Tọa đàm khoa học “Pháp luật về hợp đồng thông minh ở một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam”
Trong ngày 02/7/2026, Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức tọa đàm báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài cơ sở năm 2026 “Pháp luật về hợp đồng thông minh ở một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam” do ThS. Cao Thị Lê Thương làm chủ nhiệm. Thành viên còn lại của đề tài là TS. Nguyễn Thị Hường.
PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa chủ trì tọa đàm
Chủ trì tọa
đàm là PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa, Trưởng phòng Phòng Pháp luật về Tư pháp. Đề tài
gồm 02 chuyên đề chính:
- Một số vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng thông minh - TS. Nguyễn Thị Hường;
- Điều chỉnh pháp luật về hợp đồng thông minh ở
một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam - ThS. Cao Thị Lê Thương.
Trong
chuyên đề thứ nhất, bài viết
tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng thông minh (smart
contract) và cơ chế vận hành của loại hợp đồng này trên nền tảng blockchain. Nội
dung phân tích các quan điểm của học giả và tổ chức quốc tế, đồng thời so sánh
cách tiếp cận của Việt Nam, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Trung Quốc để đề xuất một khái niệm phù hợp
về hợp đồng thông minh. Theo
đó, đề tài cho rằng, hợp đồng thông minh là loại hợp đồng điện tử được xác lập
dưới dạng chương trình máy tính hoặc mã lệnh, vận hành trên nền tảng
blockchain/DLT, thể hiện sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền
và nghĩa vụ dân sự, có khả năng tự động thực thi các điều khoản khi đáp ứng điều
kiện định trước mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người.
Tham luận
cũng giới thiệu nhiều ví dụ thực tiễn như bảo hiểm chuyến bay, chuỗi cung ứng,
tài chính, bầu cử điện tử, quản lý sở hữu trí tuệ và thanh toán số nhằm minh họa
khả năng tự động thực hiện giao dịch của hợp đồng thông minh. Tiếp đó, tác giả
giải thích cơ chế hoạt động của hợp đồng thông minh thông qua các thành phần
như blockchain (sổ cái),
mã lệnh (code), oracle
và nodes (người xác thực), cùng quy trình từ khởi tạo và lập trình, triển
khai đến tự động thực thi và hoàn tất giao dịch theo cơ chế “Nếu – Thì” (If–Then).
Báo cáo
nhấn mạnh các đặc điểm nổi bật của hợp đồng thông minh như tính tự thực thi,
tính bất biến, tính phi tập trung và tính độc lập, đồng thời so sánh với hợp đồng
truyền thống, hợp đồng điện tử và hợp đồng Ricardian. Cuối cùng, tác giả chỉ ra và đánh giá ưu điểm của
hợp đồng thông minh như: Tốc
độ xử lý giao dịch, tiết kiệm chi phí, tính minh
bạch và tin cậy, bảo mật cao, độ chính xác và tự thực
thi. Đồng thời, cũng chỉ
ra các hạn chế như tính
cứng nhắc, rủi ro từ lỗi mã lệnh, sự phụ thuộc vào oracle, vấn đề bảo mật dữ liệu
và khoảng trống pháp lý;
qua đó, tác giả cho
rằng mô hình hợp đồng lai (hybrid) là hướng tiếp cận phù hợp trong các mối quan
hệ kinh doanh phức tạp.
ThS. Cao Thị Lê Thương trình bày tóm tắt nội dung chuyên đề thứ hai
Tiếp theo, tọa đàm lắng nghe ThS. Cao Thị Lê Thương trình
bày tóm tắt nội dung chuyên đề thứ hai. Bài viết phân tích kinh nghiệm điều chỉnh
pháp luật về hợp đồng thông minh tại Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc,
đồng thời rút ra các gợi mở cho Việt Nam. Đối với Hoa Kỳ, tác giả cho biết quốc gia này áp dụng mô hình
pháp lý đa tầng kết hợp giữa quy định liên bang và pháp luật các bang, công nhận
giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh trên cơ sở hợp đồng điện tử, đồng thời
chú trọng các yêu cầu về sự đồng thuận, năng lực chủ thể, phòng chống rửa tiền
và giải quyết tranh chấp. Đối với EU, hợp đồng thông minh được điều chỉnh trong
khuôn khổ pháp luật về dữ liệu, tài sản mã hóa và chữ ký điện tử, với trọng tâm
là bảo vệ người tiêu dùng, bảo đảm tính minh bạch, quyền riêng tư theo Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR), luật bảo mật và quyền riêng tư
toàn diện nhất của EU và nguyên tắc thiện chí trong giao kết, thực hiện
hợp đồng. Trung Quốc tiếp cận theo hướng coi hợp đồng thông minh là một dạng hợp
đồng điện tử, kết hợp quản lý chặt chẽ thông qua xác thực danh tính, ứng dụng
blockchain trong tư pháp và phát triển đồng tiền kỹ thuật số của ngân hàng
trung ương (e-CNY), đồng thời tìm cách cân bằng giữa đổi mới công nghệ và quản
lý nhà nước.
Trên cơ sở so sánh kinh nghiệm quốc tế từ ba quốc gia trên, bài viết chỉ ra rằng, pháp luật Việt Nam hiện
chưa có quy định chuyên biệt về hợp đồng thông minh, dù loại hợp đồng này về lý
thuyết vẫn có thể được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự và Luật Giao dịch điện tử.
ThS. Cao Thị Lê Thương
cũng phân tích những thách thức lớn như khó xác minh danh tính chủ thể, xung đột
giữa tính bất biến của blockchain với quyền sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng, hạn
chế trong việc sử dụng tiền mã hóa và khó khăn khi giải quyết tranh chấp xuyên
biên giới.
Toàn cảnh buổi tọa đàm
Từ đó, đề
tài đề xuất hoàn thiện khung pháp lý theo hướng xây dựng định nghĩa thống
nhất về hợp đồng thông minh, bổ sung quy định trong pháp luật dân sự và giao dịch
điện tử. Cụ thể là, cần quy định
hợp đồng thông minh là thỏa thuận điện tử dưới dạng mã máy tính, vận hành trên
nền tảng blockchain và tự động thực thi các quyền, nghĩa vụ khi điều kiện định
sẵn được đáp ứng; xem xét bổ sung quy định hợp đồng thông minh vào một mục
riêng trong Chương "Một số hợp đồng thông dụng" của Bộ luật Dân sự
năm 2015 và luật hóa chi tiết tại Luật Giao dịch điện tử năm 2023. Bên cạnh đó,
cần phát triển cơ chế định danh điện tử, hợp đồng lai, cơ chế dừng khẩn
cấp và công nhận địa vị pháp lý của tiền mã hóa và tài sản số. Cuối cùng, tác giả kiến nghị Việt Nam cần triển khai cơ chế thử
nghiệm (sandbox), phát triển trọng tài số và giải quyết tranh chấp trực tuyến,
qua đó từng bước xây dựng môi trường pháp lý an toàn, minh bạch để thúc đẩy ứng
dụng hợp đồng thông minh trong nền kinh tế số.
Trao đổi tại
tọa đàm, PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa cho rằng, chủ đề của đề tài là một trong những
vấn đề mới trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên, trên thực tế đã có khá nhiều
công trình nghiên cứu, các bài viết về hợp đồng thông minh. Nhưng PGS.TS. Quỳnh
Hoa nhìn nhận, các công trình này chưa có sự nghiên cứu đầy đủ, chi tiết và vẫn
cần có sự đánh giá cụ thể hơn, chẳng hạn như về giá trị pháp lý, trách nhiệm
pháp lý của nó như thế nào.
Tất nhiên,
ngay cả những nước mà đề tài tìm hiểu thì vẫn chưa đưa ra một khái niệm thống
nhất rằng hợp đồng thông minh là một loại hợp đồng hay một phương thức thực hiện
hợp đồng, vì thế đến lúc này các quốc gia đó vẫn chưa ban hành một đạo luật
riêng điều chỉnh loại hợp đồng này. PGS.TS. Quỳnh Hoa gợi mở một số vấn đề cần
thảo luận như bản chất pháp lý của hợp đồng thông minh là gì, nếu coi đây là một
loại hợp đồng thì cần tìm hiểu sự khác nhau của loại hợp đồng này với hợp đồng
điện tử như thế nào cũng như có cần thiết phải xây dựng một chế định pháp luật
riêng để điều chỉnh loại hợp đồng này hay không.
ThS. Nguyễn Thanh Tùng phát biểu bình luận tại tọa đàm
Bình luận tại
tọa đàm, ThS. Nguyễn Thanh Tùng nhận xét, sự can thiệp của Nhà nước vào hợp đồng
thông minh là khá khó khăn cũng như việc đã triển khai hợp đồng thì rất khó sửa
đổi. Vậy nếu xảy ra tình trạng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản khi thực hiện giao kết
loại hợp đồng này thì sẽ phát sinh nhiều nguy cơ, rủi ro; chẳng hạn, với những
người cao tuổi có khả năng, trình độ hiểu biết về công nghệ có thể còn thấp. Vậy
thì, đề tài có quan điểm gì về vấn đề này, liệu chăng Việt Nam có thể tự xây dựng
một loại hình hợp đồng thông minh riêng có sự kiểm soát của Nhà nước.
ThS. Phạm Thị Hiền thảo luận về khái niệm, bản chất của hợp đồng thông minh
Thảo luận về
quan điểm của ThS. Nguyễn Thanh Tùng, ThS. Phạm Thị Hiền cho rằng, nếu Việt Nam
xây dựng hay lập trình một cơ chế riêng để kiểm soát hợp đồng thông minh thì sẽ
làm mất đi bản chất của blockchain. Bởi lẽ, chúng ta cần phải xác định rằng,
khi áp dụng bất cứ loại hình hợp đồng nào thì đều có thể có những rủi ro, nhưng
nếu can thiệp bằng các thủ tục hành chính như thế thì sẽ mất đi giá trị và bản
chất của blockchain. Về câu hỏi của PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa, ThS. Phạm Thị Hiền
nhìn nhận, hợp đồng thông minh chỉ nên coi là một phương thức thực hiện, còn hợp
đồng về bản chất là sự thỏa thuận ý chí giữa các bên. Với hợp đồng thông minh,
có một phần nào đó giống với hợp đồng mẫu, nghĩa là ngay từ đầu khi thực hiện
cú click chuột thì đã thể hiện sự đồng thuận và tham gia cuộc chơi.
Tọa đàm
cũng nhận được những ý kiến trao đổi, góp ý của TS. Phạm Thị Hương Lan, TS.
Nguyễn Tiến Đức và các nhà khoa học khác.
Những ý kiến
trao đổi, thảo luận tại tọa đàm là những gợi mở, góp ý quan trọng cho đề tài
trong việc hoàn thiện sản phẩm trước khi nghiệm thu.