Hội thảo khoa học “Thực trạng chính sách pháp luật về phát triển kinh tế xanh ở nước ta hiện nay”
Chiều ngày 02/4/2026, tại trụ sở Viện Nhà nước và Pháp luật, 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội, Ban Chủ nhiệm Đề tài cấp Bộ “Chính sách pháp luật về phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay” đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Thực trạng chính sách pháp luật về phát triển kinh tế xanh ở nước ta hiện nay”. Chủ nhiệm đề tài là TS. Phạm Thị Hương Lan.
Tham dự hội thảo có PGS.TS. Trần Đình Hảo, PGS.TS. Phạm Hữu Nghị, TS. Nguyễn Linh Chi (Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế Tài chính, Bộ Tài chính), ThS. Nguyễn Thi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và các thành viên của đề tài cùng các cán bộ nghiên cứu của Viện Nhà nước và Pháp luật. TS. Phạm Thị Hương Lan chủ trì hội thảo.
TS. Phạm Thị Hương Lan, Chủ nhiệm Đề tài, góp ý về tham luận của ThS. Nguyễn Thi
Mở đầu là phần trình bày qua hình thức trực tuyến của ThS. Nguyễn Thi với tham luận “Chính sách pháp luật về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và kiến nghị”. TS. Phạm Thị Hương Lan nhìn nhận, nhận diện khung chính sách pháp luật về phát thải khí nhà kính của ThS. Nguyễn Thi là khá toàn diện, từ đó tác giả triển khai thực trạng pháp luật dựa trên khung này sẽ là đầy đủ.
ThS. Phạm Thị Hiền trình bày tham luận “Chính sách pháp luật về tài chính xanh ở Việt Nam”. Báo cáo gồm ba phần chính: khung lý luận, thực trạng và định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật về tài chính xanh. Về mặt khái niệm, tài chính xanh được hiểu là các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng vốn nhằm hỗ trợ các dự án mang lại lợi ích môi trường và kiểm soát rủi ro môi trường – xã hội. Chính sách pháp luật về tài chính xanh là hệ thống quan điểm, nguyên tắc và biện pháp của Nhà nước nhằm định hướng và điều chỉnh lĩnh vực này, với mục tiêu kép là bảo vệ môi trường và phát triển thị trường tài chính. Thực trạng tại Việt Nam cho thấy đã có nền tảng chính trị – pháp lý tương đối rõ, đặc biệt từ Hiến pháp 2013 và Chiến lược tăng trưởng xanh. Trong lĩnh vực tín dụng xanh, khung pháp lý bước đầu hình thành và dư nợ tăng nhanh, nhưng còn hạn chế về tiêu chí phân loại, cơ chế khuyến khích và giám sát.
Đối với trái phiếu xanh, pháp luật đã ghi nhận và có định hướng phát triển, song vẫn thiếu cơ chế quản lý xuyên suốt vòng đời và ưu đãi đủ mạnh. Các hạn chế chung xuất phát từ thể chế còn phân tán, thiếu đồng bộ, năng lực thực thi và dữ liệu môi trường còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, đồng bộ giữa các lĩnh vực liên quan. Đồng thời, cần tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, tăng cường tích hợp rủi ro môi trường – xã hội và thiết kế các cơ chế khuyến khích cụ thể hơn. Cuối cùng, các nhóm giải pháp được đưa ra nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, thúc đẩy phát triển hiệu quả thị trường tài chính xanh tại Việt Nam.
PGS.TS. Trần Đình Hảo góp ý về tham luận của ThS. Phạm Thị Hiền
Góp ý về tham luận của ThS. Phạm Thị Hiền, PGS.TS. Trần Đình Hảo cho rằng, về lý luận, phần thực trạng và kiến nghị nên xuyên suốt qua 5 vấn đề nằm trong nhóm chính thuộc nội dung chính sách pháp luật về tài chính xanh mà tác giả đã nêu ra: (i) Định hướng và nguyên tắc điều chỉnh; (ii) Chủ thể của cơ chế điều chỉnh; (iii) Đối tượng và phạm vi điều chỉnh; (iv) Công cụ và biện pháp pháp lý; (v) Thiết chế thực thi giám sát. Bên cạnh đó, các chủ thể được nêu trong bài viết thiên về Nhà nước, vậy các chủ thể khác thì thế nào? Theo PGS.TS. Trần Đình Hảo, bài viết nên bổ sung, phân tích thêm các chủ thể khác.
Hội thảo tiếp tục lắng nghe ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga phân tích chính sách pháp luật về nhân lực cho phát triển kinh tế xanh trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 và coi kinh tế xanh là trụ cột phát triển. Nhân lực xanh được hiểu là nguồn lao động có đầy đủ kiến thức, kỹ năng và năng lực thích ứng với yêu cầu phát triển bền vững, đặc biệt là kỹ năng xanh. Chính sách pháp luật trong lĩnh vực này mang tính liên ngành, vừa định hướng đào tạo vừa tạo việc làm, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội trong chuyển đổi.
ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga trình bày tham luận của mình
Thực trạng cho thấy Việt Nam đã hình thành khung chính sách bước đầu, với nhiều chiến lược và luật liên quan đến đào tạo và việc làm xanh. Tuy nhiên, hệ thống còn thiếu chuẩn hóa về kỹ năng, cơ chế tài chính đặc thù và sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu thị trường lao động. Việc làm xanh còn chiếm tỷ lệ thấp, thiếu dữ liệu và chưa có định nghĩa pháp lý thống nhất, trong khi cung – cầu lao động còn lệch pha. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động tuy đa dạng nhưng hiệu quả thực thi chưa đồng đều. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất hoàn thiện khung pháp lý theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa kỹ năng xanh, tăng cường liên kết liên ngành và phát triển hệ thống dữ liệu thị trường lao động.
Sau đó, ThS. Nguyễn Thu Dung trình bày tham luận “Sự ổn định pháp lý trong hỗ trợ điện tái tạo: Nghiên cứu trường hợp cơ chế hỗ trợ giá điện tái tạo ở Việt Nam”. Cơ chế hỗ trợ giá điện tái tạo, viết tắt là FIT, là sự cam kết của Chính phủ dành cho các nhà đầu tư năng lượng sạch. Cụ thể là, điện tái tạo sẽ luôn có người mua với một mức giá ổn định và có lãi trong nhiều năm, giúp nhà đầu tư yên tâm đầu tư vào những công nghệ mới đắt đỏ. Do đặc thù chi phí đầu tư ban đầu cao, thời gian hoàn vốn dài và rủi ro lớn, các dự án năng lượng tái tạo phụ thuộc mạnh vào chính sách hỗ trợ ổn định của Nhà nước.
Sự ổn định pháp lý được hiểu là niềm tin của nhà đầu tư vào tính bền vững và khả năng thực thi nhất quán của chính sách. Ba yếu tố cốt lõi gồm bảo vệ kỳ vọng hợp lý của nhà đầu tư, khung pháp lý có thể dự báo và các cam kết cụ thể trong hợp đồng đầu tư. Nghiên cứu cơ chế giá FIT tại Việt Nam cho thấy đã tạo động lực lớn cho phát triển điện tái tạo nhưng còn tồn tại nhiều bất cập trong thực thi và chuyển tiếp chính sách. Nhiều dự án không kịp hưởng ưu đãi do thay đổi chính sách, dẫn đến rủi ro tài chính và tranh chấp. Thực tiễn quốc tế cũng cho thấy việc thay đổi đột ngột cơ chế FIT có thể dẫn đến nhiều vụ kiện đầu tư. Từ đó, bài viết nhấn mạnh rằng ổn định chính sách cần đi đôi với tính linh hoạt, minh bạch và khả năng dự đoán, nhằm vừa bảo vệ nhà đầu tư vừa bảo đảm lợi ích công cộng.
ThS. Nguyễn Thanh Tùng bình luận tại hội thảo
Bình luận tại hội thảo, ThS. Nguyễn Thanh Tùng cho rằng, các quy định của pháp luật, cam kết quốc tế về kinh tế xanh, dịch vụ xanh thì khá đầy đủ nhưng số liệu thực tế thì không có gì. Vậy chính sách trong luật có vẻ không ổn, không trúng. Như vậy hệ thống pháp luật chưa đạt được mục đích.
Phát biểu kết thúc hội thảo, TS. Phạm Thị Hương Lan cảm ơn sự tham gia nhiệt tình của các đại biểu, nhà khoa học, sự đóng góp đầy trách nhiệm của các báo cáo viên cho thành công của hội thảo.