image banner
VI | EN
Xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống và phát huy vai trò của nhân dân trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết của ThS. Bùi Thị Hường (phòng Luật Quốc tế và Quyền con người, Viện Nhà nước và Pháp luật). Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ do Chi bộ Viện Nhà nước và Pháp luật giao nhằm tuyên truyền về Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
 
Anh-tin-bai
Hình minh họa. Ảnh: Qdnd.vn

 

Trong bối cảnh môi trường thông tin biến đổi sâu sắc dưới tác động của chuyển đổi số, việc xây dựng một hệ sinh thái thông tin chính thống vững mạnh, đồng thời phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới đã đề cập đến việc xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trong chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.

1. Nội dung chính của Nghị quyết số 25-NQ/TW về xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống và phát huy vai trò của nhân dân

- Xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống: Từ mục tiêu đến giải pháp

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển nhanh chóng của Internet, mạng xã hội và các công nghệ truyền thông mới đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, tiếp nhận, chia sẻ và lan truyền thông tin trong đời sống xã hội. Quyền tiếp cận thông tin ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước và xã hội, tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan công quyền. Tuy nhiên, sự bùng nổ thông tin cũng đặt ra những thách thức chưa từng có: thông tin sai sự thật, thông tin xuyên tạc, tin giả và các nội dung bị thao túng có thể lan truyền với tốc độ nhanh, gây nhiễu loạn nhận thức xã hội, làm suy giảm niềm tin của công chúng và ảnh hưởng đến sự đồng thuận xã hội. Vì vậy, trong bối cảnh mới hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin của người dân, mà còn phải đảm bảo người dân được tiếp cận thông tin chính thống.

Nghị quyết số 25-NQ/TW (sau đây viết tắt là Nghị quyết) đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030: “100% cấp xã có lực lượng làm công tác tư tưởng, hoạt động thường xuyên tại từng địa bàn dân cư; 100% cấp xã kết nối hệ thống thông tin nguồn; người dân ở mọi địa bàn tiếp cận được thông tin chính thống hai chiều”[1]. Đây là những chỉ tiêu định lượng quan trọng, thể hiện quyết tâm xây dựng một hệ thống thông tin chính thống phủ khắp, liên thông và thực chất.

Trong phần này, Nghị quyết nhắc đến thuật ngữ thông tin nguồn. Vậy thông tin nguồn là gì? Đầu tiên về khái niệm thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 ngày 23/4/2026 tin giải thích: “Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan, đơn vị tạo ra hoặc nắm giữ”[2]

Thông tin nguồn được hiểu là: là bản tin dưới dạng dữ liệu số do các cơ quan, tổ chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện cung cấp và được quản lý, lưu giữ trên Hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở[3].

Như vậy, nội dung này được hiểu là chính quyền cơ sở được kết nối thông tin chính thống từ cấp cao hơn.

Đồng thời, Nghị quyết nhắc đến thuật ngữ “Thông tin chính thống hai chiều”, trong phần nhiệm vụ, giải pháp cũng tiếp tục đề cập đến nội dung: Đổi mới căn bản nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống thông tin cơ sở; đưa thông tin chính thống đến với mọi người dân kịp thời, đầy đủ, hai chiều…[4]. Thông tin hai chiều này được hiểu là quá trình trao đổi thông tin diễn ra theo cả hai hướng từ bên cung cấp và bên nhận thông tin, bảo đảm thông tin đưa ra được tiếp cận và có cơ chế phản hồi lại.

Để hiện thực hóa mục tiêu đảm bảo người dân được tiếp cận thông tin chính thống, Nghị quyết đề ra giải pháp “Phát triển hệ sinh thái nội dung tích cực, nhân văn trên cả không gian thực và không gian số, bảo đảm cái đúng, cái tốt, cái đẹp được lan toả rộng rãi, trở thành dòng chủ lưu”[5].

Như vậy, các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin phải tiến hành các biện pháp để xây dựng hệ sinh thái thông tin trong bối cảnh mới để người dân cả ở đời thực và trên không gian số tiếp cận được.

Trong đó, thông tin trên không gian số có một số đặc điểm

Thứ nhất, tính nhanh chóng và khả năng lan truyền rộng rãi. Thông tin có thể được tạo lập, chia sẻ và tiếp cận gần như tức thời, vượt qua giới hạn về không gian và thời gian, tiếp cận số lượng lớn người dùng trong thời gian ngắn.

Thứ hai, tính đa dạng và đa chiều. Thông tin tồn tại dưới nhiều hình thức như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video và dữ liệu số; được tạo ra bởi các cơ quan báo chí, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, phản ánh nhiều góc nhìn khác nhau về cùng một vấn đề.

Thứ ba, tính tương tác và khả năng tham gia của người dùng. Người dùng không chỉ tiếp nhận mà còn trực tiếp tạo lập, bình luận, chia sẻ và lan truyền thông tin, góp phần hình thành và định hướng dư luận xã hội.

Thứ tư, nguy cơ bị sai lệch. Việc tạo lập, chỉnh sửa, sao chép thông tin dễ dàng, cùng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, làm gia tăng nguy cơ xuất hiện tin giả, thông tin xuyên tạc và nội dung giả mạo khó nhận diện.

Chính vì vậy, để thực hiện thông tin chính thống Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ, giải pháp Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng: Chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội thông qua công khai, minh bạch thông tin, chủ động cung cấp thông tin chính thống, tăng cường đối thoại và tiếp thu phản biện xã hội[6].

Như vậy, để tạo thông tin chính thống thì các thông tin phải được công khai, minh bạch và các cơ quan Nhà nước phải chủ động cung cấp thông tin chính thống.

Đồng thời, Nghị quyết đã đặt ra vấn đề không chỉ quản lý thông tin, mà cần tiến hành các biện pháp để “dẫn dắt nhận thức xã hội” – Dẫn dắt nhận thức không có nghĩa là áp đặt nhận thức. Để làm được việc dẫn dắt nhận thức xã hội thì phải định hướng hiệu quả, muốn định hướng hiệu quả thì: trước hết phải hiểu xã hội đang quan tâm điều gì, băn khoăn điều gì và vì sao một thông tin lại có thể tạo ra những phản ứng mạnh[7].

Việc chuyển từ “quản lý” sang “dẫn dắt” đòi hỏi Đảng không chỉ phản ứng trước các luồng tin mà phải chủ động định hình dòng chảy tư tưởng thông qua việc cung cấp thông tin chính thống công khai, minh bạch, có tính dự báo sớm và khả năng thuyết phục cao.

Một điểm nhấn quan trọng là việc “đổi mới căn bản nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống thông tin cơ sở; đưa thông tin chính thống đến với mọi người dân kịp thời, đầy đủ, hai chiều, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, đối tượng, có lộ trình phù hợp đối với vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”[8]. Điều này cho thấy hệ sinh thái thông tin chính thống không phải là một khối thống nhất cứng nhắc, mà phải linh hoạt, phù hợp với từng nhóm công chúng, từng địa bàn.

Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng yêu cầu “bảo đảm nguyên tắc một vụ việc – một đầu mối phát ngôn – một bộ thông điệp thống nhất trên cả không gian thực và không gian số”. Nguyên tắc này giúp tránh tình trạng thông tin chồng chéo, mâu thuẫn, gây hoang mang dư luận, đồng thời tăng cường tính chính thống và độ tin cậy của thông tin từ các cơ quan chức năng.

Về hạ tầng và công nghệ, Nghị quyết yêu cầu “đầu tư hiện đại hoá hạ tầng, thiết chế thông tin cơ sở: Số hoá, hiện đại hoá hệ thống đài truyền thanh cấp xã, bảng tin, cụm thông tin cổ động, thư viện, tủ sách và các thiết chế văn hoá – thông tin; xây dựng, vận hành hệ thống thông tin nguồn, hệ thống dữ liệu và nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung liên thông từ Trung ương tới cấp xã”[9]. Đây là những giải pháp có tính đột phá về hạ tầng, tạo nền tảng vật chất cho việc lan tỏa hệ sinh thái thông tin chính thống.

Đáng chú ý, Nghị quyết đặt mục tiêu “cả nước hình thành mạng lưới 15.000 – 20.000 người có uy tín, người có ảnh hưởng tích cực tham gia công tác tư tưởng”.   Đây là con số cụ thể, thể hiện quyết tâm huy động nguồn lực xã hội rộng lớn cho công tác tư tưởng, không chỉ dựa vào bộ máy chuyên trách.

- Phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân: Từ "đối tượng" thành "chủ thể"

Một trong những quan điểm chỉ đạo quan trọng của Nghị quyết là: "Con người là trung tâm, đội ngũ cán bộ giữ vai trò then chốt, niềm tin của Nhân dân là thước đo cao nhất; Nhân dân là chủ thể tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng"[10]. Đây là sự khẳng định rõ ràng về vai trò của Nhân dân, không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin, mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Nghị quyết yêu cầu "phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong tiếp nhận, chia sẻ, lan toả thông tin chính thống, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; củng cố vững chắc thế trận lòng dân"[11]. Điều này có nghĩa là mỗi người dân cần được trang bị kiến thức, kỹ năng để, có khả năng nhận diện thông tin sai lệch, không tiếp tay cho nội dung xấu độc, đồng thời chủ động lan tỏa thông tin chính xác và những giá trị tích cực.

Để làm được điều đó, Nghị quyết đề ra giải pháp "xây dựng, phát triển mạng lưới người có uy tín, người có ảnh hưởng tích cực với tiêu chí lựa chọn, cơ chế kết nối, phát huy và trách nhiệm rõ ràng; hình thành lực lượng chính luận nòng cốt, tiêu biểu có uy tín, năng lực và sức lan tỏa"[12]. Đây là cách tiếp cận mới, không chỉ dựa vào cơ quan chuyên trách, mà huy động sức mạnh của cộng đồng, của những người có uy tín trong xã hội.

Đặc biệt, mục 6, phần III Nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh việc "đưa văn hóa số, kỹ năng thông tin số và năng lực kiểm chứng thông tin vào chương trình giáo dục từ phổ thông đến đại học, nâng cao sức đề kháng của Nhân dân trước thông tin xấu độc". Đây là giải pháp mang tính chiến lược, dài hạn, trang bị cho thế hệ trẻ - những công dân số tương lai - khả năng tự bảo vệ mình trước làn sóng thông tin phức tạp.

- Trách nhiệm của hệ thống chính trị và các lực lượng nòng cốt

Để xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống và phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, Nghị quyết xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

Đối với các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản, Nghị quyết yêu cầu "chủ động đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức quản trị theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, đủ năng lực dẫn dắt, đủ sức cạnh tranh trên không gian số, đáp ứng yêu cầu của nền báo chí cách mạng trong bối cảnh mới. Giữ vững dòng thông tin chủ lưu, định hướng dư luận xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch" (Mục 9, phần IV). Đồng thời, "cơ quan chủ quản và người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm trước Đảng về định hướng chính trị và chất lượng nội dung; xây dựng đội ngũ phóng viên, biên tập viên, người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, năng lực số và khả năng thích ứng với môi trường truyền thông mới".

Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, Nghị quyết yêu cầu "phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lan tỏa thông tin chính thống; đẩy mạnh giám sát, phản biện xã hội đối với các vấn đề lớn, phức tạp, nhạy cảm; vận động các tầng lớp Nhân dân, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia thực hiện Nghị quyết" (Mục 8, phần IV).

Đối với cấp ủy, chính quyền địa phương, Nghị quyết yêu cầu "lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai phù hợp với địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm nguồn lực; chỉ đạo vận hành hệ thống thông tin cơ sở liên thông với nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung; nắm chắc tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, rủi ro truyền thông, điểm nóng từ cơ sở; chỉ đạo bố trí lực lượng làm công tác tư tưởng và duy trì nền nếp sinh hoạt tư tưởng ở từng địa bàn dân cư; người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả" (Mục 10, phần IV).

2. Một số đề xuất để triển khai đưa Nghị quyết vào cuộc sống

Từ những nội dung trong tài liệu về Nghị quyết số 25-NQ/TW, có thể thấy xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống không đơn thuần là phát triển hạ tầng công nghệ, tăng số lượng tin, bài hoặc đẩy mạnh tuyên truyền. Đây là quá trình đổi mới đồng bộ từ thể chế, tổ chức cung cấp thông tin, phương thức truyền thông đến cơ chế tiếp nhận phản hồi và sự tham gia của Nhân dân.

Điểm cốt lõi là chuyển từ tư duy chủ yếu quản lý, kiểm soát dòng thông tin sang chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, minh bạch, có khả năng thuyết phục; đồng thời hình thành một môi trường thông tin trong đó người dân có thể tiếp cận, kiểm chứng, phản hồi và tham gia lan tỏa những giá trị tích cực. Nghị quyết đã nhấn mạnh ba định hướng quan trọng: kết nối thông tin nguồn từ Trung ương đến cơ sở; phát triển hệ sinh thái nội dung tích cực trên cả không gian thực và không gian số; phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong tiếp nhận, chia sẻ và lan tỏa thông tin chính thống.

Trên cơ sở đó, để hiện thực hóa những nội dung của Nghị quyết, chúng ta phải nhận thức được các thách thức đặt ra đối với việc xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống như: Thách thức về cách thức quản lý thông tin; Thách thức về chất lượng, tính kịp thời và độ tin cậy của thông tin chính thống; Thách thức về hạ tầng số, dữ liệu và năng lực công nghệ; Thách thức về nhân lực và năng lực truyền thông số ở cơ sở... 

Thời gian qua, chúng ta đang thực hiện mốt số hoạt động để xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống trong bối cảnh mới như: công tác số hóa tài liệu, ví dụ gần đây các cơ quan, Bộ ngành tiến hành chiến dịch 100 ngày số hóa (một trong những hoạt động để thực hiện Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị do Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ban hành ngày 11 tháng 7 năm 2026); Tiến hành phong trào “Bình dân học vụ số” để tăng cường năng lực cho người dân khi tiếp cận thông tin trên môi trường số. Đổi mới cách thức cung cấp thông tin, tuyên truyền và các nền tảng cung cấp thông tin tận dụng công nghệ số để tuyên truyền, cung cấp thông tin...[13].

Trong thời gian tới, để xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp:

Xây dựng hạ tầng số và dữ liệu thông tin nguồn dùng chung bằng việc tiếp tục hoạt động số hóa có hướng dẫn và cách làm phù hợp, tránh tình trạng mỗi cơ quan xây dựng một nền tảng riêng, dữ liệu không thể chia sẻ hoặc người dân phải tìm kiếm thông tin trên quá nhiều kênh. Thay vào đó, cần ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu, kết nối các hệ thống hiện có và xác định nguồn thông tin có thẩm quyền đối với từng nhóm nội dung.

Đổi mới phương thức cung cấp thông tin theo hướng đa kênh, hai chiều. Thông tin chính thống cần được tổ chức theo hướng lấy nhu cầu của người dân làm điểm xuất phát. Với cùng một chính sách, có thể cần nhiều hình thức thể hiện: văn bản đầy đủ để tra cứu, bản giải thích ngắn gọn, câu hỏi thường gặp, đồ họa thông tin, video, chương trình phát thanh hoặc buổi đối thoại trực tiếp.

Phát triển lực lượng nòng cốt và phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân

Hệ sinh thái thông tin chính thống không thể vận hành hiệu quả nếu chỉ dựa vào cơ quan báo chí và bộ máy quản lý. Cần hình thành mạng lưới phối hợp giữa cán bộ thông tin cơ sở, cơ quan báo chí, chuyên gia, nhà nghiên cứu, tổ chức xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng. Theo định hướng được nêu trong tài liệu, Nghị quyết đặt mục tiêu hình thành mạng lưới 15.000–20.000 người có uy tín, người có ảnh hưởng tích cực tham gia công tác tư tưởng[14]. Để mục tiêu này tạo ra hiệu quả thực chất, việc lựa chọn và phát huy lực lượng cần dựa trên tiêu chí minh bạch, năng lực chuyên môn, uy tín xã hội và trách nhiệm rõ ràng.

Thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá và cải tiến liên tục việc xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống. Kết quả triển khai phải được đo lường bằng chất lượng phục vụ, khả năng tiếp cận, mức độ xử lý phản hồi và niềm tin của công chúng; Từ đó điều chỉnh chính sách và phương thức vận hành.

Kết luận: Xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống là một quá trình đổi mới tổng thể, trong đó công nghệ chỉ là điều kiện hỗ trợ, còn chất lượng thể chế, năng lực tổ chức thực hiện và niềm tin của Nhân dân mới là những yếu tố quyết định tính bền vững.

Thách thức lớn nhất không phải là thiếu kênh truyền tải thông tin, mà là bảo đảm thông tin chính thống thực sự có chất lượng, đến đúng người, đúng thời điểm, có khả năng giải đáp những vấn đề xã hội quan tâm và tạo ra cơ chế tương tác hiệu quả. Vì vậy, triển khai Nghị quyết cần tránh cách tiếp cận thiên về hình thức, chỉ chú trọng xây dựng nền tảng hoặc hoàn thành các chỉ tiêu số lượng.

Về lâu dài, hệ sinh thái thông tin chính thống chỉ có thể phát huy hiệu quả khi hình thành được một chu trình khép kín: cơ quan có trách nhiệm chủ động cung cấp thông tin; hệ thống thông tin bảo đảm khả năng tiếp cận và kiểm chứng; người dân tham gia phản hồi và lan tỏa; cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, giải trình và cải thiện chất lượng cung cấp thông tin. Đây chính là nền tảng để chuyển các mục tiêu của Nghị quyết thành kết quả cụ thể trong đời sống xã hội, góp phần củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận và nâng cao hiệu quả quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.

2. Ban Bí thư (2026), Kế hoạch số 08-KH/TW ngày 22/8/2026 thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW.

3. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Hướng dẫn số 47-HD/BTGDVTW ngày 31/12/2025, hướng dẫn công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên năm 2026.

4. PGS, TS. Đỗ Chí Nghĩa, Từ quản lý thông tin đến dẫn dắt nhận thức xã hội, trên https://congan.quangtri.gov.vn/tu-quan-ly-thong-tin-den-dan-dat-nhan-thuc-xa-hoi/

ThS. Bùi Thị Hường (Viện Nhà nước và Pháp luật)

 


[1] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW về chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, ngày 22/8/2026, mục tiêu 4, phần II.

[2] Khoản 1, Điều 2, Luật Tiếp cận Thông tin 2026.

[3] Khoản 1, Điều 3, Quyết định số 281/QĐ-BTTTT ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Bộ Thông tin và Truyền thông (về việc ban hành Quy chế tạm thời quản lý, vận hành, sử dụng và bảo đảm an toàn thông tin Hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở trung ương).

[4] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 2, phần III.

[5] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 6, phần III.

[6] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 1, phần III.

[7] Theo: PGS, TS. Đỗ Chí Nghĩa, Từ quản lý thông tin đến dẫn dắt nhận thức xã hội, trên https://congan.quangtri.gov.vn/tu-quan-ly-thong-tin-den-dan-dat-nhan-thuc-xa-hoi/, ngày 11/9/2026.

[8] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 2, phần III.

[9] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 8, phần III.

[10] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 4, phần I.

[11] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 6, phần III

[12] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 6, phần III.

[13] Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Hướng dẫn số 47-HD/BTGDVTW, ngày 31/12/2025 hướng dẫn công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên năm 2026.

[14] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 25-NQ/TW, mục 4, phần III.

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1