image banner
VI | EN
Tọa đàm khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về tư pháp phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”
Tọa đàm là hoạt động khoa học do phòng Pháp luật về Tư pháp thực hiện nằm trong chuỗi nghiên cứu chung trong năm 2026 của Viện, diễn ra ngày 10/4/2026 tại trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Anh-tin-bai
PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa (giữa) chủ trì buổi tọa đàm

Đông đảo các nhà khoa học trong Viện Nhà nước và Pháp luật tham dự tọa đàm. Chủ trì tọa đàm là PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa, Trưởng phòng Phòng Pháp luật về Tư pháp. Tham luận đầu tiên được trình bày tại tọa đàm có chủ đề “Trí tuệ nhân tạo trong hoạt động tư pháp” do ThS. Cao Thị Lê Thương trình bày. Tác giả đã giới thiệu 3 quốc gia/khu vực có sử dụng trí tuệ nhận tạo (AI) trong hoạt động tư pháp là Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU). Trong đó, Trung Quốc thiên về hiệu quả vận hành. Quốc gia này nhìn nhận AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế được con người, mà cụ thể là không thay thế thẩm phán trong hoạt động xét xử. Mô hình ở Hoa Kỳ thì thiên về quản trị rủi ro, còn EU thì lấy con người là trung tâm nên thiên về bảo vệ các quyền cơ bản của con người.

Anh-tin-bai
ThS. Cao Thị Lê Thương trình bày tham luận về trí tuệ nhân tạo trong hoạt động tư pháp

Bài viết đã đưa ra một số gợi mở cho Việt Nam: (i) Địa vị pháp lý: Cần xác định rõ AI là công cụ hỗ trợ hay tác nhân tự chủ; (ii) Lấy con người làm trung tâm và khẳng định AI chỉ là trí tuệ tăng cường, không thể thay thế sự thấu cảm bản lĩnh của thẩm phán; (iii) Khung trách nhiệm giải trình: Xác định rõ lỗi của nhà phát triển hay người dùng hay cơ quan tư pháp khi có sai sót; (iv) Chuẩn hóa dữ liệu: Sử dụng AI thì cần có dữ liệu đúng, đủ, sạch và sống; (v) Đào tạo nhân lực.

Tọa đàm tiếp tục lắng nghe tham luận thứ hai của ThS. Nguyễn Ngọc Mai, “Tội phạm hóa hành vi chiếm đoạt tài sản qua mạng trong luật hình sự Việt Nam”. Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tội này được xây dựng theo hướng liệt kê cụ thể các hành vi. Cách tiếp cận này góp phần bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng và thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Tuy nhiên, cách thức liệt kê này làm hạn chế tính bao quát đối với các phương thức và thủ đoạn mới phát sinh trong bối cảnh của chuyển đổi số.

Về tính tương xứng của hình phạt, hiện nay, hình phạt tối đa của Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 là 20 năm tù, thấp hơn hình phạt của tội lừa đảo truyền thống tại Điều 274 Bộ luật Hình sự là chung thân. Quy định như vậy chưa phản ánh đúng nguyên tắc hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi bởi vì tội phạm trên môi trường mạng gây thiệt hại kép, về sở hữu và an toàn hạ tầng số. Xu hướng quốc tế hiện nay là xử lý nghiêm khắc hơn với tội phạm số cho nên cũng có nhiều ý kiến đề xuất cần nghiên cứu, bổ sung trên môi trường mạng thành tình tiết tăng nặng cho các tội xâm phạm sở hữu truyền thống để đảm bảo tính tương xứng.

Với quá trình tội phạm hóa hành vi chiếm đoạt tài sản trên mạng tại Việt Nam đã là minh chứng sinh động cho việc nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về phòng chống tội phạm. Điều 290 Bộ luật Hình sự có ưu thế là bao quát khá đầy đủ các hành vi và đảm bảo tính rõ ràng nhưng vẫn còn những hạn chế về tính dự liệu, tính tương xứng, hình phạt và khả năng thích ứng với các thủ đoạn phạm tội mới. Vì thế, việc hoàn thiện điều luật này là cần thiết, theo hướng bổ sung kỹ thuật lập pháp kết hợp liệt kê với mô tả phù hợp với tinh thần của Công ước Hà Nội. Thứ hai, điều chỉnh khung hình phạt tương xứng hơn, theo hướng nâng mức tối đa hoặc bổ sung tình tiết tăng nặng cho hành vi sử dụng công nghệ cao. Thứ ba, hoàn thiện hướng dẫn áp dụng của Tòa án nhân dân tối cao, đào tạo thẩm phán và tăng cường nội luật hóa tội phạm mạng theo Công ước Hà Nội.

Anh-tin-bai
TS. Trần Tuấn Minh trình bày tham luận của mình

Tiếp theo, tọa đàm lắng nghe một báo cáo nữa cũng có chủ đề về tư pháp hình sự của TS. Trần Tuấn Minh, “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng nhìn từ thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015”. Bài viết nhấn mạnh đến 3 nguyên tắc cốt lõi trong tố tụng hình sự, đó là: Suy đoán vô tội, quyền bào chữa, tranh tụng trong xét xử. Đây là những nền tảng quan trọng để đảm bảo công bằng trong hoạt động tư pháp. Bài viết ghi nhận những kết quả tích cực trong thực tiễn xét xử: Chất lượng xét xử được nâng lên, tỷ lệ giải quyết án cao, chưa phát hiện các vụ án oan… Tuy nhiên, cũng có những hạn chế trong hoạt động xét xử: Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội không đồng đều, lạm dụng tạm giam, tranh tụng còn hình thức, quyền của luật sư trong thu thập chứng cứ còn hạn chế…

Anh-tin-bai
ThS. Nguyễn Ngọc Mai (giữa) với phần trình bày tham luận "Tội phạm hóa hành vi chiếm đoạt tài sản qua mạng trong luật hình sự Việt Nam" và ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương (bìa trái)

Từ những phân tích, nhận định trên, tác giả đưa ra một số kiến nghị theo hướng bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo hướng thực chất hơn, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số, hiện đại hóa ngành tư pháp hiện nay. Trao đổi về tham luận này, PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa đã gợi mở một số vấn đề về nguyên tắc suy đoán vô tội, chứng cứ điện tử để tọa đàm thảo luận. Theo ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương, chứng cứ điện tử trước tiên là chứng cứ, với tính chất là hoạt động trên môi trường số. Loại chứng cứ này có thể là các bí mật kinh doanh của doanh nghiệp nên dễ bị sao chép, phát tán, phá hoại. Để ngăn ngừa, kiểm soát rủi ro này thì cần có luật sở hữu trí tuệ để bảo vệ.

Bình luận về chủ đề tham luận của ThS. Cao Thị Lê Thương, ThS. Nguyễn Thu Dung đặt câu hỏi, nếu thẩm phán dùng AI để đưa ra phán quyết thì trách nhiệm pháp lý thế nào? Các quốc gia trên thế giới đã có quy định gì chưa? ThS. Cao Thị Lê Thương cho biết, ở Trung Quốc, thẩm phán chịu trách nhiệm tư pháp ngay khi có sự hỗ trợ của AI, nếu như không áp dụng gợi ý của AI thì thẩm phán phải đưa ra lý do giải trình cụ thể. Ở Hoa Kỳ, công cụ Compass chỉ đóng vai trò công cấp thông tin dự báo rủi ro tái phạm để thẩm phán tham khảo cho hoạt động tuyên án cho nên trách nhiệm pháp lý vẫn gắn liền với quyết định tối hậu của thẩm phán.

Anh-tin-bai
TS. Phạm Thị Hương Lan trao đổi tại tọa đàm

TS. Phạm Thị Hương Lan cho rằng, có trường hợp thẩm phán cấp sơ thẩm không tham khảo kết quả từ AI với những chứng cứ, căn cứ pháp lý được đưa vào đầy đủ và đưa ra phán quyết khác với kết quả từ AI. Cấp phúc thẩm hủy bản án và cho rằng phán quyết của thẩm pháp cấp sơ thẩm là sai vì hồ sơ rất rõ ràng và họ cũng tham khảo AI. Vậy trách nhiệm pháp lý của thẩm phán cấp sơ thẩm sẽ thế nào? Liệu thẩm phán có không khách quan, có tư lợi hay không?

Tọa đàm còn nhận được các trao đổi, thảo luận về vấn đề xác định tài sản trong bối cảnh chuyển đổi số, kết quả AI và cái lý cái tình trong bản án và các vấn đề khác nữa.

Phát biểu kết thúc tọa đàm, PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa nhìn nhận, pháp luật tư pháp đang đứng trước sự đổi mới mạnh mẽ nhưng vẫn phải giữ vững được giá trị cốt lõi của công lý, công bằng và quyền con người. Các ý kiến trao đổi tại tọa đàm không chỉ nhận diện những khoảng trống, thách thức của quy định pháp luật hiện hành mà còn gợi mở những vấn đề cần tìm hiểu, nghiên cứu thêm.


Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1