ bản như
sau:
Thứ nhất, sự mơ hồ của các tiêu chí mang tính định tính
Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 (BLHS) sử dụng khái niệm “tính
chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể” để loại trừ trách nhiệm hình sự,
nhưng lại không có hướng dẫn cụ thể thế nào là “không đáng kể”. Việc
thiếu các tiêu chí định lượng rõ ràng đã trao một quyền diễn giải rất lớn cho
các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc áp dụng pháp luật mang nặng tính
chủ quan, tùy nghi và thiếu thống nhất. Có thể thấy, nguy cơ lớn nhất đối với doanh nhân là một
tranh chấp hợp đồng thuần túy có thể bị “đẩy” thành tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” (Điều 174 BLHS) hoặc “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản” (Điều 175 BLHS). Theo đó, ranh giới mấu chốt nằm ở việc xác định “ý
định chiếm đoạt” và “thủ đoạn gian dối” của người thực hiện hành vi,
đây là những yếu tố thuộc về mặt chủ quan, rất khó để chứng minh một cách khách
quan và việc xác định ý định này hình thành từ trước hay sau giao dịch thường
phụ thuộc vào nhận định chủ quan của cơ quan, người có thẩm quyền. Tương tự như
vậy, Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng chưa quy định cụ thể về các dạng lỗi
(cố ý, vô ý) và các mức độ của hành vi vi phạm, từ đó gây không ít lúng túng,
khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình áp dụng.
Thứ hai, bất cập trong quy định pháp luật
Quá trình áp dụng pháp luật về các tội
phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế quy định tại Chương XVIII BLHS đã thể hiện một số bất cập của
quy định pháp luật, có nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình
thực thi và áp dụng pháp luật như sau:
Một là, sự mơ hồ trong các yếu tố cấu thành tội phạm
là “gót chân Achilles” của toàn bộ Chương XVIII BLHS, nhiều tội danh được định nghĩa bằng các thuật ngữ mang tính định tính, có nhiều cách hiểu khác nhau như: “Gây hậu quả nghiêm
trọng”, “số lượng lớn”, “thu lợi bất chính”, “thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt”. Tuy nhiên, các văn bản dưới luật lại chưa
có hướng dẫn cụ
thể, đầy
đủ và thống nhất để giải
thích các thuật ngữ này, từ đó, việc áp dụng pháp luật phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của cơ quan và
người tiến hành tố tụng. Ví dụ: Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211 BLHS) việc xác định thế nào là “thu lợi bất chính” và cách tính “thiệt hại cho nhà đầu tư” là cực kỳ phức tạp và chưa có hướng
dẫn cụ thể, dẫn đến tình trạng nhiều hành vi thao túng rõ ràng nhưng không thể
xử lý hình sự vì không chứng minh được các yếu tố định lượng, gây khó khăn cho
công tác điều tra,
xử lý.
Tương tự, trong các vụ án liên quan đến hàng cấm, cơ quan có thẩm quyền còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc trong việc xác định “yếu tố định lượng” của nhiều loại hàng hóa để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự do quy định chưa rõ ràng và thiếu hướng dẫn áp dụng.
Hai là, nhiều hành vi được mô tả trong các tội phạm tại Chương XVIII BLHS quy định, nếu chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Ví dụ, hành vi vi phạm quy định về đấu
thầu có thể bị xử phạt hành chính theo quy định của Chính phủ nếu “không phải là tội
phạm theo quy định tại Điều 222 Bộ luật Hình sự”. Tương tự, hành vi cho vay với lãi suất cao trong giao dịch dân sự có thể bị xử phạt
hành chính nếu chưa đến mức cấu thành “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch
dân sự” theo Điều 201 BLHS. Tuy nhiên, các tiêu
chí để phân định khi nào thì một hành vi vượt qua ngưỡng vi phạm hành chính để trở thành tội phạm hình sự lại không thực
sự rõ ràng và thường chỉ dựa vào
yếu tố định lượng về “hậu quả” hoặc “số tiền”, điều này không phản ánh đầy đủ tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi (ví dụ như mức độ lỗi, tính chất lặp lại,
thủ đoạn gian dối). Sự thiếu rạch ròi này tạo ra nguy cơ tùy nghi trong áp dụng
pháp luật, nơi các cơ quan tiến hành tố tụng có thể lựa chọn áp dụng chế tài
hình sự nghiêm khắc thay vì chế tài hành chính, đi ngược lại tinh thần ưu tiên
các biện pháp phi hình sự của Nghị quyết 68-NQ/TW.
Ba là, các yếu tố “gây hậu quả nghiêm trọng” hay “thiếu trách nhiệm” được quy định ở nhiều tội danh thuộc
Chương XVIII BLHS lại không được định nghĩa rõ ràng. Một quyết định đầu tư sẽ được tính toán kỹ lưỡng tại thời điểm ra
quyết định nhưng sau đó thất bại do những biến động khó lường của thị trường có
thể bị diễn giải lại dưới lăng kính hình sự. Nỗi sợ rằng một sai lầm trong kinh
doanh có thể bị quy kết thành một tội phạm hình sự sẽ khiến nhà đầu tư lựa chọn giải pháp “an toàn”, tức là không làm gì cả hoặc chỉ làm
những việc đã có tiền lệ. Điều này đi ngược lại hoàn toàn với yêu cầu đổi mới
sáng tạo, chấp nhận rủi ro để tìm kiếm cơ hội phát triển của kinh tế tư nhân mà Nghị quyết 68-NQ/TW đang khuyến khích, nó triệt tiêu văn hóa
chấp nhận thất bại, một phần không thể thiếu của tinh thần khởi nghiệp và đổi
mới, sáng tạo của
doanh nghiệp, doanh nhân.
Ngoài ra, sự mơ hồ của ranh giới pháp lý
không chỉ đơn thuần là một khiếm khuyết kỹ thuật lập pháp, bởi trong thực tiễn
nó đã trở thành một “công cụ” có thể bị lạm dụng. Pháp luật hình sự có
những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc như: Biện pháp ngăn chặn tạm giam, kê
biên tài sản,… Trong khi đó, việc “chuyển hóa” một tranh chấp dân sự,
kinh tế thành một vụ án hình sự sẽ tạo ra lợi thế áp đảo cho một bên và “vùng xám pháp lý” trong các khái niệm như “ý
định chiếm đoạt” hay “tính nguy hiểm cho xã hội” chính là kẽ hở để
thực hiện sự chuyển hóa này. Thực tế, sự thiếu rõ ràng của pháp luật không chỉ gây ra
việc áp dụng không thống nhất một cách vô ý, mà còn tạo ra động cơ cho các chủ
thể (cả công và tư) cố tình diễn giải và áp dụng pháp luật một cách sai lệch để
gây áp lực, biến quy trình tố tụng thành một phương thức để phục vụ lợi ích cá
nhân, gây hệ quả tiêu cực, vượt ra ngoài phạm vi của một sai sót áp dụng pháp
luật đơn thuần.
4. Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật
Để hiện thực hóa tinh
thần của Nghị quyết 68-NQ/TW, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần được tiến
hành một cách đồng bộ, toàn diện trên các lĩnh vực hình sự, hành chính, dân sự
và pháp luật khác có liên quan. Đối với từng lĩnh vực pháp luật, các tác giả có
một số đề xuất hoàn thiện như sau:
4.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
hình sự
Một là, cần hoàn thiện tiêu chí xác định “tính chất nguy hiểm
cho xã hội không đáng kể” trong các quy định của pháp luật
Điều 8 BLHS xác định tội
phạm là “hành vi nguy hiểm cho xã hội” được quy định trong BLHS, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định vi phạm hành chính là hành vi vi
phạm pháp luật “mà không phải là tội phạm”. Về nguyên tắc, tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội ở
mức độ “đáng kể”, trong khi vi phạm hành chính thì không, sự khác biệt này dẫn đến hệ quả là
chế tài hình sự mang tính nghiêm khắc hơn, thường tước đoạt quyền tự do
của người vi phạm nhiều hơn và để lại án tích, trong khi chế tài hành chính chủ yếu tác động vào tài
sản và không tạo thành tiền án.
Tuy nhiên, việc áp
dụng tiêu chí “tính nguy hiểm cho xã hội” trong lĩnh vực kinh tế lại bộc lộ nhiều bất cập bởi xu hướng “định
lượng hóa” tội phạm một cách máy móc, nhiều tội danh kinh tế được cấu thành dựa trên các ngưỡng định lượng cứng nhắc như
số tiền, giá trị hàng hóa, hay tỷ lệ phần trăm. Cách tiếp cận này đã vô hình
trung biến thẩm phán thành “robot”, buộc họ
phải đưa ra phán quyết dựa trên những con số vô hồn thay vì đánh giá toàn diện
bản chất của hành vi, bao gồm các yếu tố định tính quan trọng như ý thức chủ
quan, mục đích, động cơ và thái độ của người vi phạm. Điều này có thể dẫn đến
những kết quả bất hợp lý, nơi một hành vi có bản chất không quá nguy hiểm nhưng
lại bị xử lý hình sự chỉ vì vượt ngưỡng định lượng, trong khi một hành vi khác
có ý đồ xấu hơn, có tính nguy hiểm cao hơn nhưng lại “thoát tội” vì chưa đạt
ngưỡng
theo quy định.
Cùng với đó, tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW đòi hỏi một sự thay đổi
căn bản trong cách tiếp cận, mệnh lệnh “không hình sự hóa” và ưu tiên các biện pháp phi hình sự chính là lời kêu
gọi các cơ quan tố tụng phải quay về với bản chất của luật hình sự, đó là chỉ trừng trị những hành vi thực sự nguy hiểm cho xã
hội. Triết lý “không phải cứ sai phạm là tội
phạm” yêu cầu các cơ quan tư pháp phải
diễn giải và áp dụng pháp luật một cách linh hoạt, nhân văn và phù hợp với bối
cảnh kinh tế phức tạp. Thay vì chỉ nhìn vào con số, cơ quan, người có thẩm quyền cần phải xem xét một cách toàn diện bởi nhiều yếu tố như: Hành vi đó có thực sự gây tổn hại nghiêm trọng đến trật tự
quản lý kinh tế không? Động cơ của người vi phạm là tư lợi bất chính hay chỉ là
sai sót trong kinh doanh? Hậu quả có thể được khắc phục bằng các biện pháp kinh
tế không? Chỉ khi trả lời được những câu hỏi này, cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng chế tài hình sự mới thực sự
thấu tình, đạt lý và phù hợp với tinh thần của Nhà nước pháp quyền
ở nước ta.
Hai là, tái định vị triết lý của Chương XVIII BLHS
Tên gọi hiện tại của Chương XVIII BLHS là “Các tội xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế”, về nội dung
tên gọi đã mang nặng tư duy về quản lý chặt chẽ của nhà nước đối với các hoạt động
kinh tế. Trong bối cảnh mới, tên gọi này có thể gây hiểu nhầm rằng mọi hành vi
vi phạm trong hoạt động kinh doanh đều có nguy cơ bị hình sự hóa, từ đó tạo ra
tâm lý lo ngại, kìm hãm sự năng
động, sáng tạo và
phát triển của doanh nhân.
Trong khi đó, Nghị quyết 68-NQ/TW, được ban hành với mục tiêu giải phóng tiềm năng của
khu vực kinh tế tư nhân, nhấn mạnh việc xây dựng một môi trường pháp lý an
toàn, minh bạch và thân thiện. Tinh thần cốt lõi của Nghị quyết là chuyển đổi
tư duy quản lý nhà nước từ “kiểm soát” sang “đồng hành và phục vụ”, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
phát triển. Điều này đòi hỏi hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự,
phải có sự điều chỉnh để phân định rõ ranh giới giữa vi phạm hành chính, dân sự
và tội phạm hình sự trong lĩnh vực kinh tế.
Ngoài ra, việc đặt tên cho một chương trong BLHS
phải tuân thủ các nguyên tắc của khoa học luật hình sự và kỹ thuật lập pháp. Theo đó, sự phù hợp về tên gọi của một chương cần phải đáp ứng các tiêu chí
bao gồm: Tính chính xác khoa
học: Tên gọi phải phản ánh đúng và đầy đủ nhất bản chất của khách thể mà các tội phạm trong chương cùng hướng tới
xâm hại; tính hệ thống: Tên
gọi phải phù hợp với logic cấu trúc chung của toàn bộ BLHS, bảo đảm sự hài hòa
và nhất quán với các chương khác; tính khái quát: Tên gọi phải đủ rộng để bao quát được tất cả các tội danh
được quy định trong chương, nhưng không được quá chung chung đến mức làm mất đi
ý nghĩa định hướng; tính minh bạch, dễ
hiểu: Tên gọi phải rõ ràng, súc tích, không gây ra sự mơ hồ hoặc hiểu nhầm cho
cả các cơ quan áp dụng pháp luật và người dân.
Do đó, dựa trên các nguyên tắc của pháp luật hình sự và tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW, có nhiều
phương án thay thế cho tên gọi hiện tại của Chương XVIII BLHS như sau: Phương án 1: “Các tội phạm trong
lĩnh vực kinh tế”; Phương án 2: “Các tội xâm phạm trật tự kinh tế”; Phương án 3: “Các tội xâm phạm sự
vận hành lành mạnh và công bằng của nền kinh tế”. Dựa trên phân tích toàn diện các tác giả kiến nghị lựa
chọn Phương án 1: “Các tội phạm trong lĩnh vực kinh tế” làm tên gọi mới cho
Chương XVIII BLHS. Theo
đó, phương
án này được xem là tối ưu vì nó đạt được sự cân bằng tốt nhất giữa các tiêu chí
quan trọng, hoàn toàn phù hợp với
tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW nhờ tính trung lập, không áp đặt triết lý “quản lý” mà chỉ khoanh vùng “lĩnh vực” hoạt động, qua đó mở
đường cho việc áp dụng các nguyên tắc xử lý vi phạm mới mẻ và nhân văn hơn. Về mặt khoa học pháp
lý, đây là một thuật ngữ chính xác, có tính khái quát cao, bao trùm được toàn
bộ các tội danh đa dạng trong chương và tương thích với thông lệ quốc tế; phương án này có tính rõ ràng, ngắn
gọn và dễ hiểu, tránh được sự mơ hồ của khái niệm “trật tự kinh tế” trong Phương án 2 và
sự phức tạp, dài dòng của Phương án 3. Mặc dù là sự quay trở lại với tên gọi
của BLHS năm 1985, nhưng trong
bối cảnh hiện nay, nó mang một nội hàm mới, thể hiện sự phát triển biện chứng
trong tư duy lập pháp của Việt Nam - một sự phủ định của phủ định, thừa nhận sự thay đổi của
các giai đoạn lịch sử để tiến tới một nhận thức đầy đủ và phù hợp hơn.
Ba là, sửa đổi mang tính cấu
trúc và nguyên tắc chung đối với các quy định định lượng dùng làm căn cứ định tội và định
khung hình phạt
Các
kiến nghị này nhằm giải quyết những bất cập mang tính hệ thống của Chương
XVIII. Trong đó, cần nâng các định lượng về tiền và thiết lập cơ chế điều chỉnh
định kỳ: Cần nhanh chóng thể chế hóa kiến nghị đã được nêu trong dự thảo BLHS
sửa đổi về việc nâng gấp đôi các định lượng bằng tiền dùng làm căn cứ định tội
và định khung hình phạt để phản ánh đúng sự phát triển kinh tế và lạm phát.
Quan trọng hơn, để tránh tình trạng luật pháp liên tục lạc hậu, cần bổ sung vào
Phần chung của BLHS hoặc ban hành Nghị quyết của Quốc hội để thiết lập một cơ
chế linh hoạt. Theo đó, giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở đề nghị
của Chính phủ và các cơ quan tư pháp, định kỳ (ví dụ 3-5 năm một lần) xem xét,
điều chỉnh các ngưỡng định lượng này cho phù hợp với các chỉ số kinh tế vĩ mô
(GDP, lạm phát, thu nhập bình quân đầu người) mà không cần phải sửa đổi BLHS.
4.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
tố tụng hình sự
Để nguyên tắc phân định trách nhiệm pháp
lý đi vào thực tiễn, Nghị quyết 68-NQ/TW đã đề ra các yêu cầu cụ thể nhằm cải cách
thủ tục tố tụng, đảm bảo quá trình xử lý vi phạm diễn ra một cách công bằng,
hợp lý và không gây ra thiệt hại không cần thiết cho doanh nghiệp. Theo đó,
pháp luật tố tụng hình sự cần có một số định hướng hoàn thiện như sau:
Thứ nhất, một trong những vấn đề gây bức xúc trong
thực tiễn áp dụng pháp luật là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, đặc biệt
là biện pháp kê biên, phong tỏa tài sản. Nhiều trường hợp, một vụ án kinh tế
được khởi tố thì cơ quan điều tra đã tiến hành kê biên, phong tỏa toàn bộ tài
sản của doanh nghiệp, kể cả những tài sản không liên quan trực tiếp đến hành vi
bị buộc tội. Điều này ngay lập tức làm tê liệt hoạt động của doanh nghiệp, đẩy
doanh nghiệp vào tình thế phá sản trước cả khi có phán quyết của tòa án. Để
giải quyết vấn đề này, Nghị quyết 68-NQ/TW yêu cầu việc niêm phong, kê biên,
phong tỏa tài sản phải được thực hiện “đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục,
phạm vi” và quan trọng nhất là “bảo đảm giá trị niêm phong, kê biên, tạm
giữ, phong tỏa tương ứng với dự kiến hậu quả thiệt hại trong vụ án”. Yêu
cầu về sự “tương xứng” là một bộ lọc quan trọng, ngăn chặn việc cơ quan,
người có thẩm quyền tố tụng lạm dụng các biện pháp cưỡng chế, buộc các cơ quan,
người tiến hành tố tụng phải xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra
quyết định.
Thứ hai, Nghị quyết 68-NQ/TW tái khẳng định một
nguyên tắc nền tảng của Nhà nước pháp quyền “Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô
tội trong quá trình điều tra, xét xử các vụ án”. Dù đây là nguyên tắc đã
được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự, việc Bộ Chính trị một
lần nữa nhấn mạnh cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của nguyên tắc này trong bối
cảnh hiện nay. Theo đó, thực thi nghiêm túc nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ giúp
giảm thiểu oan sai, hạn chế việc đối xử với doanh nghiệp, doanh nhân như tội
phạm khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án, từ đó giảm bớt áp lực
tâm lý và thiệt hại về uy tín cho doanh nghiệp, doanh nhân.
Thứ ba, Nghị quyết 68-NQ/TW còn giải quyết một
vấn đề thực tiễn khác là tình trạng các cuộc điều tra kéo dài vô tận, Nghị
quyết yêu cầu đối với “các vụ việc thiếu chứng cứ, chứng cứ không rõ ràng
phải sớm có kết luận, tránh ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động sản xuất kinh doanh
bình thường của doanh nghiệp, doanh nhân”. Yêu cầu này nhằm chấm dứt tình
trạng nhiều doanh nghiệp bị “treo”, bị đình trệ hoạt động trong nhiều
năm chỉ vì một cuộc điều tra không đi đến đâu, gây ra những thiệt hại khôn
lường ngay cả khi cuối cùng họ được kết luận là không có tội.
Tóm lại, những yêu cầu về thủ tục tố tụng
này kết hợp với các nguyên tắc về trách nhiệm nội dung tạo thành một thể thống
nhất, một mạng lưới bảo vệ toàn diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp, thể hiện rõ tư duy kiến tạo và tinh thần thượng tôn pháp luật của Nghị
quyết 68-NQ/TW. Sự kết hợp giữa các nguyên tắc nội dung và tố tụng trong Nghị
quyết 68-NQ/TW cho thấy một tư duy pháp lý hệ thống. Nó không chỉ là một quy
định riêng lẻ mà giống như một “hệ điều hành” mới, đòi hỏi phải đồng bộ
hóa và hiệu chỉnh lại toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan. Sự thiếu đồng bộ
hiện nay chính là rủi ro lớn nhất cho việc thực thi pháp luật. Ví dụ, Nghị
quyết 68-NQ/TW yêu cầu không hình sự hóa, nhưng BLHS vẫn còn các tội danh định
lượng cứng nhắc hay Nghị quyết yêu cầu tách bạch trách nhiệm cá nhân và pháp
nhân, nhưng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong BLHS
vẫn còn nhiều bất cập. Ngoài ra, Nghị quyết yêu cầu
bảo vệ tài sản doanh nghiệp, nhưng các quy định về biện pháp cưỡng chế trong
pháp luật tố tụng hình sự hiện hành có thể chưa đủ chi tiết để ngăn chặn sự lạm
dụng. Do đó, Nghị quyết 68-NQ/TW đang tạo ra một áp lực cải cách đồng bộ và
mạnh mẽ lên thống pháp luật mà tập trung là quy trình và thủ tục tố tụng hình
sự. Hơn nữa, để thực thi có hiệu quả các nguyên tắc phức tạp vừa nêu đòi hỏi sự
chuyên môn hóa sâu sắc trong ngành tư pháp, đòi hỏi các thẩm phán, hội thẩm,
kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư và người bào chữa khác phải có kiến thức
liên ngành (luật, tài chính, kế toán, quản trị kinh doanh) để có thể phân định
và tách bạch một cách chính xác trong việc áp dụng pháp luật. Cùng với đó, các
vụ án về kinh tế sẽ trở nên phức tạp hơn về yêu cầu chứng minh nhưng sẽ công
bằng hơn về mặt bản chất, đòi hỏi một thế hệ chuyên gia pháp lý mới có năng lực
đáp ứng.
4.3. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính, dân sự
Thứ nhất, làm rõ các yếu tố cấu thành vi
phạm hành chính, tăng cường tính răn đe của chế tài, hoàn thiện thủ tục xử phạt
vi phạm hành chính
Cần bổ sung các quy định để
phân biệt rõ các mức độ lỗi (cố ý, vô ý) và các mức độ nghiêm trọng của hành vi
vi phạm hành chính, đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để phân hóa trách nhiệm
hành chính và áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính một cách tương
xứng, công bằng. Ngoài ra, đối với một số lĩnh vực như: Môi trường, an toàn
thực phẩm, xây dựng... cần nghiên cứu nâng mức phạt tiền và tăng cường áp dụng
các chế tài bổ sung như: Đình chỉ hoạt động có thời hạn, tước giấy phép… một
cách nghiêm khắc, khi chế tài hành chính đủ mạnh và đủ sức răn đe thì việc phải
dùng đến công cụ hình sự sẽ giảm, đồng thời góp phần ngăn chặn, phòng ngừa tội
phạm xảy ra. Cùng với đó, cần tiếp tục cải
cách thủ tục xử phạt theo hướng đơn giản, minh bạch, ứng dụng công nghệ thông
tin, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, cần chuyển
mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường trách nhiệm xã hội và trách nhiệm
tự tuân thủ của doanh nghiệp và hiệu quả giám sát, kiểm tra của cơ quan quản lý
nhà nước.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại và nâng cao hiệu quả
thi hành án dân sự
Tiếp tục hoàn thiện các quy
định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm đảm bảo các
tranh chấp phát sinh được giải quyết một cách hiệu quả, toàn diện và triệt để
tại tòa án dân sự, không để các bên cảm thấy phải sử dụng đến công cụ hình sự.
Ngoài ra, khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm
quyền được thi hành nhanh chóng và hiệu quả thì niềm tin của người dân và doanh
nghiệp vào công lý sẽ được củng cố, làm giảm đáng kể động cơ và mục đích áp
dụng pháp luật hình sự trong giải quyết các tranh chấp về tài sản, hợp đồng
kinh tế.
5. Kết luận
Phân tích toàn diện Nghị quyết 68-NQ/TW và các văn bản
liên quan cho thấy, nguyên tắc phân định rạch ròi các loại trách nhiệm pháp lý
là một sự chuyển dịch học thuyết mang tính nền tảng, với mục tiêu kiến tạo một
môi trường kinh doanh thực sự an toàn và có thể dự báo. Nghị quyết 68-NQ/TW của
Bộ Chính trị đã đặt ra một tầm nhìn chiến lược, một khát vọng lớn lao về một
khu vực kinh tế tư nhân hùng mạnh, đóng vai trò động lực chính cho sự phát
triển của đất nước. Để biến tầm nhìn đó thành hiện thực, việc xây dựng một hệ
thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và kiến tạo là yêu cầu cấp bách. Trong đó,
việc hoàn thiện Chương XVIII của BLHS về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.
Một khuôn khổ pháp luật hình sự về kinh tế minh bạch, phù hợp với các nguyên
tắc của kinh tế thị trường là hạ tầng pháp lý thiết yếu, là “bệ phóng” vững chắc để thực hiện thắng lợi các
mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết 68-NQ/TW đã đề ra, góp phần xây dựng một Việt Nam hùng cường,
thịnh vượng.
Tài liệu tham khảo:
1. Hoàng Yến, Nghị quyết 68 về kinh tế tư
nhân: Doanh nhân là chiến sĩ trên mặt trận kinh tế, Thời báo Tài chính Việt
Nam, 05/5/2025, https://thoibaotaichinhvietnam. vn/nghi-quyet-68-ve-kinh-te-tu-nhan-doanh
-nhan-la-chien-si-tren-mat-tran-kinh-te-175 823.html.
2. Viết Tôn, Phân định rõ trách nhiệm hình
sự với hành chính đối với doanh nghiệp, doanh nhân, Tin tức và dân tộc -
Thông tấn xã Việt Nam, 18/5/2025, https://baotintuc.vn/thoi-su/phan-dinh-ro-tra
ch-nhiem-hinh-su-voi-hanh-chinh-doi-voi-d oanh-nghiep-doanh-nhan-20250517145236
023.htm.
3. Trương Anh Tú, Nghị quyết 68-NQ/TW: Tư
duy thể chế, tinh thần cải cách và khát vọng đồng hành của giới luật sư,
Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, 06/5/2025, https://lsvn.vn/nghi-quyet-68-nq-tw-tu-duy-the-che-tinh-than-cai-cach-va-khat-vong-dong-hanh-cua-gioi-luat-su-a157255.html.
4. Bùi Yên, Gặp lại chủ quán cafe Xin Chào:
“Đến chết vẫn không quên phút xúc động được minh oan”, Pháp luật Việt Nam, 06/02/2018,
https://baophapluat.vn/gap-lai-chu-quan-cafe-xin-chao-den-chet-van-khon g-quen-phut-xuc-dong-duoc-minh-oan-post
269959.html.
5. Ngô Cường, Ranh giới giữa hành vi tội
phạm với hành vi không phải là tội phạm, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, 21/7/2023,
https://tapchitoaan.vn/ranh-gioi-giua-hanh-vi-toi-pham-voi-hanh-vi-khong-phai-la-toi-pham8966.html.
6. Nguyễn Hoàng Việt, Phân biệt vi phạm
hành chính và tội phạm, Cổng thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật
quốc gia, 03/7/2019, https://pbgdpl.gov.vn/
Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=2557&l=Nghiencuutraodoi.
7. Vũ Hải, Xác định lỗi cố ý trong vi phạm
hành chính, Chi cục Quản lý thị trường - Sở Công thương tỉnh Hải Dương, 12/3/2024,
https://haiduong.dms.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/xac-%C4%91inh-loi-co-y-trong-vi-pham-hanh-chinh-76017-1119.html.
8. Trần Văn Độ - ThS. Trần Thị Khánh Tâm, Giải
pháp phòng tránh hình sự hóa các vi phạm trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, hành
chính, Cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 02/9/2023, https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem
-sat/giai-phap-phong-tranh-hinh-su-hoa-cac-vi-pham-tron-d10-t11570.html ?Page=7.
9. Lê Minh Thái, Bàn về trách nhiệm hình sự
của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, 26/4/2023, https://dan chuphapluat.vn/ban-ve-trach-nhiem-hinh-su -cua-phap-nhan-thuong-mai-trong-bo-luat-hinh-su-nam-2015-4227.html.
Tuyến Phan, Đề xuất tăng mức phạt tiền với nhiều
lĩnh vực, tối đa 75 triệu đồng, Thanh Niên, 07/4/2025, https://thanhnien. vn/de-xuat-tang-muc-phat-tien-voi-nhieu-linh-vuc-toi-da-75-trieu-dong-185250407162204361.htm.
ThS. Huỳnh Trung Hậu, ThS. Nguyễn Hoài Châu (Trường Đại học Cảnh sát nhân dân)