Hội thảo khoa học “Giải pháp thực hiện ba đột phá chiến lược trong kỷ nguyên mới”
Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Nhiều chuyên gia cho rằng, ba đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng cần được đẩy mạnh hơn nữa, với cách làm mới, tư duy mới để tạo động lực cho chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh và bền vững.
Chiều ngày
12/5/2026, tại trụ sở số 1 Liễu Giai, Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam (Viện Hàn lâm) đã tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thực hiện ba đột phá chiến lược trong kỷ
nguyên mới”, nhằm góp phần triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 2 khóa XIV.
GS.TS. Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, phát biểu khai mạc hội thảo
Phát biểu
khai mạc, GS.TS. Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, chiến lược
Trung ương, nhấn mạnh, Đại
hội XIV xác định sâu sắc, toàn diện ba đột phá chiến lược gồm: Thể chế và thực thi; nguồn
nhân lực; và hạ tầng. Trong đó, mục tiêu trọng tâm được xác định là xác lập mô
hình tăng trưởng mới, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số làm động lực chính. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử, Đảng chủ trương cải
cách tổ chức bộ máy và
mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gắn với phân cấp, phân quyền. Đại hội XIV
đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu ba
đột phá chiến lược phải “làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn”.
Đây là những đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá, tăng tốc tiến kịp các nước
phát triển hơn.
Đối với đột phá thể chế, tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo
phát triển” dần được hiện thực hóa thông qua các nghị quyết lớn như Nghị quyết
số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết
68 về phát triển kinh tế tư nhân... Nhiều cơ chế mới mang tính đột phá lần đầu
được chấp nhận như chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, khuyến khích đổi
mới sáng tạo và đề cao vai trò kinh tế tư nhân. Cùng với đó, cải cách tổ chức bộ
máy, phân cấp, phân quyền được triển khai mạnh mẽ, góp phần tinh gọn bộ máy và
nâng cao hiệu quả quản trị.
Toàn cảnh hội thảo
Đối với đột phá kết cấu hạ tầng, các nghị quyết đã mở đường
cho huy động nguồn lực phát triển giao thông, năng lượng, hạ tầng xanh và giao
thông thông minh gắn với công nghệ số. Đối với đột phá về nhân lực, tư duy trọng
dụng nhân tài, thu hút chuyên gia, nhà khoa học vào khu vực công đang tạo nền tảng
cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, phần lớn các chính
sách vẫn trong quá trình hoàn thiện và triển khai, nên cần thêm thời gian để
đánh giá đầy đủ hiệu quả và tác động đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Trong bối cảnh mới, nhiều cơ hội mới mở ra, song cũng không
ít thách thức cho việc thực hiệu hữu hiệu ba đột phá nêu trên, GS.TS. Lê Văn Lợi
mong muốn hội thảo tập
trung thảo luận sâu, làm rõ thêm một số vấn đề cụ thể như: Một là, làm
rõ và chi tiết hơn nhận thức về ba đột phá, định hướng đổi mới tư duy để thúc đẩy
hữu hiệu thực hiện ba đột phá chiến lược trong bối cảnh mới. Hai là,
đánh giá việc thực hiện ba
đột phá chiến lược từ Đại
hội XIV đến nay, phân
tích những điểm được, chưa được, các điểm nghẽn và thách thức khi thực hiện. Ba
là, làm rõ hơn định hướng, giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới theo từng
nhóm đột phá chiến lược. Bốn là, phân tích làm rõ định hướng, giải pháp
tăng tính đồng bộ giữa ba đột phá trong quá trình thực hiện.
Đồng chủ trì hội thảo (từ trái sang phải): TS. Đặng Xuân Thanh (Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm), GS.TS. Lê Văn Lợi, đ/c Nguyễn Đức Hiển (Phó Trưởng ban Ban Chính sách, chiến lược Trung ương)
Hội thảo đã
đón nhận 40 tham luận và được tổ chức làm 2 phiên. Đồng chủ trì hội thảo là
GS.TS. Lê Văn Lợi, đồng chí Nguyễn Đức Hiển (Phó Trưởng ban Ban Chính sách, chiến
lược Trung ương) và TS. Đặng Xuân Thanh (Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm). Phiên thứ
nhất có chủ đề “Hoàn thiện thể chế và đổi mới tư duy quản trị phát triển
trong kỷ nguyên mới”. GS.TS. Võ Khánh Vinh (nguyên Phó Chủ tịch Viện
Hàn lâm) mở đầu phiên với bài tham luận “Tư duy mới về thể chế phát triển
trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”. Trong kỷ
nguyên phát triển mới, tư duy về thể chế phát triển trong Văn kiện Đại hội XIV
của Đảng đã thể hiện bước chuyển mang tính hệ thống và toàn diện, từ cách tiếp
cận truyền thống sang cách tiếp cận hiện đại, tích hợp và kiến tạo. Thể chế
không còn chỉ được nhìn nhận như công cụ quản lý mà đã trở thành nền tảng, động
lực và điều kiện quyết định của phát triển nhanh, bền vững. Sự chuyển đổi này
được thể hiện rõ qua các định hướng đổi mới tư duy thể chế, thúc đẩy đột phá
chiến lược, xây dựng hệ sinh thái thể chế phát triển và hoàn thiện thể chế theo
hướng toàn diện, đồng bộ, bao trùm.
GS.TS. Võ Khánh Vinh (nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm) trình bày tham luận của mình
Đặc biệt,
việc xác lập mô hình hệ sinh thái thể chế phát triển với các thành tố như thể
chế chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, quản trị và các thể chế mới đã phản
ánh cách tiếp cận mang tính liên kết và tích hợp cao. Trong hệ thống đó, thể chế
pháp luật giữ vai trò trung tâm, là trục kết nối và bảo đảm hiệu lực vận hành của
toàn bộ hệ thống thể chế. Đồng thời, đổi mới quản trị thể chế và tăng cường sự
tham gia của người dân, doanh nghiệp đã khẳng định yêu cầu chuyển từ quản lý
sang quản trị hiện đại, lấy con người làm trung tâm và phát huy tính chủ động của
các chủ thể phát triển. Có thể khẳng định rằng, tư duy mới về thể chế phát triển
hướng tới xây dựng một hệ thống thể chế mở, linh hoạt, thích ứng và có khả năng
chống chịu cao, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường. Đây chính là nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển
đất nước nhanh, bền vững, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong
bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
PGS.TS. Lê Minh Thông (nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội)
PGS.TS. Lê
Minh Thông (nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội) cho rằng, trong
bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, cải cách hệ thống pháp luật
trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm đưa đất nước tiến lên phát triển nhanh, bền vững.
Tác giả đã tập trung phân tích các điểm nghẽn của hệ thống pháp luật hiện hành
trong: (i) Tư duy lập pháp; (ii) Cấu trúc hệ thống pháp luật; (iii) Quy định
pháp luật về tổ chức bộ máy, phân cấp – phân quyền; (iv) Khả năng thích ứng của
hệ thống pháp luật với các mô hình phát triển mới; (v) Tổ chức thi hành pháp luật.
Phân tích
điểm nghẽn về tổ chức thi hành pháp luật, PGS.TS. Lê Minh Thông nhìn nhận, nếu
tư duy lập pháp là khâu “đầu vào”, thì tổ chức thi hành pháp luật là nơi quyết
định pháp luật có trở thành động lực phát triển hay không. Nghị quyết số 66-NQ/TW
cũng đã chỉ rõ “tổ chức thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu”. Thực tiễn đang cho
thấy trên một số lĩnh vực vẫn còn hiện tượng pháp luật chưa được thực thi
nghiêm túc, tình trạng văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chậm được
ban hành chưa được khắc phục triệt để, còn tình trạng pháp luật chưa được chấp
hành nghiêm, kể cả trong việc tuân thủ quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật; các điều kiện thi hành pháp luật chưa được bảo đảm đầy đủ; việc
tổ chức thi hành pháp luật ở một số nơi còn lúng túng, hiệu quả chưa cao; ý thức
chấp hành pháp luật trong một bộ phận cán bộ và nhân dân còn thấp. Chính vì vậy,
chỉ đạo mới của Trung ương nhấn mạnh phải chuyển chuẩn đánh giá từ “pháp luật tốt
trong văn bản” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”, đồng thời Nghị quyết số
66-NQ/TW đặt xây dựng và thi hành pháp luật trong cùng một chỉnh thể thống nhất.
TS. Nguyễn Đình Cung (nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương) trao đổi về phát triển kinh tế nhà nước
Bàn về phát
triển kinh tế nhà nước, TS. Nguyễn Đình Cung (nguyên Viện trưởng Viện Quản lý
Kinh tế Trung ương) chỉ ra những vấn đề và công việc cải cách còn dang dở của
doanh nghiệp nhà nước như: chưa được quyền tự chủ kinh doanh; chưa có chính
sách chủ sở hữu cụ thể; cơ chế, công cụ thực hiện quyền chủ sở hữu chưa phù hợp…
Sau khi giới thiệu những điểm mới về cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp
nhà nước trong Nghị quyết số 79-NQ/TW, tác giả đề xuất giải pháp tập
trung vào việc cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà
nước theo hướng hình thành các tập đoàn quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh và dẫn
dắt các ngành chiến lược, đồng thời thúc đẩy đầu tư vào khoa học - công nghệ, đổi
mới sáng tạo, chuyển đổi số và áp dụng quản trị hiện đại theo nguyên tắc thị
trường để thu hút nhân lực chất lượng cao.
TS. Nguyễn Linh Giang (Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật) trình bày tham luận về phát triển nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao
Tham luận
tiếp theo do TS. Nguyễn Linh Giang (Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật)
trình bày có chủ đề “Phát triển nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế toàn diện và cạnh tranh thể chế toàn cầu”. Bài
viết tập trung khẳng định vai trò then chốt của nguồn nhân lực pháp luật chất
lượng cao trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh thể chế ngày càng gay gắt.
Tác giả cho rằng, hội
nhập quốc tế không chỉ đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật mà còn đòi hỏi nguồn nhân lực pháp luật có
trình độ chuyên môn cao,
năng lực ngoại ngữ và tư duy toàn cầu.
Nguồn nhân lực pháp luật hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế như
thiếu chuyên gia giỏi về pháp luật quốc tế, kỹ năng thực tiễn chưa cao và khả
năng thích ứng với môi trường số còn hạn chế. Bài viết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản công tác đào tạo luật
theo hướng hiện đại, liên ngành, gắn lý luận với thực tiễn và đáp ứng chuẩn mực
quốc tế. Đồng thời, cần tăng cường
đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, tư duy phản biện, đạo đức nghề luật và năng lực giải
quyết tranh chấp quốc tế cho người học. TS. Nguyễn Linh Giang cũng đề xuất xây dựng cơ chế thu hút, trọng
dụng và đãi ngộ nhân tài pháp luật nhằm hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành
phục vụ phát triển đất nước. Việc
thúc đẩy hợp tác quốc tế giữa các cơ sở đào tạo luật, tổ chức nghề nghiệp và
các cơ quan nghiên cứu được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực pháp luật.
Bài viết nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số và ứng dụng
công nghệ trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu và thực hành pháp luật trong kỷ
nguyên mới. Ngoài ra, cần xây dựng
môi trường pháp lý minh bạch, hiện đại để đội ngũ nhân lực pháp luật phát huy
năng lực sáng tạo và hội nhập hiệu quả với thế giới. Từ đó, tác giả khẳng định phát triển nguồn nhân lực pháp luật chất
lượng cao là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo
vệ lợi ích quốc gia và thúc đẩy phát triển bền vững trong thời kỳ mới.
ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương (Viện Nhà nước và Pháp luật)
Tham luận
cuối phiên thứ nhất là của ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương (Viện Nhà nước và Pháp luật)
với chủ đề “Khung pháp lý cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, lực
lượng sản xuất mới và các mô hình kinh doanh mới ở Việt Nam”. Khung pháp lý
này không được hiểu là một đạo luật mới hay một tầng pháp luật độc lập, mà là
phương thức tổ chức, kết nối và vận hành các thành tố hiện hành của hệ thống
pháp luật theo logic thích ứng, lấy khuyến khích đổi mới và quản trị rủi ro làm
trung tâm. Trên cơ sở các định hướng lớn của Đảng về đột phá thể chế, khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tư nhân, bài
viết nhận diện bốn nhóm điểm nghẽn chủ yếu: Lúng túng trong định danh dữ liệu,
tài sản số và sản phẩm trí tuệ số; khó khăn trong nhận diện mô hình kinh doanh
lai ghép; cơ chế thử nghiệm và phản ứng chính sách còn hẹp, đơn lẻ; và thiếu cơ
chế pháp lý định hướng dòng vốn, đất đai, hạ tầng sống vào lực lượng sản xuất mới.
Từ đó, bài viết đề xuất ba định hướng hoàn thiện khung pháp lý: Phát triển cơ
chế thử nghiệm có kiểm soát; hoàn thiện cơ sở pháp lý cho dữ liệu và tài sản mới;
chuyển từ quản lý theo hình thức pháp lý sang quản lý theo bản chất hoạt động và
mức độ rủi ro, đồng thời nhấn mạnh các điều kiện bảo đảm thực thi.
PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh (Viện Chính sách kinh tế môi trường) trao đổi về chủ đề chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh
Sau giờ nghỉ
giải lao, hội thảo diễn ra phiên thứ hai là phiên thảo luận với chủ đề “Giải
pháp triển khai ba đột phá chiến lược trong các lĩnh vực trọng điểm”. Mở
đầu là phần trao đổi của PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh (Viện trưởng Viện Chính sách
kinh tế môi trường) về chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh ở Việt Nam. Ông phân
tích vai trò của chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh như là xu hướng tất yếu để bảo đảm phát triển
bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh chỉ
ra rằng,
Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức như ô nhiễm môi trường, khai thác
tài nguyên thiếu bền vững, phát thải khí nhà kính gia tăng và áp lực chuyển đổi
mô hình tăng trưởng. Vì thế,
cần hoàn thiện thể chế, chính sách và thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm phát triển
năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và sản xuất xanh. Đồng thời, cần tăng cường huy động nguồn lực tài chính xanh,
nâng cao nhận thức xã hội và phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình chuyển
đổi xanh.
PGS.TS. Phạm Thị Thúy Nga (Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật) chia sẻ quan điểm về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền gắn với bảo đảm năng lực thực thi
Tiếp theo,
PGS.TS. Phạm Thị Thúy Nga (Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật) chia sẻ quan
điểm về hoàn thiện pháp luật về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền gắn
với bảo đảm năng lực thực thi trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp. Qua
phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn triển khai, PGS.TS. Thúy Nga chỉ ra
một số vấn đề bất cập nổi bật như: Ranh giới thẩm quyền chưa thật rành mạch; điều
kiện bảo đảm thực thi chưa theo kịp việc giao nhiệm vụ; năng lực cấp xã còn bất
cập; hạ tầng dữ liệu và chuyển đổi số chưa đồng bộ; cơ chế kiểm tra, giám sát
và trách nhiệm giải trình cần tiếp tục hoàn thiện. Trên cơ sở đó, bà đề xuất giải
pháp về pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng giao thẩm quyền rõ hơn, đi đôi
với nguồn lực và trách nhiệm giải trình; thiết kế cấp xã như cấp thực thi trung
tâm; coi dữ liệu, chuyển đổi số và liên thông thủ tục hành chính là điều kiện của
phân quyền hiện đại; tăng cường kiểm soát quyền lực và sự tham gia của người
dân. Đây là điều kiện để mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành thực
chất, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Các đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học chụp ảnh lưu niệm tại hội thảo
Hội thảo cũng
thu nhận ý kiến của PGS.TS. Lý Phương Duyên (Học viện Tài chính) về tối
ưu hóa nguồn lực từ thuế nhằm thúc đẩy ba đột phá chiến lược. Bà nhấn mạnh yêu cầu cải cách
hệ thống thuế theo hướng hiện đại, minh bạch, công bằng và phù hợp với bối cảnh
chuyển đổi số, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng, đồng thời cũng
chỉ ra những hạn chế hiện nay của chính sách thuế như chồng chéo, chưa tạo động
lực mạnh cho đổi mới sáng tạo, đầu tư công nghệ và phát triển bền vững, từ đó đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế, mở rộng cơ sở thu và nâng cao hiệu
quả quản lý thuế. Để từ đó,
PGS.TS. Lý Phương Duyên
khẳng định việc tối ưu hóa nguồn lực từ thuế không chỉ góp phần tăng thu ngân
sách mà còn tạo động lực thúc đẩy phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng
cao và đổi mới thể chế trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Đồng chí Nguyễn Đức Hiển phát biểu tổng kết hội thảo
Tại phiên này,
hội thảo còn đón nhận những ý kiến trao đổi, thảo luận của các chuyên gia, nhà
khoa học khác. Phát biểu tổng kết hội thảo, đồng chí Nguyễn Đức Hiển nhấn
mạnh, cần thay đổi tư
duy quản lý phân tán, cục bộ sang cách tiếp cận tổng thể, liên thông giữa các
ngành, lĩnh vực và chủ thể phát triển. Theo ông, xây dựng thể chế phải theo hướng “hệ sinh thái đồng bộ”, lấy
doanh nghiệp làm trung tâm, tháo gỡ đồng thời các điểm nghẽn về cơ chế, nguồn lực;
thử nghiệm có kiểm soát trong từng ngành nghề và quản trị thực thi. Đồng chí Nguyễn Đức Hiển cũng
cho rằng, Nhà nước cần
chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, tạo không gian mới cho khoa
học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và hội nhập quốc tế.
Đồng chí Nguyễn Đức Hiển kỳ vọng hội thảo là diễn đàn khoa học
quan trọng, góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ hoạch
định, hoàn thiện chính sách
cho Đảng và Nhà nước trong thời gian tới.