Tọa đàm khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật hiến pháp và pháp luật hành chính phục vụ phát triển đất nước trong ký nguyên mới”
Đây là hoạt động khoa học thuộc chương trình nghiên cứu khoa học chung của Viện Nhà nước và Pháp luật năm 2026 do phòng Lý luận - Luật Hiến pháp - Luật Hành chính tổ chức, diễn ra ngày 01/7/2026 tại Hội trường tầng 2, trụ sở 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội.
Toàn cảnh buổi tọa đàm
Tham dự buổi
sinh hoạt khoa học có đông đảo nhà nghiên cứu của Viện. TS. Lê Thương Huyền,
Phó Trưởng phòng Phòng Lý luận – Luật Hiến pháp – Luật Hành chính chủ trì tọa
đàm.
Phát biểu khai
mạc tọa đàm, TS. Lê Thương Huyền cho rằng, tọa đàm được tổ chức trong bối cảnh
chính trị pháp lý rất đặc biệt khi đất nước vừa hoàn thành một cuộc cải cách thể
chế mang tính bước ngoặt với việc hình thành chính quyền địa phương hai cấp. Cuộc
cải cách này bắt nguồn từ chủ trương lớn của Đảng với Nghị quyết số 60-NQ/TW
ngày 12/4/2025 đề ra nhiều chủ trương lớn về sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn
bộ máy nhà nước và được tiếp tối bằng việc ban hành số lượng lớn các văn bản
quy phạm pháp luật của Quốc hội và Chính phủ trong việc thể chế hóa Nghị quyết,
phân cấp, phân quyền trong từng ngành, từng lĩnh vực. Đây là sự tái cấu trúc
trong mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương, giữa Nhà nước và người dân đòi
hỏi giới khoa học pháp lý cần kịp thời tổng kết, đánh giá và đưa ra kiến nghị,
phản biện.
ThS. Nguyễn Thanh Tùng trình bày tham luận
Tham luận mở
đầu là của ThS. Nguyễn Thanh Tùng, “Đánh giá và phân tích mô hình tổng thể bộ
máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay”. Bài viết xây dựng
khung lý luận về mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trên cơ sở phân
biệt ba cấp độ: hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy và mô hình tổ chức bộ máy, đồng
thời phân tích các nguyên tắc tổ chức tổ chức và hoạt động của bộ máy qua các cặp quan hệ: thống nhất –
phân công quyền lực, tập
trung – phân quyền, kiểm soát – hiệu quả và ổn định – đổi mới.
Bài viết so sánh các mô hình tổ chức bộ máy ở một số quốc
gia (mô hình tổng thống, mô
hình đại nghị, mô hình tổ chức bộ máy dựa trên nguyên tắc quyền lực nhà nước thống
nhất trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa) và chỉ ra rằng không tồn tại
mô hình tối ưu tuyệt đối, mà hiệu quả của mỗi mô hình phụ thuộc vào sự phù hợp
với điều kiện lịch sử, chính trị và xã hội của từng quốc gia. Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá mô hình
tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Việt Nam là mô hình quyền lực nhà nước thống
nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng có ưu thế trong việc tập trung nguồn lực và điều
phối phát triển, đồng thời đang được tinh gọn theo Nghị quyết số 18-NQ/TW nhưng
vẫn còn những hạn chế về chồng chéo chức năng và cơ chế phối hợp liên ngành.
Tham luận
cũng phân tích xu hướng mở rộng phân cấp, phân quyền cho địa phương, ghi nhận
những kết quả trong việc nâng cao tính chủ động và khả năng thích ứng của chính
quyền các cấp, song cũng chỉ
ra các thách thức về năng lực thực thi không đồng đều, chi phí phối hợp và bảo
đảm tính thống nhất của hệ thống quản trị quốc gia. Đồng thời, ThS.
Nguyễn Thanh Tùng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực quản trị hiện đại
thông qua tiếp tục tinh gọn bộ máy, tăng cường phối hợp liên ngành, đẩy mạnh
chuyển đổi số và hoàn thiện cơ chế quản trị dựa trên dữ liệu để đáp ứng yêu cầu
phát triển trong bối cảnh mới.
Từ những phân tích đó, bài viết đề xuất chuyển trọng tâm cải
cách từ việc sắp xếp cơ cấu sang nâng cao chất lượng vận hành của bộ máy, đẩy mạnh
phân quyền cho chính quyền địa
phương đồng thời chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, xử lý dứt điểm
các khu vực chồng lấn chức năng trong bộ máy, chuyển từ mô hình quản lý theo ngành sang mô
hình quản trị liên ngành và xây dựng chính quyền số nhằm nâng cao chất lượng quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển mới của đất
nước.
NCV. Đặng Hồng Nga chỉ ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế,
cạnh tranh địa chính trị, xung đột quốc tế và sự suy giảm hiệu quả của các cơ chế đa phương
Tiếp theo,
NCV. Đặng Hồng Nga trình bày tham luận “Bảo vệ quyền con người, quyền công
dân trong Hiến pháp năm 2013 trước tác động của chuyển đổi số và hội nhập quốc
tế: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện thể chế”. Báo cáo phân tích
những điểm tiến bộ của cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Hiến
pháp năm 2013, đặc biệt là việc khẳng định quyền con người được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ và bảo đảm, mở rộng chủ thể thụ hưởng quyền cũng như bổ sung nhiều
quyền mới mang giá trị hiến
định cao như quyền sống,
quyền riêng tư và quyền được sống trong môi trường trong lành.
Đồng thời, tác giả chỉ ra những thách thức mới đối với việc
bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cạnh tranh địa chính trị,
xung đột quốc tế và sự suy giảm hiệu quả của các cơ chế đa phương. Bài viết nhấn mạnh rằng, chuyển đổi số và trí tuệ
nhân tạo đang đặt ra nhiều nguy cơ mới như: Giám sát đại trà
theo thời gian thực; thiếu minh bạch về dữ liệu và đầu ra AI ảnh hưởng
đến quyền được biết, quyền không bị phân biệt đối xử; khó kiểm soát việc rò rỉ
dữ liệu cá nhân; tạo ra nguy cơ xâm phạm quyền riêng tư và tác động tiêu
cực đến quyền văn hóa.
Trên cơ sở đó, NCV. Đặng Hồng Nga đề xuất hoàn thiện thể chế chính thức bằng việc
mở rộng nội hàm các điều của Hiến pháp để bổ sung quyền được bảo vệ khỏi thao
túng thông tin, quyền được lãng quên trên không gian mạng, tăng cường minh bạch
trong sử dụng dữ liệu và AI đồng
thời bảo vệ bản sắc văn hóa và quyền tiếp cận hạ tầng số.
Bên cạnh sửa đổi pháp luật, tham luận kiến nghị tăng cường các thiết
chế phi chính thức thông qua nâng cao nhận thức pháp lý và kỹ năng số của người
dân, xây dựng chuẩn mực đạo đức AI, phát huy vai trò của báo chí và phản biện
xã hội, đồng thời chủ động tham gia xây dựng các chuẩn mực quốc tế về quyền con
người trong môi trường số.
TS. Lê Thương Huyền, Chủ nhiệm đề tài, bình luận về tham luận của ThS. Nguyễn Thanh Tùng và NCV. Đặng Hồng Nga
Bình luận về
02 tham luận trên, TS. Lê Thương Huyền cho rằng, với tham luận của ThS. Nguyễn
Thanh Tùng, tác giả đã đưa ra được luận điểm Việt Nam đã chuyển xu hướng trọng
tâm từ việc không chỉ cải cách về mặt kỹ thuật nghĩa là tinh gọn bộ máy mà còn
xây dựng năng lực bộ máy hiện đại và thích ứng. Đây là một trong những nhận định
hết sức quan trọng khi chúng ta đã đang thực hiện việc sắp xếp, tinh gọn bộ
máy. Vậy thì, chúng ta có nên xây dựng một bộ tiêu chí để đo lường, đánh giá
năng lực bộ máy theo tiêu chí hiện đại, thích ứng hay chưa. Với tham luận của
NCV. Đặng Hồng Nga, TS. Lê Thương Huyền ấn tượng với những đề xuất, kiến nghị của
tác giả, trong đó, có quyền được lãng quên trên không gian mạng, khi trong bối
cảnh, sau đại dịch Covid-19, nhiều hình ảnh đau thương, mất mát đến lúc này vẫn
còn nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông, trong khi nhiều gia đình,
nhiều người dân không muốn nhắc lại nữa thì có nên áp dụng quyền này không.
ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương chia sẻ những nội dung trong tham luận của mình
Tọa đàm tiếp
tục lắng nghe ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương chia sẻ những nội dung trong tham luận “Phân
quyền, phân cấp và trách nhiệm giải trình trong pháp luật hành chính: Yêu cầu
hoàn thiện thể chế phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Bài
viết nhìn nhận phân quyền
và phân cấp trong pháp luật hành chính không chỉ là sự phân chia công việc giữa
các cấp chính quyền mà cần được tiếp cận như quá trình thiết kế “đường đi của quyền lực”, làm rõ nguồn gốc quyền lực,
mức độ tự chủ, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm giải trình của từng chủ thể. Trên cơ sở phân biệt các khái niệm tập
quyền, tản quyền, phân quyền, phân cấp, ủy quyền và quản trị đa trung tâm, tác
giả phân tích bản chất pháp lý, chức năng và sự khác biệt của từng phương thức
tổ chức quyền lực, đồng thời chỉ ra những hạn chế khi các khái niệm này bị sử dụng
lẫn lộn trong nghiên cứu và thực tiễn.
Báo cáo
đánh giá Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã tạo bước tiến quan trọng
trong việc phân định phân quyền, phân cấp và ủy quyền, nhưng vẫn cần tiếp tục
hoàn thiện các quy định về tản quyền, cơ chế bảo đảm nguồn lực, kiểm soát quyền
lực và trách nhiệm giải trình để việc trao quyền thực sự hiệu quả. ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương đề
xuất với mô hình tổ chức
theo ba cấp gồm Trung ương, cấp tỉnh và cấp cơ sở như hiện nay thì cấp Trung ương cần tập trung vào hoạch định
chiến lược, ban hành tiêu chuẩn và kiểm soát hệ thống; cấp tỉnh giữ vai trò điều
phối phát triển lãnh thổ; còn cấp xã được tăng cường thẩm quyền và điều kiện để
phục vụ trực tiếp người dân và doanh nghiệp.
Bài viết cũng nhấn mạnh trách nhiệm giải trình là cầu nối giữa
trao quyền và kiểm soát quyền lực, đồng thời gợi mở cần xây dựng hệ thống giải trình dựa trên kết quả. Ngoài báo cáo hành chính, phải công
khai các chỉ số về thời gian xử lý, tỷ lệ đúng hạn, chi phí tuân thủ, chất lượng
dịch vụ, phản ánh của người dân, số quyết định bị hủy hoặc sửa và trách nhiệm của
người đứng đầu.
Từ đó,
tác giả kiến nghị hoàn thiện thể chế theo hướng phân định rõ các hình thức tổ
chức quyền lực hành chính, gắn phân quyền với nguồn lực, dữ liệu và cơ chế giải
trình, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, phát triển quản trị đa trung tâm và
duy trì cơ chế đánh giá, điều chỉnh linh hoạt nhằm nâng cao hiệu năng quản trị
quốc gia trong bối cảnh mới.
NCV. Trần Ngọc Bảo trình bày tham luận “Pháp luật hành chính phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và chính quyền điện tử: Yêu cầu hoàn thiện thể chế và thực tiễn áp dụng trong kỷ nguyên số”
Tham luận
cuối do NCV. Trần Ngọc Bảo trình bày tham luận có chủ đề “Pháp luật hành chính phục vụ
phát triển kinh tế, xã hội và chính quyền điện tử: Yêu cầu hoàn thiện thể chế
và thực tiễn áp dụng trong kỷ nguyên số”. Bài viết khẳng định yêu cầu chuyển đổi từ mô
hình hành chính quản lý sang hành chính phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp
làm trung tâm, đồng thời tận dụng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo AI để nâng cao hiệu quả quản
trị, minh bạch và chất lượng dịch vụ công.
Mặc dù Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực như hoàn thiện thể chế về
chuyển đổi số, mở rộng dịch vụ công trực tuyến, phát triển hạ tầng định danh số
và nâng cao mức độ hài lòng của người dân, nhưng vẫn còn những hạn chế về liên
thông dữ liệu, quy trình xử lý, tư duy quản lý và sự chênh lệch năng lực giữa
các địa phương.
Để xây dựng nền hành chính số phục vụ, tác giả đề xuất hoàn thiện thể chế theo
hướng thiết kế dịch vụ lấy người dùng làm trung tâm, luật hóa nguyên tắc
"khai báo một lần", đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và nâng cao
năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước trong kỷ nguyên số.
TS. Nguyễn Tiến Đức trao đổi tại tọa đàm
Trao đổi về
tham luận của NCV. Đặng Hồng Nga, TS. Nguyễn Tiến Đức chia sẻ với quan điểm của
TS. Lê Thương Huyền khi cho rằng các kiến nghị của tác giả khá đúng và trúng vấn
đề, thể hiện sự chuyển dịch về mặt tư duy nghiên cứu. Một số quyền mà tác giả
đưa ra mang tính chất đổi mới, có liên quan trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh
chuyển đổi số trong từng ngành, từng lĩnh vực và trong mọi vấn đề của xã hội.
Nhìn nhận về
những tác động của việc phát triển chuyển đổi số, ThS. Bùi Thị Hường cho rằng,
ngoài những mặt tích cực thì đã và đang có những vấn đề bất cập đặt ra. Những
người yếu thế có thể bị bỏ lại phía sau, chẳng hạn như người cao tuổi bắt buộc
nhận lương qua tài khoản ngân hàng sẽ gặp phải nhiều rủi ro, với những trường hợp
nhận tin nhắn lừa đảo rồi chẳng may click vào đường dẫn có thể mất hết tiền
trong tài khoản. Vì thế, ngoài việc đẩy mạnh chuyển đổi số thì vẫn cần có cơ chế
bình thường, đơn giản để tạo điều kiện cho người cao tuổi lĩnh lương dễ dàng bằng
tiền mặt.
Tọa đàm
cũng nhận được những ý kiến thảo luận của ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương, TS. Phan
Thanh Hà và các nhà khoa học khác.
Phát biểu kết
thúc, TS. Lê Thương Huyền cám ơn các nhà khoa học đã nhiệt tình chuẩn bị và
trình bày tham luận cũng như phát biểu trao đổi, thảo luận tại tọa đàm.