•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Phòng Lý luận và Xã hội học pháp luật

10/11/2008
Lý luận về pháp luật, xã hội học pháp luật trong hệ thống các hướng nghiên cứu của Viện Nhà nước và pháp luật

1 SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÒNG LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI HỌC VỀ PHÁP LUẬTXuất phát từ chức năng và nhiệm vụ của mình, Viện Nhà nước và Pháp luật luôn luôn coi Lý luận về pháp luật là một trong những hướng nghiên cứu chủ đạo ngay từ những ngày đầu thành lập cho đến ngày hôm nay.

Khi còn là Tổ Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước, trong số các phân tổ thuộc cơ cấu của Tổ đã có Phân tổ Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật do Luật sư Trần Công Tường phụ trách. Các nhà nghiên cứu có uy tín lúc bấy giờ như Luật sư Phan Anh, Vũ Đình Hoè, Tạ Như Khuê, v.v.., đã có nhiều bài viết đề cập các vấn đề lý luận, trong đó có lý luận về pháp luật. Các bài viết đã tập trung chủ yếu vào phân tích các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lý luận cách mạng về nhà nước và pháp luật, về pháp chế xã hội chủ nghĩa, vạch rõ bản chất phản cách mạng, phản dân chủ của pháp luật chế độ Sài Gòn do Mỹ dựng nên. Nhiệm vụ của hoạt động lý luận lúc này là góp phần vào việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của nhân dân ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam nhằm thống nhất đất nước. 
Từ năm 1967 với việc thành lập Viện Luật học, công tác nghiên cứu lý luận Nhà nước và pháp luật được đặc biệt đẩy mạnh. Những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về nhà nước và pháp luật tiếp tục được các nhà khoa học phân tích và làm sáng tỏ trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, các vấn đề về bản chất của chế độ XHCN, về pháp luật kiểu mới được phân tích trong các bài viết và được công bố trong tạp chí của Viện và các công trình xuất bản khác đã góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng khẳng định tính ưu việt của Nhà nước và pháp luật XHCN, phê phán các quan điểm tư sản đối với các vấn đề Nhà nước và pháp luật. Đặc biệt, sau năm 1975, khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu lý luận về nhà nước và pháp luật được nâng lên một bước mới. Lực lượng cán bộ khoa học trong và ngoài Viện tham gia nghiên cứu lý luận về nhà nước và pháp luật ngày càng đông đảo. Số lượng các bài viết về lý luận nhà nước và pháp luật luôn chiếm ưu thế trong các bài báo, các công trình khoa học pháp lý được công bố. Các vấn đề lý luận được tập trung nghiên cứu trong thời kỳ này gắn liền với nhu cầu của quá trình thống nhất về mặt nhà nước và pháp luật trong phạm vi cả nước. Các bài viết của nhiều tác giả như Nguyễn Ngọc Minh, Ngô Bá Thành, Ngô Khai Phong…, đã góp phần làm sáng tỏ nhiều khía cạnh pháp lý của việc thống nhất về nhà nước và pháp luật ở nước ta.
    Hiến pháp năm 1980 ra đời đã đặt trước khoa học pháp lý và đặc biệt lý luận nhà nước và pháp luật nhiều vấn đề lý luận cần được nghiên cứu, nhất là các vấn đề về quyền làm chủ của nhân dân lao động; vai trò của pháp luật đối với việc thực hiện quyền làm của chủ nhân dân. Các vấn đề lý luận về pháp chế, về ý thức pháp luật và lối sống theo Hiến pháp và pháp luật đã được soi sáng trong nhiều bài đăng trên tạp chí Luật học, chẳng hạn, các bài viết của Ngô Văn Thâu, trong luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn Đình Lộc, Vũ Đức Khiển, v.v..  Công trình Bình luận Hiến pháp 1980 của tập thể tác giả trong và ngoài Viện đã nghiên cứu khá sâu sắc nhiều vấn đề về nhà nước và pháp luật trong các điều kiện xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, góp phần làm sáng tỏ các quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước, xây dựng pháp luật, tăng cường pháp chế. Công trình "Tăng cường hiệu lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa của ta" của Viện Luật học do GS. Nguyễn Ngọc Minh chủ biên (1983) đã đề cập nhiều vấn đề lý luận về xây dựng, củng cố nhà nước và pháp luật ở thời kỳ quá độ lên CNXH theo các quan điểm được xác định tại các văn kiện Đại hội lần thứ V (tháng 3/1982) của Đảng. Từ năm 1981 việc nghiên cứu lý luận nhà nước và pháp luật được tập trung vào phòng Lịch sử và Lý luận nhà nước và pháp luật, đã tổ chức triển khai nhiều hướng nghiên cứu như lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, vai trò và chức năng của pháp luật, sự điều chỉnh pháp luật, pháp chế, ý thức pháp luật, phê phán các quan điểm tư sản, phi mác xít về nhà nước và pháp luật. Phòng Lịch sử và Lý luận Nhà nước và Pháp luật ngoài số cán bộ trong biên chế đã tập hợp được đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài Viện tham gia nghiên cứu các vấn đề lý luận về nhà nước và pháp luật. Các bài viết trên Tạp chí Luật học có nội dung đề cập các vấn đề lý luận về nhà nước và pháp luật ngày càng nhiều trong thời gian này.
Hiến pháp 1992 được thông qua, đất nước trong thời kỳ đổi mới, nghiên cứu lý luận nhà nước và pháp luật được tiếp tục đẩy mạnh. Các công trình nghiên cứu được tập trung vào các vấn đề bản chất Nhà nước ta- nhà nước của dân, do dân, vì dân; dân chủ; nhà nước và cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước; đổi mới, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hệ thống chính trị và việc đổi mới hệ thống chính trị; sự thay đổi xã hội và pháp luật; pháp luật và thị trường; đổi mới hệ thống pháp luật nước ta; ý thức pháp luật, tăng cường pháp chế…
Nhiều cuộc hội thảo trong các lĩnh vực này đã được tổ chức, đặc biệt cuộc hội thảo khoa học quốc tế “Xã hội và pháp luật” được tổ chức vào năm 1993 đã góp phần lý giải nhiều vấn đề lý luận về pháp luật trong thời kỳ đổi mới ở nước ta. Các công trình khoa học cấp nhà nước KX.01.14 “Xây dựng nền chính trị và hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ”; KX.07.17 “Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật” do tập thể cán bộ Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thực hiện từ năm 1991 đến năm 1995 và đã được nghiệm thu với kết quả xuất sắc, đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận về pháp luật.
Bước vào thời kỳ đổi mới, trên tất cả các lĩnh vực đối nội và đối ngoại, vai trò của pháp luật ngày càng được khẳng định và đề cao; yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, thể chế hoá các hoạt động trong xã hội, xây dựng và thực hiện pháp luật, khẳng định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Những nhiệm vụ quan trọng và không đơn giản này đòi hỏi trước hết một sự tổng kết, đánh giá thực tiễn pháp lý ở nước ta trên tất cả ba mặt của nó là hoạt động xây dựng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật và hoạt động giáo dục pháp luật, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật và lối sống tuân theo pháp luật cho nhân dân. Phải thực hiện những yêu cầu đó trên những cơ sở khoa học và để rút ra  được những khái quát khoa học bổ sung cho vốn lý luận của khoa học pháp lý nước nhà. Khoa học pháp lý Việt Nam sau thời kỳ đổi mới, bắt đầu có những công trình nghiên cứu lý luận chuyên khảo với tầm khái quát cao hơn về pháp luật và ngày càng có nhiều những nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học pháp lý cụ thể.

2. LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT-  MỘT SỐ THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC

2.1 Quan niệm mới về pháp luật và hệ thống pháp luật

Năm 1993, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho ra mắt một công trình nghiên cứu cơ bản về lý luận pháp luật của TS. Đào Trí Úc: “Những vấn đề cơ bản về pháp luật”. Lần đầu tiên lý luận về pháp luật được trình bày trong một chỉnh thể dựa trên phương pháp chính là xã hội học pháp luật và luật so sánh. Chỉnh thể đó bao gồm bản thân những quy định pháp luật, với bản chất, nhiệm vụ, khả năng của nó; thực tiễn áp dụng pháp luật và cuối cùng là ý thức pháp luật. Quan điểm khoa học đó đang càng ngày càng được khẳng định trong thực tế, trong nhu cầu của đất nước ta đưa pháp luật vào cuộc sống, biến pháp luật thành hành vi sinh động hàng ngày và lối sống của cá nhân, của tập thể.
Ở công trình này, lập luận của tác giả về tính khách quan của pháp luật có thể được coi là điểm sáng lý luận cơ bản nhất. Tác giả đã góp phần bàn kỹ để nhận thức một cách đầy đủ về quan điểm của C. Mác được trình bày trong Bộ Tư bản rằng, “những quan hệ dân sự đòi hỏi những hình thức pháp lý tương ứng”, “những cách biểu thị văn minh”, rằng “đây sẽ không đơn thuần chỉ là các quan hệ giữa những cá nhân mà là những quan hệ phổ biến”.
Quan điểm khoa học đó đã được thực tiễn kiểm chứng. Khi nào những vấn đề của phát triển xã hội tìm được những câu trả lời xác đáng trong quá trình làm luật thì sẽ có được những văn bản, những quy định pháp luật tốt, điều chỉnh một cách có hiệu quả các lĩnh vực quan hệ xã hội. Sự chậm trễ trong việc thể chế hoá cũng như sự chủ quan, duy ý chí, xa rời thực tiễn đã làm giảm hiệu quả của pháp luật, thậm chí làm phát sinh các yếu tố tiêu cực.
Quan điểm của tác giả về pháp luật là quan điểm đặt pháp luật trong dòng chảy xã hội. Nghiên cứu lý luận chung về pháp luật từ đó đã có những bước phát triển quan trọng về chất. Nhờ xử lý tốt những vấn đề lý luận chung về pháp luật chúng ta đã tạo điều kiện rất quan trọng và cần thiết cho việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý chuyên ngành, góp phần tạo cơ sở lý luận cho hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta.
Có thể thấy rõ hướng nghiên cứu lý luận về pháp luật đã được Viện Nhà nước và Pháp luật triển khai trong hơn hai thập niên vừa qua như sau:
1. Hoàn thiện hệ thống lý luận cơ bản về pháp luật: phân tích các điều kiện, nhu cầu khách quan và chủ quan của việc nhận thức các giá trị, vai trò, ý nghĩa thực tiễn của pháp luật trong đời sống xã hội; làm rõ bản chất, các đặc điểm, những hình thức, các lĩnh vực quan hệ và phương thức thể hiện của pháp luật; cơ cấu của hệ thống pháp luật; mức độ điều chỉnh và hiệu lực pháp lý của pháp luật, thứ tự ưu tiên của việc điều chỉnh pháp luật; yếu tố khách quan và chủ quan chi phối hành vi pháp luật và những biện pháp đưa pháp luật vào cuộc sống.

2. Đưa ra những đặc điểm về mặt xã hội, về nhận thức của quá trình hình thành ý thức pháp luật của con người Việt Nam và trên cơ sở làm sáng tỏ cơ cấu, nội dung ý thức pháp luật của các tầng lớp dân cư, các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức và lối sống theo pháp luật, đề xuất mô hình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật và hệ thống các biện pháp xây dựng lối sống theo pháp luật ở nước ta hiện nay.

3. Đã phân tích rõ vị trí của việc áp dụng pháp luật trong hệ thống pháp luật, những tiêu chí, điều kiện, các hình thức, cơ chế áp dụng pháp luật, các yếu tố tác động đến việc áp dụng pháp luật; đưa ra những chỉ số để đánh giá hiệu quả của pháp luật, các điều kiện bảo đảm và mức độ các điều kiện bảo đảm hiệu quả của pháp luật.

4. Trên cơ sở đánh giá khái quát, toàn diện hệ thống pháp luật nước ta, phân tích những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hệ thống pháp luật, các xu hướng phát triển, các quan hệ xã hội trong thời gian tới, để đưa ra những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng khung pháp lý tạo mặt bằng cần thiết cho quá trình hợp tác quốc tế và khu vực trong những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.

5. Phân tích nội dung các học thuyết chính trị – pháp lý cơ bản ở Việt Nam trong mối quan hệ với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ lịch sử, tạo cơ sở cho việc kế thừa và phát triển tư tưởng chính trị – pháp lý trong giai đoạn hiện nay.

6. Trong lĩnh vực hợp tác và hội nhập quốc tế, các công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ vị trí vai trò quan trọng của pháp luật với tính cách là công cụ quản lý, tổ chức thực hiện chức năng mới của Nhà nước trong việc thực thi các cam kết quốc tế; đã góp phần làm rõ mức độ tương thích giữa pháp luật nước ta với toàn bộ không gian pháp lý ngoài phạm vi quốc gia; xác định rõ những khác biệt trong các hệ thống pháp luật, đặc biệt sự đa dạng về nguồn của luật, nội dung của các nguyên lý, khái niệm, chế định pháp luật khác nhau; đã tìm hiểu những xu hướng phát triển của pháp luật các quốc gia, các khu vực, các cộng đồng quốc tế, đặc biệt là xu hướng hội nhập của các hệ thống pháp luật, những khả năng và phương thức thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau giữa các hệ thống pháp luật; phương thức “nội hoá” các cam kết quốc tế trong quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra hiện nay. Đã có những đề tài đi sâu nghiên cứu về các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc tế, của các tổ chức và định chế quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tìm hiểu sự tương thích giữa pháp luật nước ta với các cam kết quốc tế song phương (chẳng hạn Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ). Kết quả của hướng nghiên cứu này đã góp phần vào quá trình rà soát các văn bản pháp luật để có những sửa đổi, bổ sung phù hợp với các cam kết quốc tế và của cộng đồng quốc tế.
Có thể nói rằng, việc nghiên cứu lý luận về pháp luật ở Viện Nhà nước và pháp luật đã được đặt trên một “đường ray” mới nhằm khắc phục lối nghiên cứu tư biện coi pháp luật như một sản phẩm thuần tuý của ý chí chủ quan thiếu đời sống thực của nó, thiếu những quy luật hình thành, tồn tại và phát triển.
Thật vậy, điều chú ý đầu tiên được các công trình nghiên cứu của Viện tập trung vào thuộc tính khách quan của pháp luật để qua đó tìm thấy những cái chung, và đồng thời cho phép phân biệt pháp luật với những hiện tượng của xã hội khác như đạo đức, tập quán, tôn giáo, tư tưởng quy phạm kỹ thuật, v.v.. Nhờ làm rõ các thuộc tính của pháp luật mà chúng ta mới có thể chỉ ra được mặt mạnh, mặt yếu của nó trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, hành vi của con người, từ đó biết sử dụng pháp luật đúng nơi, đúng lúc, đúng mức độ cần thiết với những hình thức diễn đạt pháp lý chặt chẽ, kết hợp đúng đắn và hài hoà pháp luật với các quy chuẩn xã hội khác trong quá trình quản lý đất nước.
Lần đầu tiên trong lĩnh vực lý luận về pháp luật, một thuộc tính quan trọng của pháp luật đã được xác định: tính được bảo đảm thực hiện bằng toàn bộ hoạt động và sức mạnh của Nhà nước. Có thể nhận thấy rằng trước đó, khi nói đến pháp luật, người ta thường nói đến tính được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Quan điểm đó đã trở nên phiến diện trong tiến trình thay đổi vai trò và chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đương nhiên khi làm ra luật, Nhà nước đã tạo cho các quy phạm pháp luật tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên, tuỳ theo các mức độ cần thiết, Nhà nước không chỉ cưỡng chế thực thi pháp luật mà phải có trách nhiệm tạo ra những bảo đảm về kinh tế, về tổ chức, về tư tưởng, giáo dục, tuyên truyền, khuyến khích để đưa pháp luật vào cuộc sống. Quan điểm đó hoàn toàn phù hợp không chỉ với quan điểm về chức năng của Nhà nước mà còn phản ánh nhận thức mới về pháp luật không phải chủ yếu để trừng phạt mà là sắp đặt, dự liệu và điều chỉnh hành vi của con người.
Trong các hướng nghiên cứu của lý luận về pháp luật của Viện Nhà nước và pháp luật không thể không kể đến nghiên cứu về các mối liên hệ của pháp luật với kinh tế, với chính trị, tư tưởng, đạo đức, tôn giáo. Những kết luận quan trọng của việc nghiên cứu đã góp phần vào lý giải vai trò của pháp luật trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý các mặt đời sống của xã hội. Đồng thời, các nghiên cứu đó cũng đã góp phần chỉ ra nhu cầu về tính tương thích cần thiết của hệ thống pháp luật, của các thiết chế và thủ tục pháp lý trước nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2.2 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa- sự thăng hoa của lý luận
Từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ Khoá VII của Đảng (tháng 1 năm 1994), Đảng ta đã nêu vấn đề về định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta chính thức khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta. Hiến pháp năm 1992 trong lần sửa đổi vào năm 2001 đã thể chế hoá quan điểm quan trọng đó của Đảng.
Vào thời gian đó, các nhà nghiên cứu của Viện Nhà nước và pháp luật đã tập trung sự chú ý của mình nghiên cứu các khía cạnh lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền, từ nguồn gốc đến hiện tại và khả năng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Giới nghiên cứu lý luận nói chung và các chuyên gia lý luận về pháp luật nói riêng (trong đó có Viện Nhà nước và pháp luật) có quyền tự hào đã góp phần mình vào tiến trình phát triển và thăng hoa lý luận đó của Đảng ta. 
Quá trình nghiên cứu, tìm tòi lý luận này xuất phát từ học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng ta về đổi mới hệ thống chính trị, về Nhà nước và pháp luật. Nhờ đó, việc nghiên cứu đã thu hái được những kết quả quan trọng qua việc đề xuất và chủ trì thực hiện các chương trình và đề tài nghiên cứu cấp nhà nước như Chương trình KX 04. “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (giai đoan 2001 – 2005), KHXH 05 - 05 Đề tài: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng”, KX 04-02: “ Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, v.v..
Qua thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền như một xu thế khách quan, tất yếu, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền dân chủ chân chính của nhân dân, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế.
Một trong những kết luận quan trọng của các nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền là việc chỉ ra vai trò và vị trí chi phối và hiệu lực tối thượng của pháp luật trong xã hội, đặc biệt là sự chịu ràng buộc của Nhà nước trước pháp luật. Pháp quyền đồng nghĩa với với sự kết hợp giữa tổ chức quyền lực nhà nước với hệ thống các quy tắc ứng xử trong xã hội, thể hiện sự kết hợp đúng đắn ý chí của giai cấp cầm quyền với công lý và công bằng. Quyền lực nhà nước không dựa trên công lý thì đó là một thứ bạo lực thuần tuý. Đến lượt mình, công lý và lẽ phải mà không có sự bảo đảm của quyền lực nhà nước thì không thể có được. Nhà nước ta ban hành ra pháp luật không chỉ để tổ chức và quản lý xã hội mà còn để tổ chức và quản lý bản thân mình. Pháp luật trở thành công cụ để chế ước, quy định, kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của Nhà nước, để duy trì sự tồn tại của Nhà nước. Tự đặt mình trong chế độ pháp quyền, Nhà nước sẽ mạnh; ngoài lĩnh vực pháp quyền, Nhà nước luôn luôn nằm trong nguy cơ của sự chuyên quyền và mất dân chủ. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được xây dựng trên cơ sở hợp lẽ phải, hợp hiến, hợp pháp và chế độ trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân. Trong Nhà nước pháp quyền chức năng, quyền hạn của Nhà nước chỉ nằm trong khuôn khổ pháp luật, công chức, viên chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật quy định, còn công dân lại được làm tất cả những gì luật không cấm.
Nghiên cứu pháp luật từ góc độ bản chất  khách quan của nó, các công trình khoa học của các tác giả Viện Nhà nước và Pháp luật đã khẳng định tính pháp quyền của Nhà nước ta – Nhà nước thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân được đưa lên thành luật với tính cách là tiếng nói của công lý và lẽ phải, là đại lượng phổ biến bảo đảm tự do và bình đẳng của mỗi thành viên xã hội. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền chúng ta là ý chí của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động đã trở thành công cụ phản ánh lợi ích xã hội, công cụ của sự đồng thuận xã hội.
Khẳng định về chế độ pháp quyền ở nước ta đã giúp các công trình nghiên cứu đặt vấn đề sâu hơn không chỉ đối với hoạt động lập pháp mà còn dẫn đến đòi hỏi về tính công khai, minh bạch của việc áp dụng pháp luật, về khả năng tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý của công dân. Đây chính là lý do để đẩy tới yêu cầu về việc cải cách các thủ tục pháp lý - bộ phận hết sức quan trọng của cải cách hành chính và cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta.
Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc nghiên cứu về pháp luật và về Nhà nước pháp quyền, các nhà nghiên cứu lý luận về pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật đã góp phần làm rõ sự liên hệ mật thiết giữa pháp luật với các giá trị công bằng xã hội và đạo đức cách mạng, làm rõ sự kết hợp giữa tính nghiêm minh của pháp luật với đạo lý, tình thương và sự khoan dung, những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Quan điểm tiếp cận về một mô hình Nhà nước pháp quyền khoan dung, nhân nghĩa Việt Nam có thể được coi là quan điểm xuyên suốt của nhiệm vụ xây dựng và tiếp tục phát triển chế độ Nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Trên cơ sở quan điểm tiếp cận đó, đã có những công trình ở Viện Nhà nước và pháp luật đi sâu nghiên cứu về vị trí, vai trò của hương ước trong đời sống xã hội, quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng và áp dụng các quy chế dân chủ ở cơ sở.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hương ước, một mặt, phản ánh quy chuẩn của phong tục, tập quán, mặt khác, thể hiện ý chí của cộng đồng dân cư trong việc quản lý các mặt đời sống xã hội, bảo vệ trật tự, trị an và các sinh hoạt văn hoá tinh thần gắn với đời sống thường ngày của cộng đồng. Với tính cách là “Bộ luật của làng”, Hương ước trực tiếp điều chỉnh hầu hết các quan hệ giữa các cá nhân, giữa các gia đình, dòng họ trong nội bộ làng và những quan hệ với các cộng đồng làng khác và với Nhà nước.
Các nhà nghiên cứu của Viện đã chỉ rõ những khía cạnh tích cực của hương ước là khả năng gắn kết mọi thành viên trong làng thành một cộng đồng chặt chẽ; tổ chức và quản lý có hiệu quả các mặt đời sống làng xã; duy trì trật tự, kỷ cương; tạo ra môi trường sống ổn định và an toàn cho cả cộng đồng; duy trì, phát huy thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hoá cộng đồng, củng cố các giá trị đạo lý và nhân bản; gắn con người với thiên nhiên, gắn cá nhân với cộng đồng; xây dựng ý thức cộng đồng làng xã với ý thức công dân, ý thức quốc gia, v.v Nói đến hương ước là nói đến những chuẩn mực, những quy phạm và sự tự quản ở địa phương, thể hiện sự làm chủ của nhân dân ở các làng, thôn nước ta trong khuôn khổ những gì mà pháp luật không điều chỉnh. Từ đó, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, hương ước là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc quản ý nhà nước bằng pháp luật, cụ thể hoá các quy định của pháp luật, là tố chất bảo đảm cho pháp luật có tính khả thi cao trong từng đơn vị xã hội hết sức đa dạng ở nông thôn nước ta. Nhìn nhận hương ước như sự thẩm thấu, sự hoá thân các quy định của pháp luật vào các quy ước của thôn, làng là một quan điểm lý luận độc đáo.
Các công trình nghiên cứu về hương ước đã chỉ rõ nhu cầu phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước trong quản lý xã hội ở nông thôn theo hướng phân định rành mạch phạm vi điều chỉnh và mức độ giao thoa giữa hai loại công cụ quan trọng này. Trong quá trình cải cách pháp luật, đặc biệt là đối với các ngành luật có quan hệ đến phát triển nông thôn, cần tính đến sự đa dạng, phức tạp và nghịch lý của nông thôn Việt Nam, sao cho có thể tạo ra một môi trường pháp lý mới làm tiền đề cho sự hồi sinh các giá trị truyền thống, kiên quyết loại bỏ các mặt tiêu cực của các lệ làng qua các hương ước xưa đồng thời tạo cơ sở để nông thôn Việt Nam thực sự bước vào cơ chế  kinh tế – xã hội mới, văn minh và hiện đại. Pháp luật là đại lượng chung có tính quy chuẩn bắt buộc cho các quan hệ xã hội của mọi công dân, do đó, pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, có tính phổ biến và điển hình đối với toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong mọi loại hình nông thôn mà trước hết là quan hệ giữa công quyền và công chúng trên địa bàn làng, thôn. Những mối quan hệ trong nội bộ cộng đồng không có tính phổ biến, thể hiện chuẩn giá trị đạo đức của từng loại cộng đồng, cần dành cho sự điều chỉnh của hương ước và các quy phạm xã hội khác. Pháp luật có chức năng tạo ra không gian pháp lý cho sự điều chỉnh này thông qua sự thừa nhận quyền tự quản của cộng đồng.
Với những kết quả nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu về hương ước của Viện Nhà nước và Pháp luật đã kiến nghị: cần dứt khoát khẳng định trong nhận thức và trong pháp luật rằng thôn, làng là một hình thức tự quản cộng đồng, cần lấy thôn làng làm địa bàn để xây dựng hương ước. Các cơ cấu tổ chức và thiết chế ở thôn phải thực sự “phi quan phương” để thực sự là các hình thức tập hợp cộng đồng, giữ gìn và phát huy bản sắc cộng đồng.
Các nghiên cứu lý luận về pháp luật mà trước hết là nghiên cứu về hệ thống pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, đã khẳng định rõ ràng rằng, các giá trị pháp lý phổ biến của Nhà nước pháp quyền là một hệ thống giá trị mở, không phải nhất thành bất biến. Từ đó các tác giả đã khẳng định sự kế thừa và phát triển của hệ thống pháp luật nước ta để từ đó chủ động tiếp thu những nét ưu việt của các hệ thống pháp luật trên thế giới.
Trên tinh thần của quan điểm mở đó, nhiều nhà nghiên cứu lý luận ở Viện Nhà nước vàPpháp luật đã đặt sự quan tâm thích đáng đến mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và luật quốc tế. Hướng nghiên cứu này là hết sức quan trọng và cần thiết trong bối cảnh của yêu cầu giữ vững độc lập và chủ quyền trong quá trình hợp tác và hội nhập, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá.
Cần nhớ lại rằng, khi bắt tay vào nghiên cứu các vấn đề lý luận lớn này, chúng ta đã đứng trước sự hiện diện của hai quan điểm tiếp cận về mô hình Nhà nước pháp quyền. Quan điểm thứ nhất cho rằng, có một khuôn mẫu nhà nước pháp quyền chung, và cần thiết phải áp dụng một cách đầy đủ, không thêm bớt các yếu tố thuộc khuôn mẫu chung đó vào việc thiết kế và xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền ở mỗi nước. Quan điểm thứ hai, trái lại, cho rằng, bên cạnh những yếu tố phổ biến, các giá trị chung cần được đặt vào trong những điều kiện đặc thù và phát triển sáng tạo ở mỗi nước.
Xuất phát từ nhận thức vững chắc về giá trị của Nhà nước pháp quyền được tạo nên trước hết và ở mức độ cơ bản nhất bởi các giá trị của pháp luật do tinh thần của nó “xuất phát từ tinh thần của nhân dân” như cách diễn đạt của Montesquieu, các nhà nghiên cứu lý luận về pháp luật của chúng ta đã khẳng định dứt khoát rằng, pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế phải phù hợp với lợi ích của nhân dân ở từng quốc gia. Việc xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải sáng tạo, chủ động chọn lọc những kinh nghiệm khác nhau của các quốc gia và quốc tế, ưu tiên những giá trị phổ biến, mở đường cho sự hội nhập đầy đủ và bình đẳng của đất nước vào đời sống của cộng đồng quốc tế.
Chính vì vậy, kể từ ngày 10/10/2001 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế, phù hợp với việc thừa nhận nguyên tắc Pacta Sunt Servanda về tuân thủ điều ước quốc tế. Các đạo luật ban hành trong thời gian gần đây đã thể hiện nguyên tắc: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của bộ luật (luật, pháp lệnh, nghị định) của Việt Nam thì áp dụng các quy định của điều ước quốc tế” (Bộ luật Dân sự, Luật quốc tịch, Luật tài nguyên nước, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thương mại, Luật bình đẳng giới v.v...).

2. Xã hội học pháp luật
Như đã nói ở trên, lý luận về pháp luật của chúng ta có nhiệm vụ tiếp tục làm rõ những khái niệm, nguyên tắc, những quy luật của hệ thống pháp luật, làm rõ nhiệm vụ và vai trò mới của pháp luật. Làm thế nào để chúng ta sử dụng được pháp luật và các tính chất ưu việt của nó một cách đầy đủ? Trong việc điều chỉnh các vấn đề ở trong từng lĩnh vực chúng ta cần biết pháp luật có những khả năng gì? Có khả năng đến đâu? Làm thế nào để có được những văn bản pháp luật tốt? Làm thế nào để pháp luật được áp dụng đúng đắn? Làm thế nào để những quy định của pháp luật được nhân dân đồng tình, những giá trị và những đòi hỏi của điều luật được biến thành nội lực của hành vi hiện thực, thành thói quen và lối sống tuân theo pháp luật, văn minh và kỷ luật? v.v..
Từ trước đến nay, những vấn đề như vậy cũng đã từng được đặt ra trong lý luận chung về pháp luật cũng như trong từng lĩnh vực lý luận chuyên ngành pháp lý. Đặc biệt là trong quá trình xây dựng pháp luật, trước khi tiến hành soạn thảo, những vấn đề cụ thể tương tự như vậy đều được đặt ra. Một số hướng nghiên cứu đã phần nào đi sâu vào các lĩnh vực ấy như tội phạm học, luật hình sự v.v… Nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn đề Nhà nước pháp quyền, ý thức pháp luật, pháp luật và chính sách xã hội đã cho thấy rằng, lý luận phải soi sáng thực tiễn, nhưng lý luận ấy phải là kết quả của sự tổng kết một cách đầy đủ, cụ thể và khách quan thực tiễn xã hội trong từng lĩnh vực. Những câu hỏi bức xúc vừa nêu ở trên chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở cứ liệu thực tế chứ không thể chỉ dựa vào sự nghiên cứu tư biện, quy nạp hình thức hay suy đoán, mô phỏng, sao chép.
Nhận thức rõ vai trò của xã hội học trong quá trình giải quyết những vấn đề nói trên, vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, lãnh đạo Viện Nhà nước và Pháp luật đã quyết định thành lập Phòng Nghiên cứu Lý luận và Xã hội học pháp luật, coi xã hội học pháp luật là một "mũi giáp công" của khoa học pháp lý hiện đại và của hoạt động nghiên cứu của Viện.
Hoạt động nghiên cứu đã được triển khai trên cả hai bình diện: xã hội học pháp luật lý luận và xã hội học pháp luật ứng dụng.
Xã hội học pháp luật lý luận đi sâu vào các vấn đề cơ bản, nền tảng của pháp luật như vấn đề về cơ chế hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả và hiệu lực của pháp luật; nội dung và cơ cấu của pháp luật, bản chất xã hội của pháp luật, mối liên hệ giữa pháp luật và xã hội.
Xã hội học pháp luật ứng dụng là hướng đi vào xác định các yếu tố xã hội, sự kiện xã hội tác động đến pháp luật, hiệu quả của các quy phạm, chế định pháp luật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Chẳng hạn, cần làm rõ những yếu tố nào đã góp phần tạo ra được sự bảo đảm pháp chế vững chắc, giảm được các vi phạm và tội phạm trên một địa bàn cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định? Trong kết quả chung đó, có bao nhiêu vai trò của các nỗ lực về kinh tế, về xã hội, về tư tưởng, giáo dục, về tổ chức v.v… và có bao nhiêu "phần trăm" thuộc về hiệu quả và hiệu lực tác động của những văn bản pháp luật đã được ban hành để điều chỉnh các vấn đề liên quan, thậm chí có bao nhiêu "phần đóng góp" của các hình phạt đã được áp dụng?
Tính cụ thể đó là yêu cầu không thể thiếu được của các kiến nghị, các đề xuất trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật.
Các công trình nghiên cứu xã hội học pháp luật đã tập trung và giải quyết những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, làm rõ những gì đã và đang phát sinh và phát triển, gây ảnh hưởng và tác động trong quá trình xây dựng pháp luật, tức là xem xét cơ sở xã hội của pháp luật, của các đạo luật. Các tác giả đã khẳng định rằng cơ sở xã hội, tính được quy định về mặt xã hội của pháp luật, hay nói cách khác, lý do của việc ban hành pháp luật vừa là điểm khởi đầu của pháp luật vừa là tiền đề hiệu quả và hiệu lực của nó. Nghiên cứu xã hội học theo bình diện này nhằm làm rõ khả năng phản ánh hiện thực của pháp luật, mức độ phù hợp với nhu cầu của thực tiễn. Nói cách khác, nó cho phép nhìn rõ, có phải chúng ta điều chỉnh đúng cái cần điều chỉnh.
Có thể nói rằng, đây là vấn đề trung tâm của việc nghiên cứu về pháp luật và của xã hội học pháp luật.
Các công trình nghiên cứu xã hội học pháp luật đã cố gắng tìm ra các quy luật của các hành vi xã hội cần điều chỉnh và dự báo về các hành vi đó trong tương lai. Hành vi pháp luật đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các công trình nghiên cứu của Viện, chẳng hạn, như Đề tài KX 17 - 07 "Xây dựng ý thức và lối sống tuân theo pháp luật", "Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật". Xã hội học pháp luật với các phương pháp của nó có thể làm được điều đó, thông qua việc nghiên cứu các quan hệ xã hội thể hiện qua lợi ích, động cơ, mục đích hành động, ý thức của cá thể; phản ánh qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức, tập thể.
Thứ hai, các đề tài về xã hội học pháp luật đã nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả xã hội của pháp luật, của các quy định cụ thể của pháp luật.
Nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả của pháp luật không có gì khác hơn ngoài việc xem xét những gì đã ảnh hưởng đến hiệu quả thực tế. "Hộp đen" của việc xử lý vấn đề đó là cơ sở không thể thiêu được cho các kết luận về điều chỉnh pháp luật: ban hành? bổ sung? sửa đổi? bãi bỏ? v.v…
Trên cơ sở nhận thức về hai loại đối tượng nghiên cứu đó, xã hội học pháp luật là cơ sở khách quan cho các hoạt động: xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, xây dựng ý thức và hành vi pháp luật đúng đắn. Tương ứng với ba phạm vi đó, các nhà nghiên cứu xã hội học pháp luật ở Viện Nhà nước và Pháp luật đã chỉ rõ ba nhánh quan trọng của xã hội học pháp luật là:
a) Xã hội học xây dựng pháp luật; 
b) Xã hội học áp dụng pháp luật;
c) Xã hội học về hành vi pháp luật.
Xã hội học pháp luật có mối quan hệ với nhiều lĩnh vực khoa học pháp lý mà gần gũi nhất là các bộ môn như tội phạm học, luật hình sự, luật kinh tế - thương mại, bởi vì đây là lĩnh vực cần đến hiểu biết đầy đủ nhất về hành vi của con người, trách nhiệm của cá nhân và phản ứng của Nhà nước.
Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong thời gian qua các lĩnh vực này đã đi đầu trong việc nghiên cứu xã hội học, sử dụng các phương pháp điều tra, nghiên cứu xã hội học và nhiều lĩnh vực như xã hội học về tội phạm, xã hội học về nhân thân người phạm tội, xã hội học về hình phạt, xã hội học về kinh doanh v.v…
Xuất phát từ quan điểm của xã hội học pháp luật, Viện đã chủ chương xây dựng cơ sở dữ liệu thông qua việc tiến hành thực hiện Dự án điều tra cơ bản về thực trạng thi hành pháp luật ở các ngành, các lĩnh vực, các địa phương (1998 - 2000).
Xây dựng các căn cứ xã hội học cho các đề xuất khoa học đã trở thành đòi hỏi không chỉ đối với các đề tài nghiên cứu của Viện mà còn đối với các luận văn cao học và luận án tiến sĩ.
Quan điểm tiếp cận xã hội học hoàn toàn phù hợp với đòi hỏi của quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đó là đòi hỏi phải "đưa đời sống xã hội vào trong pháp luật". Khi nói về cơ chế xây dựng pháp luật, Đề án nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ (Ban hành kèm theo Quyết định số 933/QĐ - TTG ngày 27/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ) đã chỉ ra nhiều vấn đề về cơ chế đó. Theo nhận xét của Chính phủ thì cơ chế xây dựng pháp luật hiện nay của ta còn bộc lộ rất rõ nét tính chủ quan, thậm chí tính cục bộ, chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của một số ngành. Bộ, ngành nào cũng muốn kéo quyền, lợi ích và thuận lợi về phía mình. Tình hình đó đã dẫn đến việc trình và ban hành các dự án Luật, pháp lệnh, Nghị định kém chất lượng, khó đi vào cuộc sống vì nhân dân không chấp nhận; do đó, trật tự, kỷ cương trong một số lĩnh vực bị buông lỏng. Trong quy trình xây dựng các dự án, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản này chưa được xem xét như là kết quả của quá trình nắm bắt nhu cầu và thực tiễn xã hội. Các văn bản đã không được tổ chức phản biện, thiếu tính khách quan và khoa học, chưa tham khảo triệt để ý kiến của nhân dân, của các doanh nghiệp, các đoàn thể, hội nghề nghiệp cũng như ý kiến của các đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp của các dự án, dự thảo văn bản. Việc "tự biên, tự diễn" đó đã kéo dài tình trạng một số văn bản đã dành sự thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước, đùn sự khó khăn cho nhân dân, cho các doanh nghiệp.
Gần đây, Chính phủ đã có chủ trương coi việc trưng cầu ý kiến nhân dân, các đối tượng bị điều chỉnh của văn bản như là một điều kiện bắt buộc đối với quy trình soạn thảo và thông qua các dự án luật. Quy trình đó đã được sự hỗ trợ của các phương tiện điện tử, làm tăng thêm tính công khai, minh bạch của chính sách và pháp luật của Nhà nước ta.

3 Lý luận về pháp luật- những thách thức và đòi hỏi mới
Trong quá trình nghiên cứu về lý luận và xã hội học pháp luật, các nhà nghiên cứu của Viện cũng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém và thách thức của công tác nghiên cứu lý luận về pháp luật ở nước ta nói chung cũng như tại Viện nói riêng.
Toàn cầu hóa và những thách thức về phương diện pháp luật nảy sinh từ quá trình toàn cầu hóa đang đặt ra cho Việt Nam không ít bài toán cần phải giải trong mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương và giải pháp cải cách hệ thống pháp luật quốc gia. Hệ thống pháp luật nước ta được xây dựng trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc thủ tiêu cơ bản cơ chế pháp lý của thời kinh tế tập trung bao cấp, tạo lập được các cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng, so với các yêu cầu, đòi hỏi và các thách thức về phương diện luật pháp trong bối cảnh quốc tế hiện nay với các không gian pháp lý mới đang được xác lập, thì hệ thống pháp luật nước ta hiện tại vẫn còn khá bất cập, chưa đáp ứng được các "chuẩn" của hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu đánh giá một cách thật sự cầu thị cũng có thể thấy rằng, hệ thống pháp luật của chúng ta vẫn chưa tương thích với tính chất của một nền kinh tế thị trường và trên thực tế vẫn đang ở trình độ của một hệ thống pháp luật hướng tới thị trường mà thôi.
Với tinh thần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, Nhà nước ta đang tích cực cải cách pháp luật, cải cách các thể chế pháp lý để một mặt đáp ứng các yêu cầu cải cách kinh tế trong nước, mặt khác làm cho pháp luật nước ta nhanh chóng tương thích với các chuẩn mực pháp luật khu vực và quốc tế, tạo thế chủ động trong các quan hệ hợp tác quốc tế hiện nay. Để làm được việc này, đòi hỏi không chỉ ở quyết tâm chính trị trong các chủ trương cải cách pháp luật mà phải được tiến hành trên các cơ sở và luận cứ khoa học và thực tiễn đúng đắn, với một lộ trình xác định và nhất là của sự đổi mới tư duy pháp lý. Đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra và quán triệt trong giai đoạn đấu tranh loại bỏ cơ chế pháp lý của kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp, xây dựng cơ chế pháp lý cho cơ chế kinh tế mới trước đây. Ngày nay, một lần nữa nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý phải được đặt ra với tính cấp thiết mạnh mẽ hơn, kiên quyết vượt ra khỏi khuôn khổ có tính truyền thống lâu nay trong việc xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật. Cần phải thấy được rằng, sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như các vấn đề xã hội nước ta vẫn chưa thực sự đi vào thế ổn định. Sự phát triển và biến đổi nhanh chóng đời sống kinh tế xã hội trong quá trình thương mại toàn cầu đã làm cho các quy định pháp luật nước ta cũng như cả hệ thống cung cấp các dịch vụ pháp lý, các thiết chế pháp lý nhanh chóng trở nên lạc hậu. Không ít văn bản pháp luật xây dựng công phu, tốn kém, vừa ban hành chưa lâu đã có nhu cầu sửa đổi. Tình hình này đã làm cho pháp luật nước ta khó bắt kịp nhịp điệu phát triển kinh tế - xã hội và khả năng tương thích với pháp luật quốc tế và của các nước. 
Hàng loạt vấn đề mới và đang đặt ra trong hoạt động lập pháp ở nước ta cần được làm sáng tỏ và lý giải tường tận về mặt lý luận, cần phải tiến hành tổng kết thực tiễn để rút ra những kinh nghiệm khái quát góp phần hình thành mô hình pháp luật của nước ta. Tuy vậy, khoa học pháp lý nước nhà vẫn chưa đáp ứng thỏa đáng được yêu cầu đó. Mảng lý luận về xây dựng lập pháp gần đây được các nhà luật học bao gồm những nhà nghiên cứu ở Viện Nhà nước và Pháp luật và những người hoạt động thực tiễn, các nhà quản lý quan tâm nhiều hơn, song vẫn chưa thật ngang tầm với vai trò, vị trí, tính chất của nó. Ở đây, có hàng loạt vấn đề cần được lý giải về mặt khoa học như: mối quan hệ giữa hoạt động lập pháp với quyền lực của nhân dân, với việc đảm bảo các loại lợi ích trong xã hội, với dân chủ, với chiến lược kinh tế - xã hội… Việc tìm hiểu những vấn đề đó góp phần tạo dựng cơ sở khoa học vững chắc cho hoạt động lập pháp và trong chiến lược lập pháp nước nhà. Trong thực tiễn hoạt động lập pháp và áp dụng, thi hành pháp luật của nước ta, có hàng loạt vấn đề bất cập, hạn chế nảy sinh: chương trình lập pháp, kế hoạch lập pháp, quy trình lập pháp, mô hình lập pháp, dự báo lập pháp, kỹ thuật lập pháp, cơ chế thi hành pháp luật, tuyên truyền, giáo dục và đào tạo pháp luật. Đó là mặt hạn chế của khoa học pháp lý và đồng thời cũng là nhiệm vụ của khoa học pháp lý trong thời gian tới.​