
PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Lê trình bày tham luận của mình
Tham luận mở đầu tọa đàm là của PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Lê (Nguyên Viện trưởng Viện NC Con người, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) có chủ đề “Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực”. Về mặt khái niệm, theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Tác giả cũng dẫn chứng và phân tích quan điểm của EU, OECD về thành phần của nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài, tài năng và phân loại nguồn nhân lực.
Khung đánh giá năng lực của OECD gồm 2 thành phần chính là năng lực kỹ thuật và năng lực cốt lõi. Trong đó, năng lực cốt lõi gồm: (i) Nhóm các năng lực liên quan đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ: (ii) Nhóm các năng lực về giao tiếp; (iii) Nhóm liên quan đến các năng lực chiến lược. Bài viết đã chỉ ra những thách thức gặp phải đối với nguồn nhân lực để có thể phát triển một cách bền vững đáp ứng yêu cầu của thế kỷ XXI, đó là:
- Tính di động toàn cầu;
- Tài năng, nguồn nhân lực quan trọng nhất, ngày càng khan hiếm;
- Xu hướng nhân khẩu học;
- Nhân tài muốn thay đổi công việc thường xuyên;
- Vốn dồi dào làm tăng cạnh tranh thu hút lao động và nhân tài.

GS.TS. Võ Khánh Vinh với tham luận "Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực pháp luật"
Tiếp theo, Tọa đàm lắng nghe GS.TS. Võ Khánh Vinh (Nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) trình bày tham luận “Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực pháp luật”. Tác giả cho rằng, nguồn nhân lực pháp luật là một khái niệm rộng, với 3 thành tố gồm người đang làm việc trong lĩnh vực pháp luật, nguồn dự trữ và tiềm năng. Báo cáo khái quát hóa 6 đặc điểm của nguồn nhân lực pháp luật: (i) Tính đa dạng, phức tạp; (ii) Tính chuyên môn hóa, học thuật cao; (iii) Tính quyền lực nhà nước; (iv) Tính tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề luật; (v) Trách nhiệm xã hội; (vi) Tính biến động và kế thừa, phát triển.
Sau đó, GS.TS. Võ Khánh Vinh nêu ra vai trò của nguồn nhân lực pháp luật, có thể kể đến như trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Một vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm là công bằng, dân chủ, công lý và quyền con người, để bảo đảm được điều này thì nguồn nhân lực pháp luật đóng vai trò rất quan trọng. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực pháp luật còn đóng vai trò trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nghĩa, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tiếp sau vai trò của nguồn nhân lực pháp luật thì giáo sư chỉ ra 4 yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực pháp luật, bao gồm: (i) Thể chế, chính sách; (ii) Hệ thống đào tạo, bồi dưỡng; (iii) Kinh tế, xã hội và văn hóa; (iv) Tác động của khoa học công nghệ đến nguồn nhân lực pháp luật.
GS.TS. Võ Khánh Vinh đưa ra quan điểm về xây dựng mô hình nguồn nhân lực pháp luật hiện đại được kết hợp với 3 thành tố: Bản lĩnh chính trị, đạo đức và năng lực chuyên môn. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức và pháp luật là hai thành tố quan trọng, có mối quan hệ biện chứng với nhau: Pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa. Việc chuẩn hóa và kiểm soát chất lượng nguồn nhân lực pháp luật là đặc biệt quan trọng. Vì thế, tác giả cho rằng, cần phải xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về năng lực và phẩm chất của nguồn nhân lực này. Vì vậy, nhìn nhận về nguồn nhân lực và nhân lực pháp luật phải có cách tiếp cận rất rộng trên nhiều chiều cạnh chứ không chỉ từ các quy định pháp luật.

TS. Nguyễn Linh Giang cho biết đề tài phân loại nguồn nhân lực pháp luật vào 7 nhóm lĩnh vực
Tham luận cuối của Tọa đàm do TS. Nguyễn Linh Giang trình bày, “Phân loại nguồn nhân lực pháp luật”. Chủ nhiệm cho biết, đề tài tập trung nghiên cứu vào 7 nhóm nguồn nhân lực pháp luật làm việc trong các lĩnh vực: Lập pháp; hành pháp; tư pháp; nghiên cứu và đào tạo pháp luật; phổ biến và giáo dục pháp luật; pháp chế doanh nghiệp; hợp tác quốc tế về pháp luật. Đây là 7 lát cắt mà đề tài phân loại theo chức năng và lĩnh vực hoạt động. Tuy nhiên, trong 7 nhóm này cũng có sự chồng lấn lẫn nhau. Qua buổi tọa đàm này, TS. Linh Giang mong muốn các thành viên đề tài và các nhà khoa học tư vấn để lựa chọn ra một khuôn mạch lạc để việc triển khai theo các nhóm có nội dung không bị trùng lặp đồng thời không bị bỏ sót đối tượng quan trọng.
Chẳng hạn, với nhóm nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực lập pháp, ngoài các chuyên gia làm công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội, các cơ quan tham mưu, giúp việc cho hoạt động lập pháp cũng như nguồn nhân lực làm việc tại các HĐND, thì còn có nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật công tác tại các bộ ngành quyết định khá nhiều đến nội dung, chất lượng của việc xây dựng pháp luật. Bởi thế, TS. Nguyễn Linh Giang băn khoăn chưa biết nên để nhóm này ở nhóm nguồn nhân lực lĩnh vực lập pháp hay hành pháp?
Với nhóm nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực tư pháp, TS. Nguyễn Linh Giang nhìn nhận, đây là nhóm có rất nhiều đối tượng, có thể kể đến: thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư, công chứng viên, thừa phát lại… Do số lượng quá nhiều nên Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu vào 4 đối tượng chính là thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên và luật sư.
Với nhóm nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về pháp luật, đây cũng là một nhóm rất rộng với những cán bộ, nhân lực làm công tác hợp tác quốc tế về pháp luật ở các bộ ngành, địa phương, các tổ chức phi chính phủ, dự án hợp tác quốc tế... Đề tài sẽ tập trung vào nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực hợp tác quốc tế ở Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và một số cơ quan quan trọng như Tòa án, Viện kiểm sát, Hội luật gia, Liên đoàn Luật sư.

GS.TS. Lê Minh Tâm trao đổi về việc phân loại nguồn nhân lực pháp luật
Trao đổi tại tọa đàm, GS.TS. Nguyễn Minh Tâm cho rằng, để phân loại nguồn nhân lực pháp luật, về mặt khách quan, khoa học thì vẫn nên mở rộng tối đa, sau đó, đề tài lựa chọn những nhóm chính, chức danh chính để phân tích, nghiên cứu. Khi phát triển nguồn nhân lực pháp luật thì cần chú ý rằng trách nhiệm nhà nước là đầu tiên. Có một đội ngũ nhân lực pháp luật dồi dào sẽ xây dựng được hệ thống pháp luật khách quan.
TS. Lê Thị Thiều Hoa, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) chia sẻ thực tế về nguồn nhân lực pháp luật ở các bộ ngành và địa phương trong việc tham mưu, xây dựng pháp luật. Việc xác định nguồn nhân lực này là không dễ dàng do không khoanh vùng được. Bởi trên thực tế, ở các bộ ngành, không chỉ văn phòng mà các vụ, cục chuyên môn cũng làm công tác xây dựng pháp luật.
Thảo luận về chức danh kiểm sát viên, PGS.TS. Trần Văn Luyện cho biết, Quốc hội vừa thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2025. Luật này có bổ sung chức danh kiểm sát công, với rất nhiều hoạt động liên quan đến nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của yêu cầu đổi mới. Ông gợi ý chia ra 2 loại về nguồn nhân lực trong xây dựng pháp luật là: nguồn nhân lực chuyên trách xây dựng pháp luật và nguồn nhân lực tham gia xây dựng pháp luật.

TS. Lê Thị Thiều Hoa chia sẻ thực tế về nguồn nhân lực pháp luật ở các bộ ngành, địa phương
Tọa đàm cũng đón nhận những ý kiến trao đổi, thảo luận ý nghĩa của TS. LS. Liêu Chí Trung; TS. Nguyễn Minh Sử, Phó Giám đốc Học viện Tòa án và một số nhà khoa học khác.
Phát biểu kết thúc tọa đàm, TS. Nguyễn Linh Giang cảm ơn các thành viên đề tài và các đại biểu đã đến dự và nhiệt tình trình bày tham luận, đóng góp ý kiến quý báu. Những trao đổi, thảo luận tại tọa đàm đã gợi mở nhiều vấn đề cho Ban chủ nhiệm đề tài hy vọng sẽ sớm tổ chức tọa đàm về chủ đề phát huy nguồn nhân lực pháp luật trong thời gian tới.

Chủ nhiệm đề tài, TS. Nguyễn Linh Giang phát biểu kết thúc tọa đàm