Tọa đàm khoa học “Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW: Cơ sở khoa học và kiến nghị chính sách”
Ngày 17/7/2026, phòng Luật Quốc tế và Quyền con người tổ chức Tọa đàm khoa học “Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW: Cơ sở khoa học và kiến nghị chính sách”. Đây là là hoạt động thuộc chương trình nghiên cứu khoa học chung của Viện Nhà nước và Pháp luật trong năm 2026.
Đông đảo
nhà khoa học trong Viện đến tham dự tọa đàm. TS. Nguyễn Thu Hương, Trưởng phòng
Phòng Luật Quốc tế và Quyền con người, chủ trì tọa đàm.
NCV. Đặng Hồng Nga (giữa) trình bày tham luận mở đầu tọa đàm
Có 4 bài
tham luận được trình bày trực tiếp tại buổi sinh hoạt khoa học này. Mở đầu là
tham luận của NCV. Đặng Hồng Nga, “Cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức
thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW”. Bài viết nhấn mạnh khâu tổ chức
thực thi pháp luật hiện vẫn là "điểm nghẽn của điểm nghẽn", đòi hỏi
phải đổi mới tư duy và cơ chế thực hiện. Trên phương diện lý luận, bài viết làm rõ yêu cầu xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chuyển từ mô hình quản lý tiền kiểm sang
hậu kiểm, đồng thời đẩy mạnh phân quyền và tăng tính tự chủ, trách nhiệm giải
trình của chính quyền địa phương. Về mặt thực tiễn, tác giả chỉ ra những hạn chế như hệ thống pháp luật
còn chồng chéo, tỷ lệ nợ đọng văn bản quy phạm pháp luật, nguồn lực và hạ tầng
công nghệ còn hạn chế. Từ
đó, báo cáo đề xuất các giải pháp
như áp dụng cơ chế tài
chính đặc thù, đẩy mạnh chuyển
đổi số, ứng dụng AI và phương thức "một văn bản sửa nhiều văn bản".
NCV. Đặng Hồng
Nga cũng nhấn mạnh sự liên thông của Nghị quyết số 66-NQ/TW với các Nghị quyết số 57-NQ/TW,
59-NQ/TW và 68-NQ/TW nhằm thúc đẩy đổi mới
sáng tạo, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tư nhân thông qua cải cách thể
chế và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Ở phần kết luận, báo cáo khẳng
định Nghị quyết số 66-NQ/TW đóng vai trò là
"hạ tầng thể chế" cho các cải cách lớn trong 03 Nghị quyết còn lại, trong đó
thành công phụ thuộc vào nguồn lực tài chính, hạ tầng dữ liệu, sự phối hợp liên
ngành và năng lực của đội ngũ cán bộ.
ThS. Nguyễn Thanh Tùng với phần trình bày tham luận "Thực trạng tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam: Điểm nghẽn và nguyên nhân"
Tiếp theo,
tọa đàm lắng nghe ThS. Nguyễn Thanh Tùng trình bày tham luận “Thực trạng
tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam: Điểm nghẽn và nguyên nhân”. Báo
cáo chỉ ra rằng,
mặc dù hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện nhưng hiệu quả tổ chức thực
thi vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, tạo ra khoảng cách giữa quy định pháp
luật và thực tiễn áp dụng. Tác giả đã làm rõ những bất cập trong hệ thống cơ quan thực thi pháp luật,
sự phối hợp giữa các cơ quan còn thiếu chặt chẽ, cùng với những hạn chế trong
việc cung cấp dịch vụ công và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân,
doanh nghiệp.
Bài viết
nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí
tuệ nhân tạo AI, nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và tổ chức thi hành pháp luật. Đồng thời,
tác giả chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế hiện nay, bao gồm: Bất cập về thể chế, tổ chức bộ
máy, chất lượng nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, hạ tầng công nghệ và cơ chế
trách nhiệm giải trình. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất cần đổi mới toàn diện tổ chức thi hành pháp luật
theo hướng hiện đại, tăng cường phối hợp liên ngành, hoàn thiện thể chế và nâng
cao năng lực thực thi để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát
triển đất nước trong giai đoạn mới.
Cuối cùng, ThS.
Nguyễn Thanh Tùng khẳng định, việc khắc phục các điểm nghẽn trong tổ chức thi hành pháp luật
là điều kiện quan trọng để bảo đảm pháp luật được thực thi hiệu quả, góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.
TS. Nguyễn Tiến Đức phân tích sự chuyển biến của hệ thống pháp luật Việt Nam từ tình trạng thiếu hụt sang tình trạng phong phú nhưng phân mảnh, chồng chéo
Tham luận
thứ ba được trình bày tại tọa đàm là của TS. Nguyễn Tiến Đức có chủ đề “Từ
thiếu đến quá tải luật: Cải cách cấu trúc hệ thống pháp luật ở Việt Nam qua
lăng kính của Hart”. H. L. A. Hart (1907–1992) là nhà triết học
pháp luật người Anh có tầm ảnh hưởng lớn trong thế kỷ 20. Ông là giáo sư luật học tại Đại học Oxford, là người tiên phong của trường
phái Chủ nghĩa thực chứng pháp
lý (Analytical Legal Positivism), nổi tiếng nhất với tác phẩm kinh điển
xuất bản năm 1961, “The
Concept of Law”.
Tác giả
phân tích sự chuyển biến của hệ thống pháp luật Việt Nam từ tình trạng thiếu hụt
sang tình trạng phong phú nhưng phân mảnh, chồng chéo, trong đó thách thức lớn
không còn là ban hành thêm luật mà là tổ chức và bảo đảm pháp luật được vận
hành hiệu quả. Dựa trên học thuyết của H.L.A. Hart về quy tắc sơ cấp và quy tắc
thứ cấp, báo cáo chỉ ra
ba hạn chế cốt lõi của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, gồm: Sự thiếu hụt về quy tắc nhận diện; pháp luật thay đổi quá mức, phân mảnh và khó đọc và sự thâm hụt về quy
tắc xét xử.
Trong đó, điểm
hạn chế rõ nét nhất, làm cản trở nền kinh tế là sự thiếu hụt về quy tắc nhận diện,
dẫn đến tình trạng ‘không chắc chắn’ lan tràn trong hệ thống. Dù Việt Nam có một
danh mục liệt kê các loại văn bản quy phạm pháp luật, nhưng thực tế, người dân
và doanh nghiệp vô cùng lúng túng không biết quy phạm nào sẽ chi phối dự án của
họ. Điều này xuất phát từ sự thiếu rõ ràng về thứ bậc ưu tiên giữa luật chung
và luật chuyên ngành, cộng thêm thói quen làm “luật khung” – tức là đạo luật
ban hành ra phải mòn mỏi chờ nghị định và thông tư hướng dẫn mới có thể thi
hành. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã chỉ ra rằng, Luật
Đầu tư yêu cầu có dự án mới giao đất, trong khi Luật Đất đai yêu cầu có quyền sử
dụng đất mới duyệt dự án, khiến hàng loạt dự án bất động sản tại Hà Nội và Tp. Hồ
Chí Minh bị đình trệ. Sự không chắc chắn này không chỉ là vấn đề học thuật, mà
là một rào cản kinh tế thực sự.
Toàn cảnh buổi tọa đàm khoa học
Bài viết
đánh giá Kết luận số 09-KL/TW
của Bộ Chính trị ban hành ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp
luật Việt Nam là một nỗ lực cải cách lớn nhằm sắp xếp lại hệ thống pháp luật thông qua chủ trương giảm bớt các hình thức văn bản và
pháp điển hóa rõ ràng thứ bậc hiệu lực, ghi nhận nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật
chuyên ngành như một tiêu chuẩn phân định
thứ bậc/ưu tiên nhằm dứt điểm các xung đột chồng chéo giữa các đạo luật lớn.
Tuy nhiên, TS. Nguyễn Tiến Đức
cho rằng, những cải
cách sẽ chỉ phát huy hiệu quả khi hoàn thiện được Quy tắc xét xử, bởi nó đòi hỏi việc xây dựng năng lực thể
chế thay vì chỉ đơn thuần là soạn thảo văn bản. Việt Nam hiện đang yếu ở cả hai
kênh giải thích pháp luật. Kênh thứ nhất là giải thích chính thức mang tính trừu
tượng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vốn có thẩm quyền nhưng lại hiếm khi được
sử dụng. Kênh thứ hai là giải thích mang tính cụ thể qua hệ thống án lệ của Tòa
án, lại gặp giới hạn vì quy mô còn quá mỏng và mới mẻ, chưa thể tạo thành một mạng
lưới đủ dày để ổn định ý nghĩa pháp lý.
Khi Quy tắc
nhận diện không thể xác định rõ luật nào áp dụng, khi văn bản hướng dẫn bị chậm
trễ, và khi tòa án không đủ sức lấp đầy khoảng trống bằng án lệ, thì quyền lực ấn
định ý nghĩa của luật pháp không hề biến mất. Toàn bộ sự bất định của hệ thống
sẽ hướng về một điểm, đó là vùng trũng của bộ máy hành chính. Lúc này, những cơ
quan kiểm soát quy trình cấp phép, các sở ban ngành địa phương sẽ trở thành những
tác giả thực sự của luật pháp, thông qua các công văn hướng dẫn và sự tùy nghi
hành chính của họ.
Thay cho lời
kết, tác giả khẳng định Kết luận số 09-KL/TW đã cung cấp một
bản thiết kế kiến trúc mạch lạc nhằm định hình lại các quy tắc thứ cấp của hệ
thống pháp luật, tạo ra một nền tảng quan trọng
cho cải cách pháp luật, nhưng thành công của quá trình này phụ thuộc chủ yếu
vào năng lực giải thích pháp luật và kiểm soát hiệu quả tùy nghi hành chính.
ThS. Phạm Hồng Nhật (giữa) khẳng định Nghị quyết số 66-NQ/TW là cơ chế quan trọng nhằm ngăn ngừa lạm quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích, hiệu quả và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật
Tham luận
cuối trình bày tại tọa đàm là của ThS. Phạm Hồng Nhật có chủ đề “Kiểm
soát quyền lực và giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị
quyết số 66-NQ/TW”. Bài viết khẳng định Nghị quyết số 66-NQ/TW là cơ chế quan trọng
nhằm ngăn ngừa lạm quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục
đích, hiệu quả và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Tác giả làm rõ mối quan hệ giữa kiểm soát quyền lực và giám sát,
đồng thời đánh giá vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong hoạt động
giám sát thi hành pháp luật, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như các hạn chế
về cơ chế, quy trình, thẩm quyền và hiệu quả thực hiện.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả giám sát, như hoàn thiện quy định pháp luật, tăng cường trách nhiệm
giải trình, nâng cao chất lượng đại biểu dân cử, tăng cường chế tài thực hiện
kiến nghị sau giám sát và tránh chồng chéo trong hoạt động giám sát.
Đồng thời, bài viết phân tích những điểm mới của Nghị quyết số 66-NQ/TW và Luật Hoạt động
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, trong đó nhấn mạnh các
nguyên tắc giám sát mới, định hướng xây dựng luật theo hướng luật khung, tăng
cường giám sát việc lấy ý kiến trong xây dựng pháp luật và bảo đảm sự lãnh đạo
của Đảng.
Cuối cùng, tác giả nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số
trong hoạt động giám sát để nâng cao tính minh bạch, khả năng chia sẻ dữ liệu
và hiệu quả kiểm soát quyền lực, góp phần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
ThS. Bùi Thị Hường (bên trái) trao đổi về cơ chế thi hành pháp luật hiện nay
Tọa đàm
chuyển sang phần thảo luận. ThS. Bùi Thị Hường trao đổi về cơ chế thi hành pháp
luật hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề với nhiều trường hợp không thể thực thi được
khi đưa ra một số ví dụ thực tế liên quan đến việc xâm phạm quyền riêng tư.
ThS. Bùi Hường cũng chia sẻ quan điểm với NCV. Đặng Hồng Nga khi nhìn nhận sự thiếu
đồng bộ từ khâu xây dựng pháp luật đến triển khai, thi hành pháp luật là rào cản
lớn khi chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm do văn bản pháp luật thiếu rõ
ràng, năng lực giám sát của địa phương yếu kém, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
TS. Nguyễn
Thu Hương cho biết, phòng Luật Quốc tế và Quyền con người dự định sẽ xây dựng
báo cáo tư vấn chính sách từ kết quả nghiên cứu được chắt lọc tại tọa đàm và một
số nhà khoa học đã chia sẻ kinh nghiệm về việc triển khai báo cáo tư vấn. TS.
Nguyễn Thu Dung chia sẻ, độ dài báo cáo không quá 10 trang và vấn đề nêu ra không
quá rộng mà cần cụ thể. Về cách viết, tác giả cần đóng vai người đọc để họ sớm nắm
bắt được vấn đề nêu ra là gì, lập luận vì sao vấn đề đó cần thiết phải có chính
sách can thiệp. Báo cáo cần cung cấp số liệu, dữ liệu liên quan và đưa ra giải
pháp cụ thể trúng với vấn đề được đưa ra.
Để lựa chọn
vấn đề cụ thể cho việc viết báo cáo tư vấn chính sách liên quan đến chủ đề của
tọa đàm, TS. Nguyễn Thu Dung gợi ý, cần xác định rõ đâu là điểm nghẽn trong thi
hành pháp luật, do thiếu văn bản hướng dẫn thi hành hay năng lực thực thi hay
do công nghệ. Tuy nhiên, giải pháp đưa ra phải có tính mới thì mới thuyết phục
được người đọc.
Tọa đàm
cũng thu nhận những ý kiến đóng góp, trao đổi của TS. Trương Vĩnh Khang, ThS.
Trần Thị Loan và các nhà khoa học khác.