Tọa đàm khoa học “Hoàn thiện pháp luật phục vụ phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong bối cảnh biến đổi khu vực và toàn cầu: Tiếp cận liên ngành và kiến nghị chính sách”
Tọa đàm là hoạt động khoa học do Viện Nhà nước và Pháp luật phối hợp với Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới và Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức ngày 25/5/2026 tại Hội trường tầng 1, trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội.
TS. Nguyễn Linh Giang phát biểu khai mạc tọa đàm
Tham dự tọa
đàm có TS. Nguyễn Linh Giang (Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật), TS.
Hà Thị Hồng Vân (Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới) cùng các
chuyên gia, nhà khoa học của 3 Viện.
Đồng chủ trì tọa đàm (từ trái sang): TS. Phạm Thị Hương Lan, TS. Nguyễn Linh Giang và TS. Hà Thị Hồng Vân.
Đồng chủ
trì tọa đàm là TS. Phạm Thị Hương Lan (Trưởng phòng Phòng Pháp luật Kinh tế, Viện
Nhà nước và Pháp luật), TS. Nguyễn Linh Giang và TS. Hà Thị Hồng Vân.
Phát biểu
khai mạc tọa đàm, TS. Nguyễn Linh Giang cho biết, tọa đàm được tổ chức nhằm tạo
diễn đàn để các nhà khoa học, các chuyên gia cùng trao đổi, thảo luận về những
vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình hoàn thiện pháp luật phục vụ phát
triển kinh tế nhanh và bền vững ở nước ta hiện nay, đồng thời cũng có những đề
xuất, kiến nghị chính sách có giá trị tham khảo và thực tiễn.
TS. Hà Huy Ngọc trình bày tham luận
Tham luận đầu tiên do TS. Hà Huy Ngọc
(Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới) trình bày có chủ đề “Phát triển nhân tài
công nghệ nhằm xác lập mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam”. Việt Nam đang ưu
tiên mạnh mẽ cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực thông
qua nhiều nghị quyết, chiến lược và đề án phát triển các lĩnh vực như bán dẫn,
trí tuệ nhân tạo và công nghệ cao. Bài viết cho thấy, mặc dù Việt Nam đã có
bước tiến về đổi mới sáng tạo và đào tạo STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật
và toán học), song vẫn chủ yếu tham gia các công đoạn lắp ráp giá trị
thấp trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu và còn hạn chế về nghiên cứu, sáng
chế. Tác giả cũng phân tích cuộc cạnh tranh toàn cầu về thu hút nhân tài công
nghệ, trong đó các quốc gia Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore hay Đài
Loan đều đầu tư rất lớn cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và giáo dục đại học để hình thành các
trung tâm đổi mới sáng tạo mạnh. Việt Nam hiện có lực lượng lao động STEM trẻ
và tăng nhanh, nhưng số lượng nhân lực R&D còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Bài viết nhấn mạnh vai
trò của các cơ sở giáo dục đại học và các cụm công nghệ đổi mới sáng tạo trong
việc đào tạo, thu hút và giữ chân nhân tài công nghệ. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn
tồn tại nhiều hạn chế như thiếu trường đại học đạt đẳng cấp quốc tế, liên kết
giữa trường đại học với doanh nghiệp còn yếu, hiện tượng “chảy máu chất xám” và
chất lượng đào tạo sau đại học chưa cao. Từ đó, TS. Hà Huy Ngọc đề xuất một số giải pháp
chiến lược phát triển nhân tài công nghệ, cụ thể là: (i) Mở rộng và tăng
cường chiều sâu của đội ngũ nhân tài công nghệ cao; (ii) Xây dựng
cơ sở hạ tầng R&D và thí điểm dùng chung; (iii) Thúc đẩy liên
kết cơ sở giáo dục đại học – doanh nghiệp – Chính phủ và tác động lan
tỏa của FDI.
TS. Chu Thị Thanh An giới thiệu tham luận của mình
Tọa đàm tiếp tục lắng nghe TS. Chu Thị Thanh An (Viện Nhà nước
và Pháp luật) giới thiệu tham luận của mình, “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về chuyển dữ liệu xuyên biên giới: Cân bằng mục tiêu phát triển kinh tế số và bảo
đảm chủ quyền dữ liệu”.
Trong bối cảnh chuyển đổi
số toàn cầu, dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới vừa là động lực cốt lõi của kinh
tế số, vừa đặt ra thách thức lớn đối với chủ quyền dữ liệu. Bài tham luận khảo
cứu ba cách tiếp cận của Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ và Trung Quốc, đồng thời
phân tích Khung khổ “Lưu chuyển dữ liệu tự do với sự tin cậy” như một định hướng
chính sách có giá trị tham khảo trong điều chỉnh pháp luật về chuyển dữ liệu
xuyên biên giới. Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt
Nam, tác giả đề xuất một số
kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chuyển dữ liệu xuyên biên giới theo hướng cân
bằng mục tiêu phát triển kinh tế số và bảo đảm chủ quyền dữ liệu.
TS. Phạm Thị Mùi với báo cáo về chính sách của nước
CHDC Nhân dân Lào và thực tiễn triển khai trong quản lý lao động nước ngoài, với trường hợp cụ thể người Việt Nam lao động tự do ở Lào
Tiếp theo là phần trình bày tham luận của nhà khoa học
đến từ Viện NC Châu Á – Thái Bình Dương, TS. Phạm Thị Mùi. Bài viết nghiên cứu
về chính sách của nước
CHDC Nhân dân Lào và thực tiễn triển khai trong quản lý lao động nước
ngoài, với trường
hợp cụ thể người Việt
Nam lao động tự do ở Lào. Việc
phát triển các dự án và thương mại đường biên đã làm gia tăng dòng di cư lao động
từ Việt Nam sang Lào, cả chính thức và phi chính thức. Người Việt Nam lao động
tự do có những đóng góp nhất định cho cả nơi xuất cư và nhập cư, tuy nhiên, họ không có đầy đủ vị thế về
mặt pháp lý tại Lào, vì vậy,
cuộc sống tha hương với vô vàn vấn đề khó khăn nảy sinh. Mục tiêu của nghiên cứu
này là tìm ra khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn triển khai chính sách quản
lý lao động nước ngoài của CHDC Nhân dân Lào, cụ thể là đối với
những người Việt Nam lao động tự do. Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành thu thập
và phân tích dữ liệu thứ cấp và sơ cấp từ năm 2014-2025 với ý đồ khắc họa cuộc
sống của người Việt Nam lao động tự do ở những thời điểm khác nhau gắn với sự
ra đời của từng chính sách cụ thể. Phân tích đã chỉ ra rằng, để có thể tiếp tục sinh sống và làm việc
tại Lào, người Việt Nam lao động tự do phải lách luật hoặc thậm chí buộc phải về
nước. Nghiên cứu có thể góp phần làm hài hòa trong hợp tác song phương Việt Nam - Lào, đảm bảo quyền lợi
cho người di cư lao động nhưng không vi phạm luật pháp nước sở tại.
TS. Nguyễn Thu Dung cho rằng tiếp cận chính sách pháp luật giúp nhìn nhận pháp luật không chỉ ở góc độ kỹ thuật mà còn gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế, an ninh năng lượng và ứng phó biến đổi khí hậu
Tham luận
cuối tại tọa đàm là của TS. Nguyễn Thu Dung (Viện Nhà nước và Pháp luật) có
tiêu đề “Mục đích điều chỉnh của pháp luật về phát triển năng lượng
tái tạo: Tiếp cận góc độ chính sách pháp luật ở Việt Nam hiện nay”. Tác giả cho rằng, tiếp cận chính sách pháp luật
giúp nhìn nhận pháp luật không chỉ ở góc độ kỹ thuật mà còn gắn với các mục
tiêu phát triển kinh tế, an ninh năng lượng và ứng phó biến đổi khí hậu. Bài viết
nhấn mạnh Nhà nước cần có sự can thiệp phù hợp vào thị trường năng lượng tái tạo
thông qua các cơ chế pháp lý nhằm thúc đẩy đầu tư, bảo đảm cạnh tranh và phát
triển bền vững. Đồng thời, TS.
Nguyễn Thu Dung phân tích yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật để
thích ứng với xu hướng kinh tế xanh, kinh tế số và các cam kết quốc tế như mục
tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Bài viết cũng đề cập đến việc xây dựng
hệ thống pháp luật theo hướng “quản lý kiến tạo”, thay vì chỉ quản lý bằng mệnh
lệnh hành chính truyền thống. Phần tiếp theo của bài viết đề cập đến kinh nghiệm của Nhật Bản
trong hoàn thiện pháp luật cho chuyển đổi số, đặc biệt với mô hình “Xã hội
5.0”, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ người tiêu dùng trên nền tảng
số và cơ chế cập nhật pháp luật linh hoạt. Tác giả cho rằng, Nhật Bản thành công nhờ xây dựng hệ thống
pháp luật đồng bộ, có cơ quan chuyên trách độc lập và áp dụng các công cụ thử
nghiệm như “sandbox pháp lý” để hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Từ đó, TS. Nguyễn Thu Dung đề xuất, Việt Nam cần hoàn thiện
khung pháp lý cho kinh tế số, tăng cường quản lý cạnh tranh trên nền tảng số,
phát triển nguồn nhân lực công nghệ và kết hợp chính sách pháp luật với các
công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy chuyển đổi số bền vững.
Toàn cảnh buổi tọa đàm
Thảo luận về
chủ đề năng lượng tái tạo, TS. Nguyễn Linh Giang băn khoăn, hiện Nhà nước đang
độc quyền trong truyền tải điện và xây dựng, vận hành các dự án điện hạt nhân, thủy
điện chiến lược đa mục tiêu, có quy mô lớn để đảm bảo an ninh năng lượng. Nhưng
với các nguồn năng lượng mới như điện gió, điện mặt trời thì nếu Nhà nước giữ
vai trò độc quyền thì có mâu thuẫn gì với các cam kết của Việt Nam trong bảo hộ
đầu tư, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới không?
PGS.TS. Hoàng Kim Khuyên trao đổi về tham luận của TS. Phạm Thị Mùi
Trao đổi về
tham luận của TS. Phạm Thị Mùi, PGS.TS. Hoàng Kim Khuyên (Viện Nhà nước và Pháp
luật) quan tâm đến việc Việt Nam cần có chính sách gì
đối với lao động di cư phi chính thức sang Lào. TS. Phạm Thị Mùi cho biết, Việt Nam đã
có một số chính sách, chẳng hạn như Nghị định 372/2025/NĐ-CP ban hành ngày
31/12/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
112/2021/NĐ-CР quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/2026.
Nghị định này giúp đơn giản hóa thủ tục cấp phép cho người Việt Nam di cư đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ 10 ngày xuống còn 7 ngày và bắt buộc phải
thông báo trực tuyến trên hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý người di cư. Thủ tục
được đơn giản hóa cũng là một biện pháp khuyến khích người di cư tự do thực hiện
việc nhập cư đúng pháp luật.
TS. Phạm Thị Hương Lan chia sẻ thực tế về những hệ lụy gặp phải của người lao động Việt Nam di cư bất hợp pháp sang Lào. Một trong số đó là trẻ em sinh ra khi về Việt Nam không được làm giấy khai sinh, không được đi học. Chính quyền địa phương gặp khó khăn khi không có giấy tờ để xác thực về quốc tịch, bảo hộ nhân thân cho các cháu.
TS. Phạm Thị Hương Lan phát biểu tổng kết tọa đàm
Phát biểu kết
thúc tọa đàm, TS. Phạm Thị Hương Lan cám ơn sự tham dự, trình bày tham luận
cũng như phát biểu ý kiến, thảo luận của các chuyên gia, nhà khoa học. Tiến sĩ
Hương Lan mong muốn, trong thời gian tới, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới và
Viện NC Châu Á -Thái Bình Dương tiếp tục hợp tác với Viện Nhà nước và Pháp luật
trong các hoạt động nghiên cứu, trao đổi học thuật sâu rộng hơn nữa.