image banner
VI | EN
Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu tới bạn đọc bài viết của NCV. Đặng Hồng Nga, đoàn viên Chi đoàn Viện Nhà nước và Pháp luật. Bài viết tuyên truyền về chủ đề "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng", được thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ do Chi bộ Viện Nhà nước và Pháp luật giao Chi đoàn triển khai, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát huy vai trò của đoàn viên, thanh niên trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Anh-tin-bai
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự kết hợp hài hòa giá trị dân tộc và giá trị thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề quyền con người xuất phát từ truyền thống dân tộc Việt Nam và bối cảnh thực tiễn cụ thể của đất nước, đồng thời kế thừa tinh hoa tư tưởng quyền con người trên thế giới, đặc biệt là vận dụng sáng tạo tư tưởng giải phóng con người và xã hội của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.[1]

Khác với các bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789) chỉ khẳng định các quyền cá nhân với tư cách các quyền tự nhiên mang tính tiền định,[i2] Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945 đồng thời khẳng định quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, và nối liền chúng với quyền tự do, bình đẳng, và mưu cầu hạnh phúc cho từng cá nhân.[3]

Trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng và phổ quát hóa những giá trị nhân quyền cốt lõi khi viết: "Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".[4] Tư tưởng này không dừng lại ở tuyên ngôn lý luận mà được triển khai thành đường lối cụ thể trong hệ thống pháp luật và chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Tham luận phân tích hai góc độ phổ biến của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền: (1) Những ảnh hưởng đối nội trong việc định hình hệ thống pháp luật và tư tưởng cách mạng Việt Nam; và (2) Những tác động đối ngoại, thể hiện qua việc vận dụng tư tưởng nhân quyền vào đường lối ngoại giao hiện đại của Việt Nam.

2. Ảnh hưởng đến nội luật

2.1. Ảnh hưởng đến nền lập pháp: Từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ diễn ra vào ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt việc soạn thảo Hiến pháp là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách nhất.[5] Người trực tiếp chủ trì soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, được Quốc hội thông qua ngày 09/11/1946, trong đó xác định nguyên tắc "bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân" và dành nguyên Chương II gồm 18 điều quy định về quyền dân sự, chính trị, kinh tế và xã hội.[6]

Tinh thần đó tiếp tục được kế thừa và phát triển trong Hiến pháp 2013. Chương II của Hiến pháp 2013 quy định đầy đủ hơn về quyền con người và quyền công dân, phản ánh các cam kết tại các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên, bao gồm Công ước về quyền dân sự và chính trị, Công ước về quyền kinh tế – xã hội – văn hóa (ICESCR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), và Công ước về quyền trẻ em.[7]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền "của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" là xương sống của toàn bộ hệ thống hiến pháp này. Người khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ", và chính phủ chỉ là "đày tớ" của nhân dân, không có quyền vi phạm các quyền con người và quyền công dân trong khi thực thi nhiệm vụ.[8] Đây là luận điểm mang tính nền tảng, phân biệt nhà nước xã hội chủ nghĩa kiểu Việt Nam với mô hình nhà nước pháp lý thuần túy của phương Tây.[9]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người xuất phát từ tư tưởng về giải phóng con người gắn với giải phóng giai cấp, dân tộc và toàn nhân loại, có giá trị thời đại sâu sắc, luôn là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.[10] Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hóa tinh thần đó bằng phương hướng: "Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân".[11]

2.2. Ảnh hưởng đến tư tưởng cách mạng

Tư tưởng nhân quyền của Hồ Chí Minh không chỉ ảnh hưởng đến nền lập pháp mà còn trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tư tưởng cách mạng Việt Nam qua nhiều thế hệ. Điểm đặc sắc nhất là Người gắn kết chặt chẽ quyền con người với độc lập dân tộc: "Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ.[12]

Đây là một bước phát triển về mặt lý luận so với quan điểm nhân quyền tự do chủ nghĩa (liberal) của phương Tây vốn thường tách biệt quyền cá nhân khỏi các điều kiện kinh tế – xã hội. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền con người mang tính tổng thể: bao gồm cả quyền dân sự chính trị lẫn quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; bảo đảm cả quyền cá nhân và quyền tập thể; thống nhất tự do với công bằng và bình đẳng.[13]

Vậy, việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng này không chỉ là nhiệm vụ lý luận mà còn là yêu cầu thực tiễn cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức mới về nhân quyền.

3. Tác động đối ngoại – Ngoại giao nhân quyền

3.1. Tư tưởng ngoại giao nhân quyền phản ánh trong “Yêu sách của Nhân dân An Nam”

Nguồn gốc của tư tưởng ngoại giao nhân quyền Hồ Chí Minh được phản ánh trong Yêu sách của Nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị quốc tế hòa bình Versailles với tám điểm: (i) tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; (ii) cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam; (iii) tự do báo chí và tự do ngôn luận; (iv) tự do lập hội và hội họp; (v) tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; (vi) tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; (vii) thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; và (viii) thành lập Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.[14]

Đây là lần đầu tiên một đại diện của nhân dân Việt Nam chính thức đề nghị cộng đồng quốc tế công nhận các quyền con người cơ bản cho người dân thuộc địa, bao gồm quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, quyền học tập và phát triển về kỹ thuật và chuyên nghiệp[15]

Tám điểm yêu sách này không chỉ là những đòi hỏi chính sách trước mắt mà còn là lời tuyên bố mang tầm tư tưởng: người bị trị có quyền yêu cầu được đối xử với phẩm giá con người bình đẳng, bất kể nguồn gốc chủng tộc hay địa vị thực dân. Mặc dù Hội nghị Versailles không phản hồi bản yêu sách này, hành động đó đã khơi dậy tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết gắn liền với quyền con người của mỗi cá nhân mà sau này trở thành nền tảng của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945.[16]

Diễn giải dưới góc độ phân tích chính sách đối ngoại, tư tưởng của Hồ Chí Minh phản ánh mối quan hệ song song không thể tách rời giữa yêu sách đòi độc lập cho dân tộc và tự do cho mỗi người, thể hiện qua lời kêu gọi đối phương phải "công nhận các quyền cá nhân của mỗi người trong các hiệp ước quốc tế".[17] Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh từ rất sớm đã nhận thức được vai trò của các thể chế quốc tế trong bảo đảm nhân quyền.

3.2. Tư tưởng đối ngoại của Việt Nam và góc nhìn nhân quyền

Tư tưởng ngoại giao nhân quyền của Hồ Chí Minh được đặc trưng bởi hai nguyên tắc cốt lõi: (i) nhân quyền phải gắn liền với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia; và (ii) ngoại giao nhân quyền phải dựa trên đối thoại và hợp tác bình đẳng, không phải áp đặt hay can thiệp.

Trong thực tiễn đối ngoại hiện đại, Việt Nam đã tích cực tham gia đầy đủ các công ước quốc tế cơ bản và quan trọng nhất về quyền con người, đồng thời thực hiện chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa trên nền tảng tôn trọng chủ quyền quốc gia lẫn nhau.[18] Phương thức này phản ánh trực tiếp tư tưởng của Hồ Chí Minh: quyền con người được thúc đẩy tốt nhất thông qua hợp tác quốc tế chân thành và bình đẳng, chứ không phải qua các biện pháp áp lực hay can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác.

3.3. Tính hợp lý của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với bối cảnh tại Việt Nam

Để đánh giá sâu hơn tư tưởng ngoại giao nhân quyền của Hồ Chí Minh, cần so sánh với mô hình ngoại giao nhân quyền của Mỹ, một trong những quốc gia luôn thúc đẩy ngoại giao nhân quyền nhằm phục vụ mục đích tăng cường ảnh hưởng của quyền lực mềm quốc gia trên phạm vi toàn cầu.

Mỹ đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống nhân quyền phổ quát sau Thế chiến II. Điều này được thực hiện qua hành động của Mỹ khi là nhân tố lãnh đạo trong việc hoàn thiện và phát triển Tuyên ngôn Nhân quyền Phổ quát (UDHR) năm 1948, với Eleanor Roosevelt làm chủ tịch ủy ban soạn thảo.[19] Tuy nhiên, cũng theo các nhà nghiên cứu này, mô hình ngoại giao nhân quyền của Mỹ ngày nay, đặc biệt dưới một số chính quyền, có xu hướng thay thế khuôn khổ nhân quyền phổ quát bằng khái niệm "quyền tự nhiên" (natural rights) dựa trên cơ sở tôn giáo và truyền thống phương Tây, vốn "đặt chủ quyền quốc gia lên cao, phủ nhận tính phổ quát" và "đặt tự do tôn giáo và quyền tài sản lên trên bình đẳng về giới và chủng tộc".

Cách tiếp cận này có hai hệ quả đáng lo ngại: Thứ nhất, nó dẫn đến sự phân cấp quyền con người, coi một số quyền "hợp pháp" hơn những quyền khác.[20] Thứ hai, nó được sử dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác dưới danh nghĩa thúc đẩy nhân quyền, nhưng thực chất phục vụ cho lợi ích địa chính trị.[21] Điều này đi ngược lại với tinh thần nguyên tác phổ quát (principle of universality) về nhân quyền khi cho rằng mỗi cá nhân đều được hưởng các quyền con người một cách bình đẳng như nhau.[22]

Trong khi đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền mang tính hợp lý và bền vững hơn ở chỗ: Hồ Chí Minh công nhận tính phổ quát của nhân quyền (thể hiện rõ qua việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp), đồng thời nhấn mạnh rằng việc thực hiện nhân quyền phải xuất phát từ nội tại mỗi quốc gia, dựa trên nền tảng độc lập dân tộc và không thể bị áp đặt từ bên ngoài. Đây là sự dung hòa sáng tạo giữa chủ nghĩa phổ quát (universalism) và chủ quyền quốc gia, tránh được cả hai thái cực: chủ nghĩa tương đối văn hóa (cultural relativism) phủ nhận tính phổ quát và chủ nghĩa can thiệp (interventionism) lấy danh nghĩa nhân quyền.

Mô hình này đặc biệt phù hợp với bối cảnh quốc tế đương đại, khi ngày càng nhiều quốc gia đang phát triển phản đối việc nhân quyền bị dùng làm công cụ gây sức ép địa chính trị. Như vậy, tư tưởng của Hồ Chí Minh "vẫn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay, khi chúng ta và cả cộng đồng nhân loại tiến bộ trên thế giới đều nhận thức một cách rõ ràng rằng, trong thời đại ngày nay, việc bảo vệ quyền con người phải được gắn kết với những mục tiêu lớn của nhân loại: hòa bình và an ninh quốc tế, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội".[23]

4. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là một hệ thống tư tưởng phong phú, toàn diện và có giá trị thực tiễn cao, thể hiện trên cả hai chiều kích đối nội và đối ngoại.

Về đối nội, tư tưởng này đã trực tiếp định hình nền tảng pháp lý Việt Nam từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013, đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển. Về đối ngoại, khởi nguồn từ bản Yêu sách của Nhân dân An Nam năm 1919, tư tưởng Hồ Chí Minh đã khai sinh một mô hình ngoại giao nhân quyền độc đáo: vừa công nhận tính phổ quát của nhân quyền, vừa tôn trọng chủ quyền và không áp đặt từ bên ngoài. Đây không chỉ là di sản lịch sử mà còn là nguồn lực tư tưởng quan trọng cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là yêu cầu không chỉ của học thuật mà còn của thực tiễn quản trị nhà nước và đối ngoại.

(NCV. Đặng Hồng Nga, Chi đoàn Viện Nhà nước và Pháp luật)

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (2013). Cách đây 94 năm (18/6/1919 – 18/6/2013): Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Versailles bản yêu sách của nhân dân Việt Nam. https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2002/68023/cach-djay-94-nam-18-6-1919-18-6-2013-nguyen-ai-quoc-gui-toi-hoi-nghi-vecxay-versailles-ban-yeu-sach-cua-nhan-dan-viet-nam.html.

2.  Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (2025). Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là trung tâm, mục tiêu, động lực phát triển đất nước. https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3096/75507/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-quyen-con-nguoi-la-trung-tam-muc-tieu-djong-luc-phat-trien-djat-nuoc.html.

3.  Cormier Smith, D., & Stern, J. (2025, December 10). The U.S. helped build the universal human rights system. "Natural rights" would tear it down. Carr-Ryan Center for Human Rights, Harvard Kennedy School. https://www.hks.harvard.edu/centers/carr-ryan/our-work/carr-ryan-commentary/us-helped-build-universal-human-rights-system.

4.  Đặng Hữu Toàn. (2015). Quyền dân tộc và quyền con người trong Tuyên ngôn Độc lập. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, (10/95), 25–33.

5.  Dương Văn Quảng (Chủ biên). (2020). Ngoại giao: Lý luận và thực tiễn (ISBN: 9786043450781). Nhà xuất bản Thế Giới.

6.  Nguyễn Minh Trí. (2022, ngày 9 tháng 7). Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn.

7.  Nguyễn Thị Báo. (2025, ngày 24 tháng 1). Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Quản lý Nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/01/24/nghien-cuu-van-dung-va-phat-trien-sang-tao-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-quyen-con-nguoi-trong-ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-viet-nam/.

8.  U.S. Department of State. (2009–2017). Democracy, human rights, and labor. https://2009-2017.state.gov/j/drl/hr/.



[1] Nguyễn Thị Báo. (2025, ngày 24 tháng 1). Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Quản lý Nhà nước.

[2] Đặng Hữu Toàn. (2015). Quyền dân tộc và quyền con người trong Tuyên ngôn Độc lập. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, (10/95), 25–33.

[3] Như trên

[4] Như trên.

[5] Nguyễn Minh Trí. (2022, ngày 9 tháng 7). Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn.

[6] Như trên.

[7] Như trên.

[8] Như trên.

[9] Như trên.

[10] Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (2025). Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là trung tâm, mục tiêu, động lực phát triển đất nước. https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3096/75507/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-quyen-con-nguoi-la-trung-tam-muc-tieu-djong-luc-phat-trien-djat-nuoc.html.

[11] Như chú thích 5.

[12] Như trên.

[13] Như trên.

[14] Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (2013). Cách đây 94 năm (18/6/1919 – 18/6/2013): Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Versailles bản yêu sách của nhân dân Việt Nam. https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2002/68023/cach-djay-94-nam-18-6-1919-18-6-2013-nguyen-ai-quoc-gui-toi-hoi-nghi-vecxay-versailles-ban-yeu-sach-cua-nhan-dan-viet-nam.html.

[15] Dương Văn Quảng (Chủ biên). (2020). Ngoại giao: Lý luận và thực tiễn (ISBN: 9786043450781). Nhà xuất bản Thế Giới.

[16] Như chú thích 2.

[17] Như chú thích 15.

[18] Như chú thích 5

[19] Cormier Smith, D., & Stern, J. (2025, December 10). The U.S. helped build the universal human rights system. "Natural rights" would tear it down. Carr-Ryan Center for Human Rights, Harvard Kennedy School. https://www.hks.harvard.edu/centers/carr-ryan/our-work/carr-ryan-commentary/us-helped-build-universal-human-rights-system

[20] Như trên.

[21] Như trên.

[22] OHCHR, What are human rights?. https://www.ohchr.org/en/what-are-human-rights.

[23] Như chú thích 2.


Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1