
TS. Phạm Thị Thúy Nga (bên trái) và TS. Phạm Thị Hương Lan đồng chủ trì hội thảo
Tham dự hội thảo có các đại biểu đến từ Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trường Đại học Thương mại và một số cơ quan, ban ngành, cơ sở giáo dục, đào tạo khác. Cùng với đó, hội thảo còn đón nhận sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học Viện Nhà nước và Pháp luật.
Chủ trì hội thảo là TS. Phạm Thị Thúy Nga, Viện trưởng và TS. Phạm Thị Hương Lan, Trưởng phòng Phòng Pháp luật Kinh tế.
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Phạm Thị Hương Lan đề cập đến việc thế giới đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên số. Trong đó, các loại thị trường có một sự thay đổi rất lớn cả về nội dung và cách thức vận hành. Trước sự phát triển của kinh tế số thì các loại thị trường cũng trở nên rất đa dạng và mới mẻ. Việc nghiên cứu chính sách, pháp luật nhằm phát triển các loại thị trường trong kỷ nguyên số là rất cần thiết để đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế số ở nước ta hiện nay. TS. Hương Lan nhấn mạnh mục tiêu của Hội thảo là cung cấp luận cứ khoa học về chính sách, pháp luật phát triển các loại thị trường đặt trong bối cảnh sự phát triển của kinh tế số, xã hội số.

TS. Phạm Thị Hương Lan phát biểu khai mạc hội thảo
Hội thảo là diễn đàn để các nhà nghiên cứu, các diễn giả, các nhà quản lý bày tỏ các kết quả nghiên cứu, quan điểm khoa học về lý luận và thực tiễn đối với chính sách, pháp luật về phát triển các loại thị trường trong kỷ nguyên số, qua đó tiếp tục đưa ra những gợi mở, đề xuất xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về vấn đề này.
Tham luận mở đầu hội thảo là của PGS.TS. Phan Thế Công (Nguyên Trưởng khoa Khoa Kinh tế, Trường Đai học Thương mại) có chủ đề “Chính sách và pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng nhằm phát triển bền vững thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế số ở Việt Nam”. Bài viết tập trung phân tích thực trạng và hiệu quả của chính sách, pháp luật cũng như công tác thực thi bảo vệ người tiêu dùng trong nền kinh tế số, đặc biệt trong bối cảnh giao dịch tiêu dùng trực tuyến gia tăng mạnh mẽ. Việt Nam đã đạt những bước tiến quan trọng trong xây dựng khung pháp lý, nổi bật là Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và các văn bản pháp luật có liên quan quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này và hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên không gian mạng. Tuy vậy, các vấn đề về thực thi, nhận thức còn hạn chế của người tiêu dùng và doanh nghiệp, cũng như tình trạng lừa đảo, vi phạm dữ liệu và hiệu quả giải quyết tranh chấp vẫn là thách thức lớn. Việc tiếp tục hoàn thiện chính sách và tăng cường năng lực thực thi là điều kiện quyết định để bảo vệ người tiêu dùng, góp phần phát triển thị trường số bền vững và an toàn.

PGS.TS. Phan Thế Công giới thiệu tham luận của mình
Tham luận thứ hai có chủ đề “Chính sách, pháp luật về phát triển thị trường đất đai trong kỷ nguyên số ở Việt Nam hiện nay” của ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga (Viện Nhà nước và Pháp luật). Thông qua việc phân tích nội dung các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, bài viết chỉ ra những điểm tiến bộ, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, đồng thời nhận diện các hạn chế, bất cập đang cản trở quá trình phát triển một thị trường đất đai minh bạch, hiệu quả và hiện đại. Trên cơ sở đó, tham luận đặt mục tiêu kiến nghị những định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật trong thời gian tới, góp phần xây dựng thị trường đất đai hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, gắn với ứng dụng công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Theo đó, cần có định hướng rõ ràng về xây dựng một hệ sinh thái pháp lý số về đất đai toàn diện, trong đó cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia phải được ưu tiên đầu tư và hoàn thiện trước, bảo đảm đầy đủ, chính xác, có khả năng kết nối, chia sẻ liên thông giữa các ngành và các cấp. Chính phủ cần ban hành quy định bắt buộc về chuẩn hóa dữ liệu, tích hợp các nền tảng thông tin như dân cư, thuế, quy hoạch và doanh nghiệp để hình thành một hệ thống quản lý đất đai thông minh, hỗ trợ ra quyết định chính sách kịp thời. Bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích phát triển các sàn giao dịch đất đai trực tuyến, ứng dụng công nghệ blockchain, trí tuệ nhân tạo để định giá và kiểm soát rủi ro, đồng thời đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng điện tử.
Về mặt con người, một chính sách chuyển đổi số bền vững không thể thiếu đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng số, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Việc tổ chức tập huấn cho cán bộ địa chính, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật số và tăng cường ứng dụng dịch vụ công mức độ cao cần được ưu tiên. Đồng thời, để thay đổi tâm lý e ngại từ người dân và doanh nghiệp, Nhà nước cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về lợi ích, tính bảo mật và pháp lý của giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai.

ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga trình bày slide bài tham luận
Bình luận về chủ đề trong tham luận của TS. Bảo Nga, TS. Hương Lan cho rằng, nói đến ứng dụng công nghệ số trong đăng ký đất đai là nói đến minh bạch trong số liệu về kích thước, số thửa, thủ tục hành chính. Việc số hóa trong đăng ký đất đai sẽ có tác dụng rất lớn trong việc định giá giá trị tài sản sử dụng đất, trong bối cảnh hiện nay vẫn chưa minh bạch giá trị thật của một mảnh đất khi chưa lý giải được thế nào là giá thị trường. Việc số hóa sẽ minh bạch giá trị trước và sau giao dịch cũng như việc đóng thuế và là tiền đề để Nhà nước quản lý đất đai.
Tiếp theo, Hội thảo lắng nghe ThS. Đoàn Đình Lâm (Vụ Khoa học công nghệ, Đào tạo và Môi trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) trình bày tham luận “Cơ sở pháp lý bảo vệ tác phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa nhằm thúc đẩy thị trường văn hóa trong kỷ nguyên số”. Bài viết này tập trung phân tích các quy định pháp lý trong và ngoài nước nhằm bảo vệ các tác phẩm sáng tạo thuộc lĩnh vực văn hóa. Phần đầu bài viết nêu đến vai trò của tác phẩm văn hóa như biểu tượng của bản sắc và sức mạnh mềm của quốc gia. Ở phạm vi quốc tế, Công ước UNESCO 1970 được xem là nền tảng quan trọng giúp Việt Nam khẳng định chủ quyền văn hóa, ngăn chặn buôn bán trái phép và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Ở phạm vi quốc gia, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý cụ thể như Nghị định số 113/2013/NĐ-CP và các quy định về giám định tác phẩm mỹ thuật. Bài viết cũng chỉ ra những vấn đề đặt ra hiện nay như: thi hành pháp luật chưa hiệu quả, khó khăn trong xác minh quyền tác giả, vi phạm bản quyền gia tăng trên nền tảng số, đạo nhái tinh vi, và nhận thức xã hội còn hạn chế. Từ đó, bài viết kiến nghị tăng cường cơ chế bảo vệ, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao giáo dục pháp lý về quyền tác giả trong xã hội. Cụ thể là, cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan trong Luật Sở hữu trí tuệ cho phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số, nhất là với các loại hình tác phẩm phi vật thể, tác phẩm trên nền tảng số và giao dịch xuyên biên giới. Đồng thời, cần thành lập tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ để giải quyết nhanh chóng các tranh chấp bản quyền. Cùng với đó, đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về tác phẩm văn hóa, trong đó ứng dụng công nghệ như Blockchain, AI, chữ ký số nhằm xác lập, truy vết và bảo vệ quyền sở hữu. Từ đó, tạo điều kiện minh bạch hóa và thuận lợi hóa việc xác minh quyền tác giả khi có tranh chấp.

PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa bình luận về báo cáo của PGS.TS. Phan Thế Công
Bình luận về báo cáo của PGS.TS. Phan Thế Công, PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa (Viện Nhà nước và Pháp luật) cho rằng, chính sách, pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng nhằm phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế số ở Việt Nam hiện nay còn có một số văn bản đang chồng chéo, ví dụ Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có quy định về chứng cứ số, thông tin dữ liệu điện tử được coi là chứng cứ số, khai thác thông tin trên quy định chứng cứ điện tử, tuy nhiên trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2023 lại không quy định vấn đề này. Để thu thập chứng cứ khi thực hiện các giao dịch trên sàn thương mại điện tử, chúng ta không thể yêu cầu các sàn giao dịch cung cấp các lịch sử giao dịch, hay các sàn ở nước ngoài thì các cơ quan Việt Nam cũng không thể yêu cầu họ cung cấp thông tin lịch sử giao dịch.
PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa cũng nêu vấn đề về giải quyết tranh chấp trực tuyến trên cổng ODR quốc gia được đề cập đến nhiều trong mấy năm gần đây để giải quyết tình trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng.

TS. Nguyễn Linh Giang trao đổi về tác phẩm văn hóa do AI tạo ra
Về các tác phẩm văn hóa, TS. Nguyễn Linh Giang (Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật) cho biết, hiện nay ở nhiều nước, có các sản phẩm của AI đã yêu cầu dán nhãn do AI tạo ra. Các nhà sáng tạo nội dung, nhà sản xuất phải dán nhãn, bao gồm việc ghi nhận tỷ lệ bao nhiêu phần trăm do AI tạo ra. Chẳng hạn, pháp luật Trung Quốc quy định rõ về nội dung này. Trong tương lai, để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì quy định này cũng là cần thiết đối với Việt Nam.
Sau giờ nghỉ giải lao, Hội thảo tiếp tục diễn ra với tham luận của ThS. Phạm Thị Hiền (Viện Nhà nước và Pháp luật), “Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực công nghệ tài chính – công cụ pháp lý thúc đẩy thị trường tài chính số ở Việt Nam hiện nay”. Công nghệ tài chính - Fintech (Financial Technology) là thuật ngữ để chỉ các hoạt động tài chính được ứng dụng công nghệ vào để cải thiện, nâng cấp hoạt động tài chính nhằm mang tới cho khách hàng các giải pháp, dịch vụ tài chính minh bạch, hiệu quả và ngày càng thuận tiện hơn với mức chi phí thấp. Việc ứng dụng công nghệ vào các hoạt động kinh doanh tài chính như tài chính ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, đầu tư… không phải là điều mới mẻ, tuy vậy với sự phát triển rất mạnh của công nghệ thời gian gần đây, lĩnh vực công nghệ tài chính đang có sự phát triển vượt trội. Tác giả đã phân tích cơ sở xây dựng và nội dung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) Fintech ở Việt Nam rồi sau đó chia sẻ kinh nghiệm thực thi cơ chế thử nghiệm có kiểm soát Fintech ở Hồng Kông, Singapore và Vương quốc Anh. Từ đó, ThS. Phạm Thị Hiền đưa ra kết luận và đề xuất một số gợi mở để thúc đẩy thị trường tài chính số ở Việt Nam, đó là: (i) Bổ sung tiêu chí đánh giá về giải pháp công nghệ đối với nhóm các tổ chức tín dụng và công ty Fintech; (ii) Quy định các tiêu chí đánh giá hồ sơ tham gia thử nghiệm doanh nghiệp cụ thể hơn như: yêu cầu chứng minh giá trị của giải pháp mang lại, đưa ra các kịch bản thử nghiệm và kết quả dự kiến…; (iii) Tiếp tục xây dựng những cơ chế thử nghiệm đối với các lĩnh vực công nghệ tài chính khác như: bảo hiểm, chứng khoán, thông qua việc nghiên cứu ứng dụng thử nghiệm các giải pháp công nghệ chuỗi khối, block chain, sổ cái phân tán…

ThS. Phạm Thị Hiền trình bày tham luận
Tham luận cuối tại Hội thảo do ThS. Nguyễn Thu Dung (Viện Nhà nước và Pháp luật) trình bày có tiêu đề “Bảo đảm quyền tiếp cận dữ liệu công nhằm phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế số ở Việt Nam hiện nay”. Tác giả đã dẫn chứng khái niệm, đặc điểm, phân loại dữ liệu công theo Tổ chức OECD. Về quyền tiếp cận dữ liệu công, OECD định nghĩa rằng, dữ liệu công phải được cung cấp “một cách rộng rãi, không phân biệt và với chi phí hợp lý hoặc miễn phí” để tối đa hóa lợi ích xã hội từ việc tái sử dụng dữ liệu do các cơ quan nhà nước tạo lập hoặc quản lý. Giới hạn của quyền tiếp cận dữ liệu công là an ninh quốc gia, quyền riêng tư cá nhân và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về dữ liệu công ở Việt Nam tuy khá đầy đủ nhưng vẫn còn gặp phải những vấn đề pháp lý khác, cụ thể là: (i) Chưa có định nghĩa pháp lý về dữ liệu công mặc dù có định nghĩa pháp lý về dữ liệu mở; (ii) Cơ chế thương mại hóa và khai thác dữ liệu công chưa rõ ràng; (iii) Cơ chế tiếp cận dữ liệu công còn hình thức, thiếu cưỡng chế thực thi; (iv) Thiếu cơ chế quản trị dữ liệu công liên thông, đa cấp.
Chia sẻ thực tế về dữ liệu công, PGS.TS. Phan Thế Công cho biết, hiện nay, việc cung cấp dữ liệu công của các cơ quan nhà nước còn chậm và hạn chế. Trên Cổng dữ liệu quốc gia (http://data.gov.vn), điểm đầu mối công bố dữ liệu mở, cung cấp thông tin về chia sẻ dữ liệu của cơ quan nhà nước, nhiều dữ liệu cập nhật mới nhất mới đến năm 2022. Dữ liệu lại chưa được công bố nhiều, dữ liệu công bố thì tản mạn ở nhiều cơ quan.

ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương phát biểu thảo luận tại hội thảo
Hội thảo cũng đón nhận những ý kiến trao đổi, thảo luận của TS. Hoàng Kim Khuyên, ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương và các đại biểu khác về các vấn đề: Trào lưu túi mù và vấn đề bảo vệ môi trường; xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; thị trường dữ liệu, thị trường tài sản số…
Phát biểu kết thúc hội thảo, TS. Phạm Thị Thúy Nga cho rằng, Hội thảo đã diễn ra nghiêm túc và làm rõ các vấn đề về bối cảnh mới, công nghệ số, kỷ nguyên số đã đặt ra cho chính sách, pháp luật cần tự đổi mới, điều chỉnh những vấn đề cũ nhưng với góc nhìn mới dưới cách tiếp cận mới cũng như điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh. Qua hội thảo này, sẽ đặt ra một số nội dung làm tiền đề để chúng ta lựa chọn tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới. Chẳng hạn, đối với thị trường truyền thống thì sandbox pháp lý đang là câu hỏi, điều chỉnh như thế nào là bài toán khó. Hiện nay, một số đạo luật quan trọng cần phải sửa đổi: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh… để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số và kinh tế số. Trong những vấn đề của thị trường số, nội dung về thị trường lao động chưa được đề cập trong phạm vi hội thảo này do hạn chế về thời gian, tuy vậy Viện sẽ tiếp tục có những nghiên cứu về vấn đề này trong thời gian tới. Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn các vị đại biểu tham dự, các báo cáo viên đã trình bày tham luận để buổi hội thảo diễn ra thành công tốt đẹp.

Toàn cảnh hội thảo