Tọa đàm khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về lao động, an sinh xã hội và các vấn đề xã hội phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”
Sau các tọa đàm đã diễn ra liên quan đến lĩnh vực pháp luật về kinh tế, tư pháp, hội nhập quốc tế và bảo đảm quyền con người, ngày 29/5/2026, phòng Pháp luật Kinh tế, Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức tọa đàm khoa học về lĩnh vực pháp luật lao động và an sinh xã hội với tiêu đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về lao động, an sinh xã hội và các vấn đề xã hội phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.
TS. Phạm Thị Hương Lan chủ trì tọa đàm
Tham dự tọa
đàm có PGS.TS. Phạm Thị Thúy Nga, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật cùng
đông đủ các nhà nghiên cứu của Viện. Chủ trì tọa đàm là TS. Phạm Thị Hương Lan,
Trưởng phòng Phòng Pháp luật Kinh tế.
PGS.TS. Hoàng Kim Khuyên trình bày tham luận
Mở đầu tọa đàm là báo cáo của PGS.TS. Hoàng Kim Khuyên với chủ đề “Hoàn
thiện pháp luật lao động và an sinh xã hội nhằm bảo đảm chuyển đổi việc làm và
bảo vệ lao động phi chuẩn trong nền kinh tế số theo mô hình Flexicurity ở Việt
Nam”. Bài viết phân tích tác động của chuyển đổi số đối với thị
trường lao động Việt Nam, đặc biệt là sự gia tăng của các hình thức lao động
phi chuẩn như lao động nền tảng, lao động tự do và việc làm theo yêu cầu. Tác
giả cho rằng, hệ thống
pháp luật lao động và an sinh xã hội hiện hành vẫn chủ yếu được xây dựng dựa
trên mô hình việc làm truyền thống nên chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu bảo vệ các
nhóm lao động mới. Dưới góc nhìn mô hình Flexicurity, bài viết chỉ ra ba hạn chế
lớn gồm: Khái niệm người
lao động còn mang tính truyền thống, hệ thống an sinh xã hội thiếu tính di động
và liên tục, và chính sách hỗ trợ chuyển đổi việc làm chưa thực sự hiệu quả.
Trên cơ sở đó, PGS.TS. Hoàng
Kim Khuyên đề xuất hoàn thiện pháp luật lao động theo hướng linh hoạt có
kiểm soát, mở rộng phạm vi bảo vệ đối với lao động nền tảng và lao động phụ thuộc
kinh tế. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống an sinh xã hội lấy người lao động làm
trung tâm, bảo đảm quyền lợi được duy trì xuyên suốt quá trình chuyển đổi nghề
nghiệp. Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ tư duy bảo vệ một công việc cụ thể sang
bảo vệ khả năng duy trì việc làm và thích ứng nghề nghiệp của người lao động
trong nền kinh tế số.
TS. Nguyễn Tiến Đức (góc trên bên phải) với tham luận "Hoàn thiện thể chế pháp lý nhằm thúc đẩy kinh tế bạc"
Tiếp theo, TS. Nguyễn Tiến Đức trình bày báo cáo với nội dung liên quan
đến một vấn đề đang ngày càng trở nên cấp thiết đối với Việt Nam: Hoàn thiện thể
chế pháp lý nhằm thúc đẩy kinh tế bạc.
Già hóa dân số không còn là một dự báo xa. Nó đã trở thành một điều kiện
cấu trúc của phát triển, tác động trực tiếp đến lao động, y tế, an sinh xã hội,
chăm sóc dài hạn, tài chính, tiêu dùng, dữ liệu cá nhân và chuyển đổi số. Tác
giả khẳng định kinh tế bạc không chỉ là thị trường dành cho người cao tuổi mà
là một hệ sinh thái liên ngành, trong đó người cao tuổi vừa là chủ thể quyền,
người lao động, người tiêu dùng và người sử dụng các dịch vụ xã hội. Mặc dù Việt
Nam đã có nhiều chính sách và quy định liên quan đến người cao tuổi, các quy định
này vẫn còn phân tán, thiếu một kiến trúc pháp lý tích hợp để bảo vệ quyền,
phân bổ rủi ro và thúc đẩy thị trường phát triển bền vững. Bài viết đề xuất bốn
trụ cột cải cách gồm: (i) Hoàn
thiện pháp luật lao động và việc làm cho người cao tuổi; (ii) Xây dựng hạ tầng chăm
sóc, y tế, đầu tư
và nhà ở thích ứng; (iii)
Tăng cường hệ thống tài chính tuổi già và an sinh xã hội; (iv) Bảo vệ người cao tuổi
trong môi trường số. TS.
Nguyễn Tiến Đức nhấn mạnh,
cần chuyển từ cách tiếp cận chính sách người cao tuổi sang xây dựng thể chế
pháp lý cho xã hội già hóa, với Luật Người cao tuổi sửa đổi đóng vai trò luật
khung và các luật chuyên ngành là các luật vệ tinh. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng
một hệ thống pháp luật vừa nhân văn, vừa hiệu quả, bảo đảm quyền của người cao
tuổi đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bao trùm trong xã hội già hóa.
ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga phân tích những tác động của quá trình chuyển đổi xanh đối với thị trường lao động Việt Nam
Sau đó, tọa đàm lắng nghe ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga trình bày tham luận “Bảo
đảm chuyển đổi việc làm công bằng trong bối cảnh chuyển đổi xanh ở Việt Nam”.
Báo cáo phân tích những tác động của quá trình chuyển đổi xanh đối với
thị trường lao động Việt Nam, trong đó nhiều ngành nghề truyền thống suy giảm
trong khi các việc làm xanh và công nghệ mới gia tăng. Quá trình này tạo ra
nguy cơ mất việc làm đối với lao động kỹ năng thấp, lao động trung niên, lao động
phi chính thức và lao động khu vực nông thôn nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Tác giả chỉ ra rằng,
pháp luật và chính sách hiện hành đã có một số nền tảng như tăng trưởng xanh,
đào tạo nghề và bảo hiểm thất nghiệp, nhưng vẫn thiếu một khung pháp lý tổng thể
về “chuyển đổi việc làm công bằng”. Chuyển đổi việc làm công bằng được phát triển bởi Tổ chức Lao động
Quốc tế (ILO) nhằm nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm người lao động được hỗ trợ thích ứng
với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh thông qua việc làm bền vững, đào
tạo lại kỹ năng, an sinh xã hội và đối thoại xã hội, bảo đảm không ai bị bỏ lại
phía sau. Các hạn chế nổi
bật gồm chính sách đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu việc làm xanh, hệ thống an
sinh xã hội chưa hỗ trợ hiệu quả quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và chưa có cơ
chế chia sẻ chi phí chuyển đổi giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Để khắc
phục, ThS. Bảo Nga đề
xuất cần xây dựng khung
pháp lý riêng về chuyển đổi việc làm công bằng, tăng cường đào tạo lại kỹ năng
xanh, mở rộng an sinh xã hội và hỗ trợ chủ động cho người lao động trong quá
trình chuyển nghề. Đồng thời, cần nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp và thúc
đẩy đối thoại xã hội nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi xanh diễn ra công bằng,
bền vững và không để người lao động bị bỏ lại phía sau.
NVC. Nguyễn Thị Thu Hiền với phần trình bày tham luận của mình
Tham luận cuối trình bày tại tọa đàm là của NCV. Nguyễn Thị Thu Hiền, “Thách
thức pháp lý đặt ra và giải pháp hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội đối với
lao động phi chính thức trong nền kinh tế số ở Việt Nam”. Tác giả đã phân
tích những thách thức pháp lý trong việc bảo đảm an sinh xã hội cho lao động
phi chính thức trong nền kinh tế số ở Việt Nam, đặc biệt là những hạn chế trong
tiếp cận việc làm chính thức, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm
y tế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ trình độ nghề nghiệp và nhận thức pháp
luật còn hạn chế của người lao động, cùng với tình trạng doanh nghiệp né tránh
trách nhiệm thông qua các loại hợp đồng không chính thức. Báo cáo nhận định, hệ thống pháp luật hiện
hành vẫn còn nhiều khoảng trống, như thiếu chế độ bảo hiểm phù hợp, mức đóng bảo
hiểm xã hội còn cao và chưa có cơ chế bảo vệ hiệu quả đối với lao động nền tảng
trong môi trường số. Từ những
bất cập trên, báo cáo
đề xuất hoàn thiện pháp luật về việc làm, mở rộng quyền lợi bảo hiểm xã hội và
bảo hiểm thất nghiệp, giảm gánh nặng chi phí tham gia bảo hiểm, đồng thời tăng
cường tuyên truyền và hỗ trợ để mở rộng độ bao phủ an sinh xã hội cho lao động
phi chính thức.
Toàn cảnh buổi tọa đàm khoa học
Tọa đàm đã thu nhận nhiều ý kiến trao đổi về các tham luận cũng như thảo
luận sôi nổi về các nội dung liên quan đến các vấn đề như: kinh tế nền tảng, phân
biệt giữa quyền lao động và quyền có việc làm, lao động số và lao động làm việc
trên môi trường số…