Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tập trung 5 giải pháp nâng chất lượng nghiên cứu
Nhân Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam xác định 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao nghiên cứu cơ bản, tư vấn chính sách, đào tạo và hiện đại hóa hạ tầng tri thức.
Đổi mới tư duy nghiên cứu
Sáng ngày 18/5/2026, Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo
Việt Nam 2026, phát đi thông điệp mạnh mẽ về đổi mới tư duy nghiên cứu, nâng
cao chất lượng tư vấn chiến lược và xây dựng khoa học xã hội, nhân văn trở
thành nền tảng tri thức quan trọng phục vụ phát triển đất nước.
Lễ kỷ niệm
Phát biểu tại buổi lễ, GS.TS Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương
Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Viện cho biết, ngày 18/5 không chỉ là dịp tôn
vinh đội ngũ những người làm khoa học, mà còn là thời điểm để nhìn lại chặng đường
phát triển, đánh giá những kết quả đạt được và xác định rõ hơn trách nhiệm đổi
mới của Viện Hàn lâm trong giai đoạn phát triển mới.
Cách đây 63 năm, ngày 18/5/1963, Hồ Chí Minh đã dự Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội Phổ biến Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và
nhấn mạnh: Khoa học phải gắn với sản xuất, phục vụ nhân dân, góp phần nâng cao
năng suất lao động và cải thiện đời sống xã hội. Tư tưởng đó tiếp tục trở thành
kim chỉ nam cho sự phát triển của nền khoa học nước nhà.
GS.TS Lê Văn Lợi phát biểu tại Lễ kỷ niệm Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 2026
Trải qua hơn bảy thập kỷ xây dựng và phát triển, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã hình thành hệ thống viện nghiên cứu, đơn vị đào
tạo, tạp chí, xuất bản, bảo tàng và thông tin khoa học có uy tín; thực hiện nhiều
nhiệm vụ nghiên cứu lớn có giá trị lý luận và thực tiễn cao; cung cấp nhiều luận
cứ khoa học quan trọng phục vụ hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước.
Đặc biệt, mới đây việc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam trở lại là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng theo Quyết định
số 12-QĐ/TW ngày 30/3/2026 của Bộ Chính trị được đánh giá là bước chuyển chiến
lược, mở ra yêu cầu mới về vị trí, chức năng và trách nhiệm chính trị của Viện
trong hệ thống các cơ quan nghiên cứu, tham mưu của Đảng.
Nâng cao chất lượng nghiên cứu cơ bản
Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Viện Hàn lâm trở thành
trung tâm nghiên cứu trọng điểm quốc gia, ngang tầm khu vực và quốc tế theo
tinh thần Nghị quyết 45-NQ/TW, GS.TS Lê Văn Lợi đề nghị toàn Viện tập trung triển
khai 5 nhóm giải pháp trọng tâm.
Giải pháp đầu tiên được xác định là tiếp tục nâng cao chất
lượng nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, coi đây là
nền tảng cốt lõi tạo nên bản sắc, uy tín và năng lực đóng góp của Viện.
Lãnh đạo Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội tặng Bằng khen cho tập thể và cá nhân có thành tích trong nghiên cứu, tư vấn chính sách. Ảnh: Cổng TTĐT VASS
Viện sẽ tập trung nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm sâu sắc hơn lý luận về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tiếp tục tổng kết
thực tiễn đổi mới và mô hình phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Cùng với đó, Viện đẩy mạnh nghiên cứu về thể chế phát triển,
quản trị quốc gia, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước
pháp quyền, dân chủ xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi
xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Các nghiên cứu về văn hóa, lịch sử, con người, hệ giá trị quốc
gia, hệ giá trị gia đình, dân tộc, tôn giáo, an sinh xã hội và phát triển con
người cũng tiếp tục được ưu tiên nhằm tạo nền tảng lý luận phục vụ phát triển bền
vững.
Giải pháp thứ hai là nâng cao chất lượng công tác tư vấn và
tham gia đánh giá việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước về lĩnh vực xã hội và nhân văn.
Theo lãnh đạo Viện, trong mô hình tổ chức mới, kết quả
nghiên cứu của Viện phải phục vụ trực tiếp hơn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.
Điều này đòi hỏi các báo cáo tư vấn không chỉ bảo đảm tính
khoa học mà còn phải trúng vấn đề, kịp thời, có địa chỉ cụ thể, khả thi và có
thể hỗ trợ hiệu quả cho quá trình ra quyết định. Viện cũng đặt mục tiêu hình
thành các nhóm nghiên cứu mạnh, có năng lực nghiên cứu thực chứng, phân tích dữ
liệu, đánh giá tác động chính sách, khảo sát xã hội và dự báo chiến lược để đáp
ứng yêu cầu mới.
Giải pháp thứ ba là đổi mới đào tạo sau đại học và mở rộng hợp
tác quốc tế theo chiều sâu. Hoạt động đào tạo sau đại học sẽ được đặt trong tổng
thể nhiệm vụ xây dựng đội ngũ, gắn kết chặt chẽ hơn giữa các viện nghiên cứu
chuyên ngành với hoạt động đào tạo. Các nhà khoa học được khuyến khích tham gia
sâu hơn vào công tác giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu, đồng thời mở rộng các
ngành đào tạo mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Song song với đó, hợp tác quốc tế sẽ được đẩy mạnh theo hướng
nghiên cứu chung, công bố chung, đào tạo chung, trao đổi học giả, chia sẻ dữ liệu,
tiếp cận phương pháp nghiên cứu mới và tham gia các mạng lưới học thuật quốc tế
dài hạn.
Giải pháp thứ tư được xác định là xây dựng và phát triển đội
ngũ cán bộ khoa học có chất lượng, đáp ứng yêu cầu vị thế mới của Viện. Viện sẽ
đẩy mạnh triển khai đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học; chú trọng đào tạo
thạc sĩ, tiến sĩ; tạo điều kiện cho cán bộ nghiên cứu xét chức danh giáo sư,
phó giáo sư; tăng cường đào tạo ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu, lý luận
chính trị và trải nghiệm thực tiễn tại cơ sở.
Giải pháp thứ năm là hiện đại hóa hạ tầng tri thức của Viện,
bao gồm dữ liệu khoa học, thư viện, tạp chí, xuất bản và bảo tàng.
Theo GS.TS Lê Văn Lợi, thời gian tới, các hoạt động
thông tin khoa học, dữ liệu, thư viện, tạp chí, xuất bản và bảo tàng không chỉ
là hoạt động hỗ trợ mà phải trở thành bộ phận cấu thành năng lực nghiên cứu,
năng lực tư vấn và sức ảnh hưởng học thuật của Viện.
Viện sẽ tập trung xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học xã hội
và nhân văn theo hướng thống nhất, liên thông, có khả năng chia sẻ và khai thác
hiệu quả; phát triển thư viện số, kho tư liệu chuyên ngành và các bộ dữ liệu
chuyên sâu phục vụ nghiên cứu, đào tạo và đánh giá chính sách.
Đối với hoạt động xuất bản, các tạp chí khoa học sẽ tiếp tục
được chuẩn hóa quy trình biên tập, phản biện, phát triển theo hướng điện tử, số
hóa, từng bước tiệm cận chuẩn mực khu vực và quốc tế.
Riêng lĩnh vực bảo tàng, Viện sẽ tiếp tục phát huy giá trị của
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cùng các kho tư liệu đặc thù theo hướng hiện đại,
tương tác, số hóa và hội nhập quốc tế.
Khẳng định quyết tâm đổi mới trong giai đoạn mới, GS.TS Lê
Văn Lợi nhấn mạnh, vị thế mới của Viện Hàn lâm chỉ thực sự có ý nghĩa khi được
chuyển hóa thành năng lực mới, chất lượng mới và những đóng góp mới, thiết thực
hơn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên hội nhập và
đổi mới sáng tạo.
Trưng bày thành tựu của Viện Thông tin Khoa học xã hội với chủ đề “Di sản tư liệu EFEO - từ lịch sử đến giá trị đương đại”
Trong khuôn khổ chương trình, Viện Hàn lâm cũng khai mạc
trưng bày thành tựu của Viện Thông tin Khoa học xã hội với chủ đề “Di sản tư liệu
EFEO - từ lịch sử đến giá trị đương đại”, giới thiệu nhiều tư liệu quý đã đồng
hành cùng tiến trình nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam suốt hơn một thế kỷ.