Sinh hoạt khoa học Đề tài cơ sở “Đạo luật của Liên minh Châu Âu về trí tuệ nhân tạo và gợi mở cho Việt Nam”
Sáng ngày 09/7/2026, Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức buổi sinh hoạt khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài cơ sở “Đạo luật của Liên minh Châu Âu về trí tuệ nhân tạo và gợi mở cho Việt Nam”. Chủ trì buổi sinh hoạt là TS. Nguyễn Thu Hương, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Luật Quốc tế và Quyền con người.
Chủ nhiệm đề
tài là ThS. Phạm Hồng Nhật, thành viên là TS. Phạm Thị Hương Giang nhưng do có
việc bận đột xuất nên không đến tham gia buổi tọa đàm.
ThS. Phạm Hồng Nhật trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài
Mở đầu,
ThS. Phạm Hồng Nhật trình bày chuyên đề “Những vấn đề lý luận về khung pháp
luật điều chỉnh trí tuệ nhân tạo (AI) của Liên mình Châu Âu (EU)”. Báo cáo
làm rõ khái niệm, đặc điểm kỹ thuật và các thách thức pháp lý do AI đặt ra, đặc
biệt là tính tự chủ, khả năng tự học, tính khó dự đoán và vấn đề “hộp đen”
trong trách nhiệm pháp lý. Đề
tài đồng thời phân tích mục tiêu điều chỉnh của Đạo luật AI của EU (EU AI Act, viết tắt là AIA), nhấn mạnh
bốn định hướng cốt lõi gồm: Bảo
vệ quyền con người và an toàn xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh
tranh, thống nhất thị trường AI nội khối, đồng thời định hình các tiêu chuẩn quản
trị AI trên phạm vi toàn cầu thông qua “Hiệu ứng Brussels”.
Trên cơ sở đó, chuyên đề gợi mở cho Việt Nam việc xây dựng
khung pháp lý về AI theo hướng cân bằng giữa đổi mới và quản lý rủi ro, lấy con
người làm trung tâm, tăng cường bảo vệ quyền và dữ liệu cá nhân, đồng thời bảo
đảm sự tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp Việt Nam.
AIA
xây dựng cơ chế quản lý theo cách tiếp cận dựa trên rủi ro, phân loại các hệ thống
AI thành các nhóm: Rủi
ro không thể chấp nhận (bị cấm), rủi ro cao (chịu yêu cầu pháp lý nghiêm ngặt),
rủi ro minh bạch và rủi ro tối thiểu nhằm cân bằng giữa bảo vệ quyền con người
với thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đạo
luật cũng quy định rõ nghĩa vụ của từng chủ thể trong chuỗi giá trị AI, bao gồm
nhà cung cấp, bên triển khai, nhà nhập khẩu và nhà phân phối, qua đó xác lập
trách nhiệm cụ thể trong suốt vòng đời của hệ thống AI và bảo đảm khả năng truy
cứu trách nhiệm khi xảy ra vi phạm.
Bên cạnh đó, AIA thiết lập cơ chế quản trị đa tầng với sự phối
hợp giữa Văn phòng AI châu Âu, Hội đồng AI châu Âu và các cơ quan giám sát của
từng quốc gia thành viên nhằm bảo đảm việc thực thi thống nhất và hiệu quả trên
toàn EU.
Chuyên đề cũng phân tích những ưu điểm của mô hình quản lý dựa
trên rủi ro như tăng cường bảo vệ quyền con người, tạo niềm tin đối với AI và
nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời chỉ ra các hạn chế về chi phí tuân thủ
cao, sự thiếu rõ ràng trong phân loại rủi ro và nguy cơ tạo lợi thế cho các tập
đoàn công nghệ lớn.
Từ đó, ThS.
Phạm Hồng Nhật đề xuất Việt Nam nên tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của
EU, xây dựng khung pháp lý linh hoạt, phù hợp với điều kiện trong nước, chú trọng
minh bạch, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quy định trách nhiệm rõ ràng nhưng không tạo
gánh nặng quá lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp và
đổi mới sáng tạo.
Toàn cảnh buổi sinh hoạt khoa học của đề tài
Sau đó, tọa
đàm tiếp tục lắng nghe ThS. Phạm Hồng Nhật thay mặt TS. Phạm Thị Hương Giang
trình bày chuyên đề thứ hai “Đề xuất mô hình khung pháp lý về AI cho Việt
Nam”. Chuyên đề phân tích hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành của
Việt Nam về quản lý rủi ro AI, tập trung vào Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và
đối chiếu với AIA để
làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong tư duy lập pháp.
Bài viết làm rõ các cơ chế quản lý rủi ro AI của Việt Nam
như phân loại hệ thống AI theo mức độ rủi ro, cấm các ứng dụng AI nguy hiểm,
quy định minh bạch đối với nội dung do AI tạo ra, bảo vệ dữ liệu cá nhân, xác định
trách nhiệm dân sự và sở hữu trí tuệ, đồng thời xây dựng cơ chế thử nghiệm có
kiểm soát (sandbox) để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Qua so sánh với AIA,
nhóm tác giả cho rằng
Việt Nam đã tiếp thu nhiều nguyên tắc quản trị hiện đại như cách tiếp cận dựa
trên rủi ro, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế sandbox, nhưng vẫn giữ bản sắc riêng
khi ưu tiên bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh
tế số phù hợp với điều kiện trong nước.
Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra những khoảng trống như thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật cụ
thể, bộ máy giám sát còn phân tán và đề xuất hoàn thiện các văn bản hướng dẫn,
chuẩn hóa quy trình sandbox, thành lập hội đồng chuyên gia AI quốc gia nhằm
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và thúc đẩy phát triển AI an toàn, bền vững
tại Việt Nam.
Từ đó, đề
tài bước đầu đưa ra một số gợi mở về mô hình khung pháp lý về AI tại
Việt Nam hiện nay. Theo đó. Việt Nam cần áp dụng cơ chế rủi ro
ở mức độ mở, linh hoạt hơn so với EU, cụ thể là, Việt Nam nên hướng các sản phẩm
sử dụng AI cần dán nhãn để đảm bảo tính minh bạch và người dùng nhận diện được
sản phẩm đó có dùng AI. Bên cạnh đó, nhà sản xuất cần có sự cam kết sản phẩm đó
không gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng cũng như có biện pháp để ngăn chặn lỗi
kỹ thuật. Cũng cần yêu cầu các doanh nghiệp xây dựng bộ tiêu chuẩn mang tính chất
bắt buộc trong một số lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia, dữ liệu cá nhân.
TS. Nguyễn Tiến Đức trao đổi với nhóm nghiên cứu đề tài
Trao đổi về đề tài, TS. Nguyễn Tiến Đức cho rằng,
nhóm nghiên cứu đã đưa ra được một số yếu tố về pháp luật về AI của EU, nhưng
khái niệm về AI mới mang tính tổng quát, chưa nêu được khái niệm đã được luật
hóa trong luật của EU, theo đó EU có những quy định về hệ thống của AI chứ
không phải mô hình của AI. Hệ thống của AI được sử dụng vào mục đích gì, được
phân loại thành các cấp, có loại bị cấm hoàn toàn vì nó tác động trực tiếp mang
tính bất lợi tới các thể nhân, thường là vấn đề liên quan đến quyền con người
chứ không phải vấn đề quốc phòng – an ninh.
Thảo luận tại tọa đàm, theo ThS. Nguyễn Thanh Tùng,
đề tài nên tìm hiểu vì sao EU tiếp cận về AI, xây dựng AIA theo hướng quyền con
người. Trên thực tế, Hoa Kỳ xây dựng đạo luật về AI theo hướng bảo vệ sự phát
triển của AI nhưng áp đặt triết lý này với EU. EU phản ứng bằng cách vẫn đẩy mạnh
quyền con người dù gặp phải những cản trở về vấn đề đầu tư. Tuy nhiên, tiềm lực
của EU khác hẳn Việt Nam, AI và công nghệ đều rất mạnh mẽ.
Từ đó, đề tài cần tham chiếu sang Việt Nam xem thực
lực của chúng ta thế nào để từ đó gợi mở khung pháp luật điều chỉnh AI thông
qua việc tìm hiểu các chính sách của Đảng như Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát
triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Việc tìm hiểu các nghị
quyết và các đạo luật liên quan sẽ giúp đề tài nắm được Việt Nam đang ưu tiên trong
phát triển hiện tại đạt mức độ như thế nào, tiềm lực, khả năng triển khai đến
đâu. Lúc này, đề tài cần tham chiếu và dựa trên triết lý của EU để xác định xem
Việt Nam có thể học tập được những gì, bởi nếu áp dụng theo khung pháp luật của
EU thì rất áp lực cho Việt Nam.
Đề tài
cũng nhận được những ý kiến góp ý, thảo luận của các nhà khoa học khác về các vấn
đề liên quan đến nội dung của đề tài.