Tọa đàm khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế và bảo đảm quyền con người phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”
Trong kỷ nguyên mới, hội nhập quốc tế không đơn thuần là sự mở rộng các mối quan hệ đối ngoại mà là một tiến trình tái cấu trúc lại toàn bộ hệ thống Nhà nước pháp quyền, định hình lại cách bộ máy nhà nước quản lý và cách thị trường vận hành, để tồn tại và phát triển trong một trật tự toàn cầu hóa được vận hành bằng luật lệ.
Ngày 28/5/2026, tại Hội trường tầng 2, trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội, phòng Luật
Quốc tế và Quyền con người đã tổ chức Tọa đàm khoa học “Cơ sở lý luận và thực
tiễn hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế và bảo đảm quyền con người phục vụ
phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.
TS. Nguyễn Thu Hương (nguồi giữa) chủ trì tòa đàm
Chủ trì tọa
đàm là TS. Nguyễn Thu Hương, Phó Trưởng phòng Phòng Luật Quốc tế và Quyền con
người. Đông đảo các nhà khoa học, nghiên cứu viên của Viện đã tham dự tọa đàm.
TS. Nguyễn
Tiến Đức trình bày báo cáo đầu tiên, “Pháp luật và hội nhập quốc tế trong kỷ
nguyên mới”. Bài viết khẳng định rằng hội nhập hiện nay không còn chỉ
là mở cửa thị trường mà đã trở thành quá trình tái cấu trúc pháp lý và thể chế
sâu sắc của quốc gia. Tác giả phân tích hai chiều kích của hội nhập gồm “hội
nhập bằng pháp luật” để nội luật hóa và tổ chức thực thi các chuẩn mực quốc
tế và “hội nhập thông qua pháp luật” nhằm chủ động tham gia kiến tạo luật
chơi toàn cầu. Bài viết cũng điểm lại các giai đoạn phát triển hội nhập của Việt
Nam từ thời kỳ đổi mới, gia nhập WTO đến các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới và xu hướng hội nhập gắn với kinh tế xanh, chuyển đổi
số và an ninh dữ liệu. Đồng thời, TS. Nguyễn Tiến Đức nhấn mạnh đến những thành tựu cải cách pháp luật trong xây dựng nền kinh tế
thị trường nhưng cũng chỉ ra khoảng cách lớn giữa quy định pháp luật và năng lực
thực thi thực tế. Trên bình diện quốc tế, Việt Nam được đánh giá đã từng bước
chuyển từ vị thế “người tuân thủ” sang tham gia định hình các chuẩn mực pháp lý
đa phương thông qua các công ước và nghị quyết quốc tế. Cuối cùng, báo cáo đề xuất xây dựng hệ
sinh thái năng lực pháp lý toàn diện về thể chế, nguồn lực và nhân lực để bảo đảm
mục tiêu tự chủ chiến lược và phát triển bền vững trong quá trình hội nhập quốc
tế.
TS. Nguyễn Tiến Đức (đứng) cùng ThS. Trần Thị Loan (áo đen) và ThS. Bùi Thị Hường (bìa phải)
Tiếp theo,
tọa đàm lắng nghe ThS. Trần Thị Loan trình bày tham luận có chủ đề “Bảo đảm
quyền con người trong bối cảnh chuyển đổi số phục vụ phát triển đất nước trong
kỷ nguyên mới”. Bài trình bày phân tích việc bảo đảm quyền con người
trong bối cảnh chuyển đổi số đang vừa tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận dịch vụ,
thông tin và phát triển xã hội, vừa đặt ra các rủi ro mới về quyền riêng tư, dữ
liệu cá nhân và bất bình đẳng số. Tác giả nhấn mạnh Việt Nam đã từng bước xây dựng
cơ sở chính trị – pháp lý quan trọng thông qua nhiều nghị quyết và các đạo luật
mới như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 và Luật An ninh mạng 2025. Bài viết cũng chỉ ra những thách
thức lớn như khoảng cách số giữa các nhóm dân cư, nguy cơ rò rỉ dữ liệu, phân biệt
đối xử thuật toán và hạn chế trong năng lực thực thi pháp luật trên môi trường
số. Năm nhóm quyền con người chịu tác động mạnh nhất gồm: quyền riêng tư, quyền bình đẳng, quyền
tự do biểu đạt, quyền học tập và quyền được bảo vệ sức khỏe. Từ đó, tác giả đề
xuất cần hoàn thiện
pháp luật về trí tuệ nhân tạo
(AI) và dữ liệu,
xây dựng cơ quan bảo vệ dữ liệu độc lập, thu hẹp khoảng cách số và tăng cường
cơ chế giám sát, bồi thường để bảo đảm quyền con người trong quá trình chuyển đổi
số.
Nếu như
tham luận của ThS. Trần Thị Loan trình bày về các quyền con người nói chung thì
tham luận tiếp theo của ThS. Bùi Thị Hường đề cập cụ thể đến quyền riêng tư, một
quyền đang bị xâm hại nghiêm trọng trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, dữ liệu đã trở
thành tài nguyên chiến lược cốt lõi của nền kinh tế hiện đại. Mối quan hệ giữa nền kinh tế dữ liệu và quyền riêng tư trong bối
cảnh chuyển đổi số, nhấn mạnh dữ liệu cá nhân đã trở thành tài sản có giá trị lớn
nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền con người. Tác giả trình bày
các chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ trong bảo vệ
dữ liệu cá nhân, đồng thời giới thiệu các công nghệ bảo mật hiện đại như mã hóa
đồng hình, học liên kết và bảo mật biệt dị nhằm hạn chế rủi ro lộ lọt thông
tin. Bài viết cũng đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam, đặc biệt là vai trò
của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong việc hoàn thiện hành lang pháp
lý, song vẫn còn nhiều thách thức như mua bán dữ liệu trái phép, thu thập dữ liệu
quá mức và khó kiểm soát các nền tảng xuyên biên giới. Trên cơ sở đó, ThS. Bùi Thị Hường đề xuất
các giải pháp đồng bộ gồm hoàn thiện pháp luật, nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp,
tăng cường kỹ năng số cho người dân và mở rộng hợp tác quốc tế để bảo đảm quyền
riêng tư trong nền kinh tế dữ liệu.
NCV. Lê Túc Vân có bài viết phân tích về cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Bàn về quyền
tự do kinh doanh của doanh nghiệp, NCV. Lê Túc Vân có bài viết phân tích
cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa (TCNXX) trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối
tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt
Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế
Toàn diện Khu vực (RCEP) và vai trò của cơ chế này
trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo tinh thần Hiến
pháp 2013. Tác giả cho rằng,
TCNXX giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động xuất khẩu, giảm phụ thuộc
vào cơ quan cấp phép, tiết kiệm thời gian và chi phí so với cơ chế cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
truyền thống. Tuy nhiên, việc triển khai tại Việt Nam còn nhiều bất cập như
pháp luật phân tán, tỷ lệ áp dụng thấp, khó khăn trong xác định xuất xứ, cơ chế
hậu kiểm yếu và gánh nặng lưu trữ hồ sơ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên
cơ sở giới thiệu kinh
nghiệm của Liên minh Châu Âu,
Nhật Bản, Úc và Canada, tác giả
đề xuất hoàn thiện khung pháp lý thống nhất, tăng cường số hóa và hậu kiểm dựa
trên phân tích rủi ro
nhằm mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
hiệu quả hơn.
NCV. Đặng Hồng Nga trình bày tham luận
Báo cáo cuối
được trình bày tại tọa đàm có chủ đề “Thực trạng hoàn thiện pháp luật về hội
nhập quốc tế ở Việt Nam” của NCV. Đặng Hồng Nga. Bài viết tổng hợp quá trình hoàn thiện
pháp luật về hội nhập quốc tế của Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế, tư pháp
và quyền con người nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và thực hiện cam kết quốc tế.
Tác giả cho rằng, hội
nhập quốc tế đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình lập pháp thông qua việc ban hành
nhiều đạo luật quan trọng, tham gia các FTA thế hệ mới, mở rộng hợp tác tư pháp
và tham gia tích cực vào các cơ chế nhân quyền quốc tế như Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) và Ủy ban liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR). Bài viết đánh giá Việt Nam
đã đạt được nhiều thành tựu như nâng cao tính tương thích quốc tế của hệ thống
pháp luật, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và nâng cao vị thế quốc tế, song
vẫn còn những hạn chế về tính ổn định chính sách, cơ chế giải quyết tranh chấp
và nguy cơ xung đột cam kết quốc tế. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật về hội nhập quốc tế, đó là: Tăng cường hợp tác song phương có chiều sâu, nhất là với các nước láng giềng và đối
tác chiến lược; tăng cường quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế pháp luật trên
phạm vi toàn quốc; nâng tầm hợp tác đa phương theo hướng chủ động đề xuất sáng
kiến.
ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương phát biểu thảo luận tại tọa đàm
Tọa đàm đã
nhận được những thảo luận sôi nổi về thực tế thực hiện một số quyền con người
phổ biến như quyền tự do biểu đạt, quyền học tập và những thách thức, bất cập gặp
phải hiện nay… Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng trao đổi về quan điểm của một
số quốc gia khi quyết định ký kết các FTA thế hệ mới và lựa chọn của Việt Nam.